SKKN kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1d học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10 - Pdf 34

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tên đề tài: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong
phạm vi 10.
Họ và tên: Trần Thị Quỳnh Mai
Đơn vị: Trường Tiểu học Phước Minh A
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ những bài học đầu tiên về phép cộng, phép trừ. Tôi nhận thấy các em
học sinh lớp 1 thường có những hạn chế sau:
+ Các em chưa nắm vững khái niệm cộng, trừ.
+ Chưa biết cách ghi nhớ bảng cộng thông qua tính chất giao hoán.
+ Chưa biết được mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ.
Vì vậy làm thế nào để giúp các em khắc phục được những hạn chế trên? Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng
và trừ trong phạm vi 10”.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
• Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng
và trừ trong phạm vi 10.
• Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, dự giờ, thực nghiệm, thống kê.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Giúp học sinh thuộc được bảng cộng và trừ trong phạm vi 10, biết tính nhẩm và
thực hiện thành thạo kĩ năng tính toán cộng, trừ trong phạm vi 10.
4. Phạm vi nghiên cứu:
• Các bài toán từ tuần 7 đến hết tuần 17
• Nghiên cứu ở lớp 1D năm học 2014- 2015
5. Hiệu quả áp dụng:

1


Qua thực tế áp dụng đề tài ở lớp 1D hầu hết các em làm toán nhanh hơn, chính

Đối tượng: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong
phạm vi 10.
4. Phạm vi nghiên cứu:
− Các bài toán từ tuần 7 đến hết tuần 17
− Nghiên cứu ở lớp 1D năm học 2014 - 2015
5. Phương pháp nghiên cứu:
− Nghiên cứu tài liệu:
Tham khảo các tài liệu liên quan đến phương pháp giảng dạy môn Toán.
Tham khảo các buổi hội thảo, chuyên đề về môn Toán do ngành tổ chức từ
năm 2002 đến nay.
− Điều tra:
Dự giờ các lớp để rút kinh nghiệm cho bản thân nhằm tìm biện pháp khả thi
nhất cho công việc giảng dạy.
Tiến hành dạy thử nghiệm cho giáo viên trong khối và Ban giám hiệu dự giờ
nhằm góp ý xây dựng đề tài hoàn chỉnh hơn.
6. Giả thuyết khoa học:
Nếu các em học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10 thì sẽ giúp cho các em
hoàn thành tốt chương trình toán lớp 1 và làm nền tảng vững chắc cho các em học
tốt môn Toán ở các lớp trên.

3


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Các văn bản chỉ đạo của Trung ương, địa phương, của ngành:
Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã có những văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo
khoa và chỉ đạo dạy học phù hợp với đối tượng học sinh ở các vùng miền khác
nhau như:

+Giáo dục học sinh tính chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú
trong học toán.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 1, tôi thấy các em còn gặp khá nhiều hạn chế
trong quá trình học toán cộng, trừ trong phạm vi 10 như sau:
5


+ Chưa biết viết phép cộng ứng với tình huống thực tế có vấn đề giải quyết
bằng phép cộng hoặc phép trừ.
+ Chưa thuộc bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10.
+ Cộng, trừ nhẩm rất chậm, vẫn còn hiện tượng xòe tay đếm từng số.
+ Chưa nhận biết mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ.
Tìm hiểu nguyên nhân tôi nhận thấy chủ yếu là do:
+ Các em chưa thực hiện được thao tác: Cộng có nghĩa là: “gộp” hai nhóm
đồ vật lại rồi đếm toàn bộ số đồ vật có trong 2 nhóm; Trừ có nghĩa là: “tách” một
nhóm đồ vật từ một tập hợp đồ vật đã cho, rồi đếm số đồ vật còn lại.
+ Chưa biết cách ghi nhớ bảng cộng và trừ trong phạm vi 10 thông qua tính
chất giao hoán của phép cộng và quan hệ giữa phép cộng và phép trừ qua các ví dụ
bằng số.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Trẻ học xong lớp 1 giai đoạn cộng và trừ trong phạm vi 10 cần đạt yêu cầu cơ
bản như sau:
− Về phép cộng các số trong phạm vi 10:
+ Biết sử dụng các thao tác để minh họa, giải thích ý nghĩa của phép cộng
(“thêm”, “gộp” ứng với phép cộng)
+ Biết viết phép cộng ứng với tình huống thực tế có vấn đề cần giải quyết
bằng phép cộng.
+ Thuộc bảng cộng trong phạm vi 10 và biết cộng nhẩm thành thạo trong

− Phép cộng trong phạm vi 3, 4, 5.
− Số 0 trong phép cộng.
− Phép trừ trong phạm vi 3, 4, 5.
− Số 0 trong phép trừ.
− Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10.
− Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10.

7


− Phép cộng có dạng 14 + 3; phép trừ có dạng 17 – 3 và 17 – 7
− Cộng, trừ các số tròn chục.
− Phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.
3.2. Giải pháp giải quyết vấn đề:
3.2.1. Giúp các em nắm vững khái niệm ban đầu về phép cộng và phép
trừ:
 Phép cộng hai số tự nhiên được hiểu như là phép hợp của hai tập hợp không
có phần tử chung. Với cách hiểu này, có thể hình thành cho học sinh khái niệm
phép cộng như sau:
Tôi hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác “gộp” hai nhóm đồ vật rồi đếm
toàn bộ số đồ vật có trong hai nhóm.
Ví dụ: Bài “Phép cộng trong phạm vi 4” Tôi cho gộp 3 que tính với 1 que tính,
nhận được 4 que tính. Ghi lại hoạt động này bằng phép cộng 3 + 1 = 4. Sau đó, để
củng cố nhận thức của học sinh, cho học sinh quan sát trên hình vẽ: mỗi nhóm vật
được tách riêng bởi một đường gạch ngang, rồi bao quanh cả hai nhóm đó bằng
một đường cong kín (hình ảnh của sơ đồ Ven).
 Ngoài ra, với ý nghĩa phép cộng hai số tự nhiên như là phép “đếm thêm” thì
có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép cộng như sau:
− Tôi yêu cầu học sinh quan sát hình vẽ trong bài: Phép cộng trong phạm vi 5
(hoặc mô hình tương ứng) để nêu thành vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn: “Có 4

phép trừ 3 – 1 = 2. Sau đó, để củng cố nhận thức, cho học sinh quan sát trên hình vẽ
trong sách giáo khoa: tập hợp đã cho được bao quanh bằng một đường cong kín ở
ngoài cùng (với nền màu xanh). Mỗi tập hợp bộ phận được bao quanh bởi một
đường cong nhỏ với nền màu trắng. Tập hợp đã cho gồm 3 chấm tròn. Các phép trừ
3 – 1 và 3 – 2 tương ứng với việc tách ra các bộ phận gồm 1 hoặc 2 chấm tròn.
Các bài toán về phép trừ với ý nghĩa “tách” thường được nêu dưới dạng sau:
Ví dụ: Trong bài Phép trừ trong phạm vi 5: Tôi đính lên bảng 5 con gà, Sau đó
tôi tách thành hai nhóm, một nhóm 4 con và một nhóm 1. Tôi hỏi: 5 gồm mấy và
mấy? Các em sẽ trả lời 5 gồm 4 và 1 hoặc 5 gồm 1 và 4. Tôi hỏi tiếp: Thế 5 con gà

9


tách đi 1 con gà còn mấy con gà? hoặc 5 con gà tách đi 4 con gà còn mấy con gà?
Các em nhìn vào vật mẫu nhanh chóng trả lời: 5 con gà tách đi 1 con gà còn 4 con
gà? hoặc 5 con gà tách đi 4 con gà còn 1 con gà? Dựa vào bài toán các em hãy viết
phép tính thích hợp. Các em sẽ viết vào bảng con 5 – 1 = 4, 5 – 4 = 1
Ngoài ra, có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép trừ như là việc “bớt
đi” như sau:
− Học sinh quan sát hình vẽ trong bài học (hoặc mô hình tương ứng) để nêu
thành vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn trong bài Phép trừ trong phạm vi 3, học
sinh quan sát hình vẽ và nêu: “Lúc đầu có 2 con ong đậu trên bông hoa, sau đó 1
con ong bay đi. Hỏi còn lại mấy con ong?”
− Học sinh tự nêu câu trả lời: “Lúc đầu có 2 con ong, một con ong bay đi, còn
lại một con ong”.
− Tôi nêu: “Hai con ong bớt (bay đi) một con ong, còn một con ong. Hai bớt
một còn một”. Tôi viết lên bảng: “Hai trừ một bằng một” và viết tiếp
2 – 1 = 1; dấu “–” gọi là “trừ”.
− Các bài toán về phép trừ với ý nghĩa “bớt” thường được nêu dưới dạng sau:
Ví dụ: Trong bài Phép trừ trong phạm vi 8: Có 8 con chim đậu trên cây, sau

cộng, kết quả đều bằng 6. Từ đó các em sẽ rút ra được tên bài học là “Phép cộng
trong phạm vi 6”
5+1=6
1+5=6
4+2=6
2+4=6
3+3=6
* Tổ chức cho học sinh học thuộc bảng cộng, trừ bằng nhiều hình thức:
- Trước hết tôi cho cá nhân đọc nối tiếp từng công thức.
- Tôi xóa bảng từng phần khuyến khích các em tái hiện từng phần công thức.

11


Sau đó xóa hết bảng yêu cầu một số học sinh đọc thuộc lòng toàn bộ công thức
trong bảng. Kế tiếp tôi cho các em thi đua nhớ và đọc theo nhóm. Cuối cùng cả
lớp đọc đồng thanh các công thức trong bảng.
- Làm các bài tập thực hành tính hoặc tổ chức các trò chơi học tập.
Thuộc lòng các bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 là một yêu cầu quan trọng. Điều
này sẽ giúp học sinh làm tính đúng trong phạm vi 10 và chuẩn bị cho học cộng,
trừ ở các vòng số sau.
Trong quá trình hình thành bảng cộng, chú ý sử dụng nhận xét về tính chất giao
hoán của phép cộng để thấy được quan hệ giữa các công thức và cách ghi nhớ các
công thức.
* Thực hành vận dụng bảng:
Thông qua các bài tập thực hành tính (theo hàng ngang hay theo cột dọc)
Trong sách giáo khoa và vở bài tập, học sinh thực hành vận dụng các công thức đã
học trong bảng. Chú ý, với các bài tập dạng tính: 3 + 2 + 1 = …, học sinh không
cần viết bước tính trung gian nhưng biết phát biểu: “3 cộng 2 bằng 5, 5 cộng 1 bằng
6, viết 6”.

- Thông qua so sánh trên các ví dụ cụ thể tôi cho học sinh nhận biết: Từ một phép
cộng ta có được hai phép trừ
Ví dụ: Nếu biết 3 + 2 = 5 thì có thể tìm ngay được là 5 – 3 = 2 và 5 – 2 = 3.
- Trong thực hành học sinh thường gặp “bộ ba” các phép tính dạng:
5+4=
9–5=
9–4=
3.3. Phương pháp dạy toán:
3.3.1. Phương pháp dạy học bài mới:
a. Giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học:
Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề.
Chẳng hạn, cùng nêu về hiện tượng có một số (một, hai) con ong bay khỏi chỗ đậu
của ba con ong. Tôi hướng dẫn HS quan sát hình vẽ (tranh, ảnh,…) trong Toán 1
hoặc sử dụng đồ dùng thích hợp để HS tự nêu ra vấn đề cần giải quyết (chẳng hạn,
có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông hoa, còn mấy con
ong đậu trên bông hoa?), rồi tự HS tham gia giải quyết vấn đề (ba con ong bớt một
con ong còn hai con ong). Thời gian đầu, Tôi hướng dẫn HS nêu và giải quyết vấn
đề. Dần dần tôi yêu cầu HS tự nêu và tự giải quyết vấn đề.
b. Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới
Có loại bài học, sau khi HS đã phát hiện và giải quyết vấn đề, tôi hình thành
kiến thức mới (chẳng hạn, tôi phải giới thiệu: ba con ong bớt một con ong còn hai
con ong; ba bớt một còn hai; ta viết 3 – 1 = 2; đọc là “ba trừ một bằng hai”; dấu –

13


gọi là “trừ”…). Có loại bài học tôi giúp HS tự nêu tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng
kiến thức mới (chẳng hạn, bài học về phép cộng trong phạm vi 8, HS quan sát hình
vẽ rồi nêu vấn đề: “Có 7 hình vuông thêm 1 hình vuông. Hỏi có tất cả mấy hình
vuông?” và giải quyết vấn đề: “7 thêm 1 thành 8”, sau đó viết 8 vào công thức

nhau trong thực hành sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới đó.
Cũng từ vật mẫu có sẵn tôi yêu cầu các em tự phát hiện và viết tiếp phép tính
thứ hai cho thích hợp là : 1+ 9= 10. Các phép tính còn lại: 8 + 2; 2 + 8; 7 + 3; 3 + 7;
6 + 4; 4 + 6; 5 + 5, tôi chỉ cần thay đổi vật mẫu cho phong phú và phù hợp với nội
dung phép tính cần hướng đến đính lên bảng, sau đó yêu cầu các em nhìn vật mẫu
viết phép tính thích hợp
d. Hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến
thức đã học:
− Huy động kiến thức đã học và vốn sống để phát hiện và chiếm lĩnh kiến
thức mới.
− Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã có.
Chẳng hạn: Khi hướng dẫn HS nhận biết khái niệm ban đầu về số 6, Tôi cho
HS quan sát tranh vẽ (mô hình) và sử dụng kiến thức đã học để nhận ra (bằng phép
đếm) rằng: có 5, đếm tiếp 1 được 6. Khi đã giới thiệu 6 cũng là đại diện cho một
lớp các nhóm đối tượng có cùng số lượng (là 6) như các số đã học trước, HS tự
nhận ra (qua phép đếm, qua phân tích số,…) 6 đứng tiếp sau 5 trong dãy số 1, 2, 3,
4, 5, 6; 6 là 5 và 1; 6 là 4 và 2; 6 là 3 và 3; nên 6 > 1; 6 > 2; 6 > 3; 6 > 4; 6 > 5; do
đó 6 là số lớn nhất trong các số từ 1 đến 6.
e. Giúp học sinh thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời,
bằng kí hiệu.
Trong quá trình dạy học Toán, tôi luôn quan tâm đến việc rèn luyện cho HS
cách diễn đạt ngắn, gọn, rõ ràng vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời hoặc
bằng kí hiệu, sơ đồ.
3.3.2. Phương pháp dạy thực hành, luyện tập:

15


Nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy thực hành, luyện tập (trong tiết dạy học bài
mới và trong tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập) là củng cố các kiến thức mà

sách (hoặc do tôi sắp xếp), không tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập nào, kể cả các
bài HS cho là dễ. (Trừ những bài có trong nội dung giảm tải)
− Tôi không để thời gian chết, HS phải chờ đợi, ngồi chơi trong thời gian các
bạn khác đang làm bài tập. HS nào đã làm xong và tự kiểm tra (hoặc giơ tay nhờ
GV kiểm tra) hoàn thành bài 1 thì nên chuyển sang làm bài tiếp sau.
Trong một tiết học phải chấp nhận có HS làm được nhiều bài tập hơn HS
khác. Tuy nhiên bên cạnh đó còn một số em làm bài chậm, rất cần sự hỗ trợ và giúp
đỡ của cô giáo. Với những em này, tôi giao bài vừa sức và đến tận nơi chỉ dẫn cho
các em.
c. Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh:
− Khi cần thiết có thể cho HS trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc toàn lớp
về cách giải hoặc nhiều cách giải một bài tập. Tôi khuyến khích HS bình luận về
cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở nhóm, ở lớp.
− Tạo sự hỗ trợ giữa các HS trong nhóm, giúp HS tự tin vào khả năng của bản
thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của mình.
d. Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành, luyện tập:
Sau mỗi lần thực hiện xong bài tập, tôi hướng dẫn HS như sau:
− Tập cho HS thói quen làm xong bài nào cũng phải tự kiểm tra lại xem có
làm nhầm, làm sai không.
− Hướng dẫn HS tự đánh giá bài làm của mình, của bạn rồi báo cho cô giáo.
− Khuyến khích HS tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn sau khi tự
kiểm tra, tự đánh giá…
e. Tập cho học sinh thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với
các cách giải đã có:
− Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập tôi luôn tạo cho HS niềm vui vì đã hoàn
thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân (bằng khuyến
khích, nêu gương …).
17



Số
Tỉ lệ
lượng
(%)
HS

Thuộc bảng
cộng, trừ
Số
lượng
HS

Tỉ lệ
(%)

Biết mối quan
hệ giữa phép
cộng và trừ
Số
Tỉ lệ
lượng
(%)
HS

Giai đoạn từ
tháng 9- tháng
12, năm học
2013 – 2014
Khi chưa áp



32

97.0

em

dụng đề tài
Giai đoạn từ

1D

tháng 9- tháng

33

12, năm

em

Năm học
2014 – 2015

18


Sau khi áp dụng
đề tài

Sau quá trình vận dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy các em có nhiều chuyển

rút được kinh nghiệm cho bản thân nên làm bài hiệu quả hơn.
− Động viên khen thưởng các em kịp thời để các em có thêm hứng thú tích cực
học tập, giúp các em tự tin, mạnh dạn phát biểu xây dựng bài.
− Tôi luôn tạo môi trường học tập gần gũi thân thiện với các em hơn. Phối hợp
chặt chẽ với phụ huynh trong việc quản lý và giám sát việc học của các em.
− Bản thân tôi không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn của mình,
luôn cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp tình hình thực tế lớp.
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Với đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ
trong phạm vi 10”
Trên phương diện là tổ trưởng tôi đã chia sẻ với các bạn trong khối và các trường
lân cận để cùng thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của môn
Toán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 1.
2. Hướng dẫn giảng dạy môn Toán của Sở Giáo dục và Đào tạo.
3. Sách giáo viên Toán 1 - Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Tài liệu hướng dẫn ôn tập và thi tốt nghiệp Toán và phương pháp giảng dạy
Toán – Đại học từ xa Huế.
5. Hỏi - Đáp về dạy học Toán 1

20


Nguyễn Áng (chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Phạm Thanh Tâm,
Nguyễn Văn Tuấn.

MỤC LỤC





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status