Tieu luan hoc thuyet KT những thành tựu và hạn chế về lý luận giá trị của các nhà kinh tế tư sản cổ điển, việc kế thừa và phát triển lý luận giá trị của c mác - Pdf 34

Tiểu luận

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Khi nước ta lựa chọn phát triển kinh tế theo định hướng XHCN
với nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, không ít quan niệm
cho rằng học thuyết về kinh tế của các nhà tư sản là để bảo vệ chế
độ, nền tảng và tư tưởng của giai cấp tư sản nên không quan tâm và
ít đi vào nghiên cứu Theo em, cách nhìn nhận như thế là phiến diện
và bảo thủ.
Thứ nhất
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu môn học lịch sử các học
thuyết kinh tế, em thấy rằng kinh tế chính trị tư sản cổ điển là tư tưởng kinh tế
của giai cấp tư sản nhưng đó là những tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sản
trong giai đoạn chống chế độ phong kiến và thiết lập phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản đang đóng vai trò cách mạng trong lịch sử, tư
tưởng của nó phản ánh sự tiến bộ chung của xã hội. Kinh tế chính trị tư sản
cổ điển là một trường phái khoa học trong lịch sử các học thuyết kinh tế.
Họ đã nghiên cứu những mối quan hệ nội tại của các quan hệ sản xuất tư
sản, nghĩa là nghiên cứu để vạch ra bản chất của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Với một hệ thống lý luận đã đặt nền móng cho khoa học kinh
tế, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của kinh tế học hiện
đại ở tất cả nước đang thực hiện nền kinh tế thị trường, trong đó có nước
ta.
Thứ hai, tuy học thuyết của họ đứng trên lập trường của giai cấp tư
sản và còn có những hạn chế nhất định, song những thành tựu mà họ đạt
được có ý nghĩa hết sức to lớn đối với các nhà nghiên cứu kinh tế sau này.
Và có thể nói, học thuyết kinh tế của các nhà tư sản cổ điển là nền tảng lý
luận để C.Mác – Ănghen và sau này là Lênin kế thừa và phát triển thành
1



2


Tiểu luận

luận giá trị của C.Mác một phần là nhờ vào sự kế thừa và phát triển của
các nhà kinh tế tư sản trước đó.
Với những ý nghĩa to lớn, và tầm quan trọng như vậy của học thuyết
kinh tế tư sản cổ điển. Đồng thời để hiểu rõ hơn, hiểu sâu hơn các phạm trù
kinh tế cũng như trang bị cho mình một tri thức căn bản về các phạm trù kinh
tế nhằm phục vụ trong công việc và trong cuộc sống nên em đã chọn đề tài:
“Các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã đưa kinh tế chính trị thành trở thành hệ
thống lý luận tương đối hoàn chỉnh” để tìm hiểu.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Hê thống lại các lý luận của các nhà kinh tế cổ điển theo một trình tự từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

3. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, nên tiểu luận chỉ bàn về các vấn đề chung nhất
trong học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế cổ điển. Nghiên cứu những phạm
trù chung nhất của nền kinh tế hàng hoá.

4. Phương pháp nghiên cứu.
-Phương pháp duy vật biện chứng va duy vật lịch sử.
-Phương pháp phân tích, so sánh.

3



4


Tiểu luận

1.2. Francois Quesnay (1694-1774).
F.Quesnay nổi tiếng với tư cách là người sáng tạo ra mô hình kinh tế đầu
tiên, tức là Biểu kinh tế, và với tư cách là người đứng đầu phái trọng nông,
trường phái tư tưởng kinh tế đầu tiên. Tuy vậy, F.Quesnay được ngưỡng mộ
vì nhiều điều khác như việc đề xuất của ông về thị trường tự do, phân tích sự
tạo thành văn hoá phân phối thặng dư kinh tế, cũng như cách nhìn nhận của
ông về nền kinh tế như là một tập hợp gắn kết chặt chẽ của các bộ phận độc
lập.
F.Quesnay sinh năm 1694 ở gần Versailles. Cha ông là một nông dân và
là chủ một cửa hàng nhỏ, vì thế ông không được giáo dục một cách chính
thống, nhưng F.Quesnay là một người rất ham mê sách .
Vào tuổi 17, ông quyết định trở thành nhà giải phẫu. Mặc dù không thích
khoá học y khoa nhưng ông vẫn tiếp tục nghiên cứu. Năm 1735, ông được
mời làm bác sỹ riêng cho công tước Villenroy. Năm 1774, ông nhận bằng tiến
sỹ y học và trở thành thành viên của Hội khoa học Pháp.
Lúc 55 tuổi, F.Quesnay trở nên quan tâm đên kinh tế học và toán học.
Với hiểu biết rộng và có nhiều mối quan hệ với những người có địa vị cao,
ông được viết một số mục trong Bách khoa thư của Diderot. Những mục đó
đã làm ông trở nên nổi tiếng và được nhiều người ủng hộ.
Chịu ảnh hưởng của các phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên,
F.Quesnay cổ vũ nhiệt thành cho trật tự tự nhiên của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở tự do cạnh tranh, không có sự can thiệp của nhà
nước. Ông có công lớn trong việc phân tích tư bản và “sản phẩm thuần tuý”
của nền kinh tế.
1.3. Adam Smith (1723-1790).

Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng của mình với lý thuyết “bàn tay vô
hình”, từ năm 1778 A.Smith từ bỏ lĩnh vực nghiên cứu kinh tế để trở về cuộc
sống của một viên chức thuế quan ơ Scotland cho đến cuối đời. Với đức tính
khiêm nhường, giản dị và giàu lòng nhân ái, A.Smith đã được nhiều người
đương thời kính phục, và yêu mến.
1.4. David Ricardo (1772-1823).
D.Ricardo sinh năm 1772 tại London trong một gia đình Do thái giàu có.
Ông được đào tạo chu đáo theo hướng kế nghiệp cha trong thế giới tài chính
6


Tiểu luận

và thương mại. Khi 14 tuổi ông vào làm trong công ty môi giới của cha, ông
nhanh chóng làm quen với hoạt động kinh doanh. Ông được xem là một nhà
đàm phán cực kỳ tài năng, và nhanh chóng thành thạo trong các hoạt động
đày khó khăn và bí ẩn như kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
D.Ricardo bị cha từ bỏ vì ông cưới một cô gái thuộc giáo pháo Quaker
và cải sang đạo Thiên chúa. Không một xu dính túi và phải đảm bảo cho cuộc
ssong gia đình,D.Ricardo chạy vạy khắp nới để vây tiền và mở một công ty
môi giới của chính ông. Dù những năm đầu đầy gian khó, nhưng sau đó
không lâu ông nhanh chóng kiếm được một tài sản lớn và trở nên độc lập về
tài chính vào tuổi 26. Điều này cho phép ông giành thời gian theo đuổi những
sở thích của ông trong lĩnh vực khoa học và tri thức. Ông thành lập một
phòng thí nghiệm, bắt đầu thu thập khoáng vật, văn hoá tham gia hội địa chất
học Anh.
Trong một kỳ nghỉ với vợ vào năm 1799, D.Ricardo ngẫu nhiên đọc
được cuốn “Của cải của các dân tộc” của A.Smith, D.Ricardo quyết định dành
thời gian rảnh rỗi cho nghiên cứu kinh tế.
Năm 1819, D.Ricardo tậu được một ghế trong hạ viện Anh. Đây là một

Tiểu luận

II. Hệ thống một số lý luận.
2.1. Lý luận về giá trị.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của khoa kinh tế chính trị và vấn đề
thuế khoá”, đại biểu nổi tiếng nhất của tư tưởng kinh tế chính trị tư sản cổ
điển D.Ricardo đã đưa ra luận điểm chung nói rằng “giá trị của hàng hoá, hay
số lượng của một hàng hoá nào đó trao đổi, là số lượng lao động tương đối
cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định chứ không phải do khoản
thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định”. Lý luận về giá trị đã
được các nhà kinh tế học trước đó nói đến và mầm mống của học thuyết giá
trị lao động bắt đầu được nêu ra trong lý thuyết của W.Petty.
Công lao to lớn của W.Petty là ở chỗ, ông là người đầu tiên nêu ra
nguyên lý giá trị lao động, nghĩa là lao động là cơ sở của giá trị. Lý luận của
ông có nhiều mâu thuẫn. W.Petty đã nêu ra ba luận điểm về giá trị . Luận
điểm thứ nhất ông cho rằng giá trị hàng hoá bằng số lượng so sánh của lao
động chứa đựng trong những hàng hoá đó. Trong luận điểm này, W.Petty đã
phân tích sự phụ thuộc giữa giá trị và năng suất lao động và rút ra rằng giá trị
tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. W.Petty nói rõ là sự khác nhau của các
loại lao động ở đây không quan hệ gì cả, chỉ tuỳ thuộc vào thời gian lao động.
Như vậy W.Petty có ý định đặt ra vấn đề lao động giản đơn và lao động phức
tạp, nhưng ông chỉ dừng lại ở đó không phân tích luận điểm đó hơn nữa.
Mặt khác ông lẫn lộn giữa giá trị và giá trị sử dụng khi đưa ra luận điểm
thứ hai cho rằng “việc đánh giá tất cả mọi vật phải được quy thành hai mẫu số
tự nhiên là đất đai và lao động, nghĩa là chúng ta phải nói: giá trị của một
chiếc thuyền hay một cái áo là ngang với giá trị của một số đất đai là bao
nhiêu đó cộng với một lượng lao động là bao nhiêu đó. Bởi vì cả hai vật đó,
thuyền và áo đều do đất đai và lao động của con người tạo ra”. Ông cho rằng
“lao động là bố là nhân tố tích cực của của cải, còn đất đai là mẹ của nó…”,


của giá trị trao đổi của mọi hàng hoá. Lao động là giá cả đầu tiên , là tổng số
tiền mua đầu tiên đã trả cho tất cả các vật phẩm. Không phải vàng và bạc mà
chính lao động là cái đầu tiên được dùng để đổi lấy tất cả của cải trên thế giới.
Đó là khái niệm đúng đắn về giá trị. Thực chất A.Smith hiểu giá trị bằng số
10


Tiểu luận

lượng lao động đã hao phí chứa đựng trong hàng hoá. A.Smith cho rằng rất
khó xác định tỉ lệ giữa những lượng lao động khác nhau, một giờ lao động
nặng nhọc có thể có giá trị bằng hai giờ lao động nhẹ, một số nghề đòi hỏi
phải đào tạo mười năm, việc tính toán sự khó khăn và dễ dàng của lao động
rất phức tạp và ông cho rằng sự cạnh tranh trên thị trường giải quyết vấn đề
đó.
Khí xác định thước đo bên ngoài của giá trị, ông đã đi đến một khái niệm
giá trị khác: giá trị bằng số lượng lao động sống mua được trong việc trao đổi
hàng hoá. Trên thực tế ông đã lấy tiền công làm thước đo các giá trị hàng hoá.
Ông cho rằng đối với người công nhân thì lúc nào và ở đâu những lượng lao
động như nhau bao giờ cũng có giá trị giống nhau. Trong cách hiểu thứ hai về
giá trị rõ ràng A.Smith đã nhầm lẫn giữa lao động sống và lao động quá khứ,
giữa số lượng lao động và giá trị lao động, A.Smith đã đem lại những khái
niệm giá trị đó áp dụng vào để giải thích việc trao đổi giữa tư bản và lao động
và thấy không còn đúng nưa vì vậy ông tuyên bố chỉ trong xã hội nguyên thuỷ
và ít phát triển, tồn tại trước khi có sự tích luỹ tư bản và sở hữu tư nhân về
ruộng đất thì hàng hoá mới được trao đổi theo chi phí đã làm ra chúng. Trong
điều kiện lao động đối lập với công nhân làm thuê thì thời gian lao động
không còn là thước đo nội tại điều tiết giá trị trao đổi của hàng hoá nữa. Như
vậy có nghĩa là A.Smith phủ nhận quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản.
Đến D.Ricardo, học thuyết giá trị của D.Ricardo mang tính khoa học và

D.Ricardo phân biệt giữa giá cả tự nhiên và giá cả thị trường, giá cả là
biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả tự nhiên là giá cả cần thiết để thường
xuyên thoả mãn số cầu, cộng với một lợi nhuận thông thường. Đây chính là
giá cả sản xuất mà sau này C.Mác nói tới.
D.Ricardo phân tích mối quan hệ giữa giá trị và năng suất lao động và
kết luận khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị giảm xuống. Khác với
A.Smith, ông cho rằng quy luật giá trị không chỉ hoạt động trong xã hội
nguyên thuỷ mà còn hoạt động trong chủ nghĩa tư bản nữa, quy luật cgiá trị
có chức năng phân phối lại lao động, quy định tỉ lệ trao đổi và điều tiết sự
hình thành giá cả. Ông phân biệt một cách rõ ràng giá trị và của cải, giá trị
không phụ thuộc vào tình hình có nhiều của cải mà phụ thuộc vào tình hình

12


Tiểu luận

sản xuất khó hay dễ, thước đo của của cải không phải là thước đo giá trị; giá
trị giảm xuống trong khi của cải tăng lên.
So với A.Smith, học thuyết giá trị của D.Ricardo triệt để hơn, hoàn thiện
hơn và trở thành nhất quán. Nhưng cũng như Smith, D.Ricardo không nghiên
cứu sâu về bản chất giá trị vịvậy ông khong nhìn thấy gính lịch sử của phạm
trù giá trị mà cho nó là phạm trù vĩnh viễn, đồng nhất với các hình thái của
nó. Ông xuất phát từ tiền đề thực tế có sẵn của chủ nghĩa tư bản cho nên ông
không nghiên cứu những tiền đề của sản xuất hàng hoá cũng như những điều
kiện tác động đến những quy luật đó. A.Smith cho rằng quy luật giá trị không
hoạt động dưới chủ nghĩa tư bản là ông đã cảm thấy một cái gì đó là cho quy
luật giá trị biến đổi. Trên thực tế, A.Smith đã cho thấy không thể dùng trực
tiếp quy luật giá trị để giải thích việc trao đổi giữa tư bản và lao động.
D.Ricardo đã có lý khi khẳng định quy luật giá trị vẫn hoạt động trong chủ

nguyên nhân làm tăng dân số”.
Theo Smith, nguyên nhân của sự khác nhau có tính chất nghề nghiệp
trong tiền công là: tính chất dễ chịu hay khó chịu của công việc; mức độ khó
khăn và đắt đỏ trong việc dạy nghề; tính chất thường xuyên hay không thường
xuyên của công viêc; mức độ tín nhiệm; khả năng thành đạt. Tiền công cao
hơn ở những ngành mới của công nghiệp và thương nghiệp. Nó khác nhau
giữa các ngành và các địa phương.
Ông nhận xét rằng, thông thường, thông thường tiền công và lợi nhuận
không đồng thời tăng lên, công nhân muốn lĩnh được càng nhiều càng tốt, còn
tư bản trả càng ít càng hay. Ông phân biệt rõ tiền công danh nghĩa và tiền
công thực tế, nhu cầu về lao động và giá cả thông thường hay trung bình của
lương thực quyết định mức tiên công. Nhu cầu về lao động quyết định mức tư
liệu sinh hoạt, còn giá cả lương thực quyết định “giá cả bằng tiền của lao
động”.
Ở một chỗ khác ông coi giá trị và giá cả sản xuất là một, cho nên tiền
công tăng làm cho giá cả tăng. Tiền công là nguồn gốc của giá trị trao đổi.
Sự phân tích tiền công của A.Smith đã tiến những bước dài so với phái
trọng nông. Ở pháo trọng nông lợi nhuận và tiền công còn nhập thành một. Ở
Smith tình công và lợi nhuận được hình thành khác nhau, có nguyên tắc khác
nhau và quy luật vận động khác nhau. Trong khi phân tích về tiền công ông
14


Tiểu luận

đã coi quy luật nhân khẩu của con người cũng như quy luật nhân khẩu của
loài vật. Quan điểm này về sau được các nhà kinh tế chính trị tầm thường kế
thừa và phát triển. Ở tiền lương nó phản ánh tầm nhìn chung của trường phái
tư sản cổ điển là coi chủ nghĩa tư bản tồn tại một cách vĩnh viễn.
Cũng như những người đi trước, D.Ricardo không phân biệt hàng hoá

Các nhà kinh tế học tư sản cổ điển chưa phân biệt được lợi nhuận với giá
trị thặng dư. A.Smith thì cho rằng lợi nhuân là một trong ba nguồn gốc cấu
thành nên thu nhập xã hội. Khi nghiên cứu về nguồn gốc giá trị thặng dư,
Smith coi lơi nhuận lợi tức địa tô là những khoản khấu trừ vào lao động của
công nhân làm thuê. D.Ricardo không hề quan tâm đến điều đó, ông xuât phát
từ cái có sẵn, hiện đang tồn tại và không biến đổi về chất, coi ngày lao động là
bất biến, vấn đề chỉ là phân chia cái có sẵn đó. Ông xuất phát từ giả thuyết
cho rằng giá cả lúa mì và giá cả hàng hoá công nghiệp không thay đổi do dó
dẫn đến kết luận là lợi nhuận cao hay thấp là tuỳ theo tiền công thấp hay cao
Đây là luận điểm nổi tiếng của ông . Về cơ bản ông đã nhận xét đúng tính đối
lập trong sự vận động lên xuống của tiền công và lợi nhuận. D.Ricardo tin
rằng, ông đã vạch ra được cái cơ sở kinh tế của quan hệ giữa giai cấp tư sản
và vô sản. Nhưng công thức của ông chỉ đúng trong trường hợp ngày lao động
là bất biến và coi lợi nhuận là giá trị thặng dư. Bởi những giả thiết đó quy luật
của ông không còn đúng nữa. Về thực chất ông đã đi đến phân tích về giá trị
thặng dư tương dôi. C.Mác đánh giá rất đúng rằng, sự phân tích tiền công
tương đối là một công lao khoa học của D.Ricardo. Trong những trường hợp
cá biệt, D.Ricardo cũng phân biệt lợi nhuận và giá trị thặng dư, còn nhìn
chung ông lẫn lộn giữa hai cái đó. Sự trừu tượng của ông không đủ sâu,
không thể gạt lợi nhuận để nghiên cứu riêng về giá trị thặng dư được.
Khi nghiên cứu về lợi nhuận, A.Smith cũng đã nhìn thấy xu hướng bình
quân hoá tỉ suất lợi nhuận và cho rằng cạnh tranh đã tạo ra bình quân hoá lợi
nhuận. Ông cho rằng lợi nhuận cao hơn ở nhưng nước nghèo, còn lợi nhuận
thấp ở những nước giàu. Các tư bản lớn thu được lợi nhuận lớn nhưng với tỉ
suất nhỏ. Ông tỏ ra lo ngại với xu hướng giảm sút của tỉ suất lợi nhuận. Theo
ông chính độc quyền đã làm kìm hãm sự bình quân hoá của tỉ suất lợi nhuận.
Ông còn cho rằng lợi nhuận không những khác tiền công về nguyên tắc mà

16


bản ngày càng tăng và kèm theo là sự cạnh tranh tăng lên giữa các tư bản.
D.Ricardo vạch ra sự cạnh tranh giữa các ngành có thể san bằng lợi nhuận
17


Tiểu luận

trong các ngành chứ không làm tỉ suất lợi nhuận giảm xuống, do giá trị các
vật phẩm tiêu dùng của công nhân tăng lên làm tiền lương tăng lên và dẫn đến
tỉ suất lợi nhận giảm xuống. Giá trị của các vật phẩm tiêu dùng của công nhân
tăng lên là vì gía trị nông phẩm ngày càng cao do canh tác ở đất đai ngày càng
kếm mày mỡ làm cho tỉ suất địa tô không ngừng tăng lên.
2.4. Lý luận về địa tô.
Người đặt nền mống cho kinh tế học tư sản cổ điển W.Petty cho rằng địa
tô là một khoản thặng ra do nhà kinh doanh bòn rút được ngoài số thời gian
lao động tất yếu, địa tô ngang với sản phẩm thặng dư, trong đó lao động thặng
dư được vật thể hoá. Địa tô còn bao gồm cả lợi nhuận, lợi nhuận chưa tách
khỏi địa tô. Không chỉ có W.Petty mà phái trọng nông sau này cũng đồng
nhất giá trị thặng dư với địa tô.
Trong học thuyết của A.Smith, cũng như lợi nhuận, địa tô được ông coi
là một khoản khấu trừ đầu tiên vào kết quả lao động của người công nhân,
nhưng ở chỗ khác ông lại cho rằng địa tô là món tiền trả về việc sự dụng đát
đai và lệ thuộc vào mức phù nhiều chủ khoàng đấtư liệu Bản thaan đất đai
sinh ra nhiều hơn số cần thiết để nuôi dưỡng lao động, số dư ra đó là địa tô.
Ông phân địa tô phụ thuộc vào độ màu mỡ và địa tô phụ thuộc vào vị trí
của đất đai. Địa tô và lợi nhuận thu được trên đất đai sản xuất nông nghiệp
bao giờ cũng quy định địa tô và lợi nhận trên các đất đai khác. Hình như
những sản phẩm là lương thực bao giờ cũng đem lại số địa tô còn các sản
phẩm khác thì tuỳ theo, thậm chí không có địa tô. Hơn nữa thức ăn không chỉ
là nguồn gốc đầu tiên của địa tô mà tất cả các sản phảm khác đều nhận được

thừa nhận sự quan tâm xa xôi của chúng đối với sự tiến bộ của nông nghiệp.
Tính chất cấp tiến của ông tỏ ra hết sức không vững vàng. Tính chất tư sản
trong thế giới quan của D.Ricardo đặc biệt lõ rõ trong lời khẳng định rằng sản
phẩm thặng dư dưới hình thái lợi nhuận sẽ đem lại một hiệu quả kinh tế lớn
hơn là dưới hình thái địa tô. Ở đây, ông đã thể hiện những nguyện vọng thầm
kín của giai cấp tư sản Anh muốn chiếm tất cả những nguồn gốc thu nhập tư
bản chủ nghĩa, mơ tưởng đến việc chiếm đoạt toàn bộ khối lượng giá trị thặng
dư.
2.5. Lý luận về tiền tệ.

19


Tiểu luận

Lý luận về tiền tệ đã được nhiều học giả tư sản cổ điển nói đến, nhưng
người nói đầy đủ hơn cả là D.Ricardo, ông là người rất sành về tiền tệ và lưu
thông tiền tệ. Thực tiễn hoạt động giao dịch của ông và những sự nghiên cứu
lý luận của ông đã trực tiếp gẵn liền với nhau, làm phong phú cho nhau.
Chúng ta có đủ cơ sở để khẳng định rằng về vấn đề lưu thông tiền tệ,
D.Ricardo đã đưa ra nhiềuluận điểm đúng đắn. Trong tất cả những tác phẩm
của ông đều nhấn mạnh rằng vàng và bạc là hàng hóa, cógía trị riêng của
chúng, giá trị này do những chi phí lao độngdùng để khai thác và vận chuyển
chúng quyết định. Ông đã chỉ rõ bản chất hàng hoá của tiền và sự phụ thuộc
của tiền vào quy luật giá trị. Đồng thời ông đã phát triển một cách tỉ mỉ và rõ
ràng cái tư tưởng về tính quy luật của số lượng tiền trong lưu thông. Tư tưởng
đó đã được W.Petty nói đến rồi và đã được phái trọng nông và A.Smith nêu
ra.
Những nhận xét về tiền của A.Smith cũng rất độc đáo. Ông cho rằng sự
xuất hiện của tiền không phải do một cá nhân nào hay một sự thoả thuận nào

những luận điểm rất nhạt nhẽo phản ánh một cách rõ rệt tính chát hạn chế của
chủ nghĩa tự do tư sản.
Theo tinh thần của chủ nghĩa tự do tư sản, ông đã nêu ra bốn nguyên tắc
nổi tiếng của ông dể thu bất cư một thứ thuế nào. Theo những nguyên tắc đó,
thì các thần dân của vua phải tham gia vào việc nuôi chính phủ “tuỳ theo khả
năng và sức lực của mình”, phần thuế của mỗi người đóng góp phải được quy
định một cách chính xác, chỉ được thu vào thời gian thuận lợi và theo một
phương thức thích hợp với người đóng , với những chi phí ít nhất đối với nhà
nước. Sau đó căn cứ cào những yêu sách của các nguyên tắc ấy, ông phân tích
các thứ thuế khác nhau.
Bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản, A.Smith khẳng định rằng cái gọi là lợi
nhuận doanh nghiệp hay bộ phận lợi nhuận phụ thêm ngoài số lợi tức của tư
bản “không thể bị đánh thuế một cách trực tiếp. Bộ phận đó là một phần
thưởng và trong phần lớn các trưòng hợp, nó chỉ là một phần thưởng rất phải
chăng cho những sự nguy hiểm va cho lao động khi đầu tư tư bản”.
A.Smith tỏ ra không hoan nghênh các thứ thuế đánh vào tiền công, vì
những thứ thuế này “sẽ chỉ có hậu quả là làm tăng tiền công lên so với một số
vượt quá bản thân những thứ thuế đó một ít”, nếu nhu cầu vềlao động và giá
21


Tiểu luận

cả lương thực vẫn như cũ. Do đó, chủ công trường thủ công sẽ phải trả số
thuế đó, hắn sẽ lại chuyển sang cho những người tiêu dùng chịu bằng cách
nâng cao giá các sản phẩm để cứu vãn mức lưọi nhuân cần thiết. Ông coi thuế
đánh vào tiền công của công nhân nông nghiệp là vô lý và làm cho họ phá
sản, vì họ không thể tăng giá cả “sản phẩm sống của đất đai”.
A.Smith coi thuế đánh vào những vật phẩm thiết yếu ngang với thuế trực
tiếp đánh vào tiền công, nhưng ông có thái độ khác hẳn đối với thuế đánh vào

tán thành chế độ đó, “ông cho rằng với việc thủ tiêu quốc trái người ta không
thể tăng thêm thu nhập, cũng không thể giảm bớt các khoản chi”, mà chuyển
“gánh nặng quốc gia” từ vai một giai cấp này sang vai một giai cấp khác, chứ
không phải là làm giảm nhẹ gánh nặng đó.
Câu kết luận có tính chất tổng kết về thuế của D.Ricardo nói rằng “nếu
thuế có tính chất phổ biến và đụng chạm đến lợi nhuận của các chủ xưởng và
lợi nhuận củ người fermier một cách giống nhau, thì nó sẽ không ảnh hưỏng
gì đến giá cả của các hàng hoá và nguyên vật liệu, mà trực tiếp và cuối cùng
sẽ rơi vào người sản xuất”. Kết luận này đã bổ khuyết một cách triệt để cho
học thuyết của A.Smith về việc đánh thuế lại.
2.7. Lý luận về tư bản.
Trường phái trọng thương và phái trọng nông cũng đã quan tâm và giải
thích về tư bản trong giới hạn tầm nhìn của họ, nhưng họ không cho đó là vấn
đề lý luận và không phát triển nó.
Đến A.Smith vấn đề đó trở thành vấn đề trong học thuyết của ông và ông
đã phát triển lý luận này một cách có hệ thống. Phái trọng thương cho rằng tư
bản là tiền, còn F.Quesnay coi đó là tiền ứng trước. Nếu phái trọng thương chỉ
biết tư bản trong lưu thông thì phải trọng nông chỉ thừa nhận tư bản trong lĩnh
vực nông nghiệp. A.Smith đã khắc phục những hạn chế của người đi trước,
ông đã làm cho khái niệm tư bản trở nên phổ biến hơn. Theo những dự trữ là
tư bản. Tư bản không phải là tiền, không phải là của cải nói chung mà chỉ có
một bộ phận tài sản, những dự trữ do con người mang lại lợi nhuận mới là tư
bản. Tư bản là bộ phận dự trữ mà nhờ đó con người mong nhận được thu
nhập, còn bộ phận kia (nghĩa là ngoài tư bản) hình thành quỹ tiêu dùng cá
nhân.

23


Tiểu luận

24


Tiểu luận

điều mới trong việc giải quyết những vấn đề lý luận của chủ nghĩa tư bản.
Ông đã phân tích một cách sâu sắc các quá trình phân phối và đã nêu rất nổi
bật các mâu thuẫn các giai cấp.
Những công trình nghiên cứu của ông về những vấn đề đó tỏ ra phiến
diện. Những vấn đề của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không được đề cập
đến, việc bóc lột công nhân và sản xuất ra giá trị thặng dư không được nghiên
cứu riêng. Trong quan niệm về tư bản, ông vẫn đứng trên lập trường của
A.Smith và chỉ nói rõ thêm vài quan điểm mà thôi.
2.8. Lý luận tự do thương mại và ngoại thương.
Theo A.Smith, xã hội là sự liên minh những quan hệ trao đổi, thiên
hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người. Chỉ có trao đổi và thông qua
việc thực hiện những quan hệ trao đổi thì như cầu của người ta mới được thoả
mãn. Khi tiến hành trao đổi sản phẩm lao động của nhau cho cho nhau thì
người rta bị chi phối bới lợi ích cá nhân của mình. Mỗi người chỉ biết tư lợi
và chạy theo tư lợi. Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp chi phối người ta
hoạt động trao đổi. Nhưng khi chạy theo tư lợi thì “con người kinh tế” chịu
sự tác động của “bàn tay vô hình”. Với sự tác động này, con người vừa đáp
ứng lợi ích cá nhân và vừa đáp ứng lợi ích chung của xã hội.
Trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa, các nhà trọng
thương chủ trương đưa ra chính sách là Nhà nước phải tác động vào nền kinh
tế thông qua các chính sách thuế quan bảo hộ, kiểm soát nhập khẩu thúc đẩy
xuất khẩu.
A.Smith cho rằng trong thương mại quốc tế, một quốc gia chỉ được lợi
khi mà quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối về một hàng hoá nào đó. D.Ricardo đã
bổ sung thêm luận điểm này và đưa ra thuyết lợi thế so sánh. Ông cho rằng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status