Giới thiệu bảng cân đối liên ngành năm 2012 và một số ứng dụng trong phân tích kinh tế - Pdf 34

Giới thiệu bảng cân đối liên ngành năm 2012 và
một số ứng dụng trong phân tích kinh tế
Thứ sáu, 17 Tháng 7 2015 13:13 Đoàn Dũng
Năm 2013 Tổng cục Thống kê đã tổ chức điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành (I/O) và biên soạn
hệ số chi phí trung gian cho năm 2012. Bảng I/O năm 2012 được lập trên nền ma trận nguồn và ma trận sử dụng
(Bảng SUT) với kích cỡ 164 ngành sản phẩm và 164 ngành kinh tế. Bảng SUT là bước trung gian để lập bảng I/O và
bảng I/O năm 2012 cũng có kích cỡ 164x164 ngành sản phẩm.

I. Phương pháp chuyển đổi từ SUT sang I/O
Trước hết xin giới thiệu về bảng SUT và quá trình chuyển đổi từ bảng SUT thành bảng
I/O ở Việt Nam.
1. Bảng SUT
Đơn vị điều tra để lập bảng I/O là đơn vị cơ sở. Đơn vị cơ sở là đơn vị chỉ tiến hành một
loại hoạt động sản xuất tại một địa điểm nhất định. Khi một đơn vị sản xuất ra nhiều sản
phẩm khác ngoài sản phẩm chính (thường giá trị từng sản phẩm này nhỏ hơn giá trị
sản phẩm chính) thì các sản phẩm khác này được phân chia về các đơn vị cơ sở hoạt
động tương ứng.
MA TRẬN NGUỒN mô tả sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất trong nước theo giá cơ
bản. Hàng của ma trận thể hiện ngành kinh tế, bao gồm các hoạt động sản xuất chính
và sản xuất khác. Cột của ma trận thể hiện ngành sản phẩm, gồm loại sản phẩm vật
chất và dịch vụ do các ngành kinh tế tương ứng sản xuất ra. Trong thực tế phần lớn
các đơn vị cơ sở, ngoài sản xuất chính còn tiến hành các hoạt động sản xuất khác
(hoạt động phụ). Vì vậy đối với ma trận nguồn các phần tử nằm trên đường chéo là sản
phẩm chính, các phần tử nằm ngoài đường chéo là sản phẩm phụ của các ngành kinh
tế (trong trường hợp này ma trận nguồn là ma trận vuông).
Ký hiệu ma trận nguồn là S, ta có S*I=XA và I*S=Xc,
Trong đó: I là véc tơ đơn vị; XA là véc tơ giá trị sản xuất trong nước theo giá cơ bản
theo ngành kinh tế; Xc là véc tơ giá trị sản xuất trong nước theo giá cơ bản theo ngành
sản phẩm.
MA TRẬN SỬ DỤNG mô tả chi phí trung gian theo cột và nhu cầu trung gian theo dòng,
đó là những sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng làm đầu vào cho sản xuất, được tính

Dưới đây là mô tả về Bảng nguồn và sử dụng

Ngành Ngành
kinh tế sản
phẩm
Ngành
S
kinh tế
Ngành
U
Y
sản
phẩm
V
TD
TT
TP
M
XA
XCP

XA
XCP

2. Phương pháp chuyển đổi từ SUT sang I/O
Bước 1: Chuyển ma trận sử dụng theo giá sử dụng sang giá cơ bản (bởi vì ma trận
nguồn đã theo giá cơ bản).


Bước 2: Chuyển đổi ma trận nguồn và ma trận sử dụng thành bảng I/O.


(1)

U=B* 12XA">

(2)

Với S’ là ma trận chuyển vị của ma trận S; 12XA"> là ma trận đường chéo, các phần tử
trên đường chéo là phần tử của véc tơ XA; C là ma trận hệ số của ma trận nguồn; B là
ma trận hệ số của ma trận sử dụng.
Ta có: XC=B* 12XA"> +Y

(3)

Từ (1) có thể có
*I= XA và từ (4) và (5) có:
XC=B* C-1* XC+Y
Và XC=(I-B*C-1)-1*Y

(6)

Và XA=(I-C-1*B)-1* C-1*Y

(7)

B*C-1 là ma trận hệ số chi phí trực tiếp (A C=B*C-1) dạng ngành sản phẩm x ngành sản
phẩm. C-1B là ma trận hệ số chi phí trực tiếp (A I=C-1B) dạng ngành kinh tế x ngành kinh
tế.
Qua đó có thể viết lại dưới dạng ma trận tổng quát sau:
12(I-C-1*B)-100(I-B*C-1)-1XC-1*YY=XAXC">

(8)

Ma trận nguồn và ma trận sử dụng năm 2012 là ma trận vuông, song ma trận này của năm 2007 không vuông. Nếu
trong trường hợp ma trận nguồn và ma trận sử dụng không vuông (tức là số dòng và cột trong bảng SUT khác nhau)
thì việc chuyển đổi SUT sang I/O bằng cách tách ma trận nguồn (không vuông) thành 4 bảng với đường chéo là ma
trận vuông và áp dụng phương trình (6) như sau:

A*C=B

(9)

((dòng sản phẩm x cột sản phẩm) x (dòng sản phẩm x cột ngành kinh tế)=(dòng sản



Trong đó 12A11"> , 12A22"> , 12C1"> , 12C2"> , 12B11"> và 12B22"> là những ma
trận vuông. Do ma trận nguồn gồm sản phẩm chính và sản phẩm phụ nên việc lựa
chọn phải đảm bảo chỉ tồn tại 2 ma trận con nằm trên đường chéo của ma trận này. Từ
phương trình (10) có 4 phương trình khác như sau:
A11*C1=B11 12⇒"> A11=B11*C1-1 (11)
A12*C2=B12 12⇒"> A12=B12*C2-1 (12)
A21*C1=B21 12⇒"> A21=B21*C1-1 (13)
A22*C2=B22 12⇒"> A22=B22*C2-1 (14)
3. Bảng I/O
Bảng I/O năm 2012 được lập theo 3 loại giá: Giá người sử dụng, giá sản xuất và giá cơ
bản. Bảng I/O theo giá cơ bản cung cấp giá trị thuần khiết theo hàng, phản ánh thu
nhập từ người lao động và từ vốn góp, dùng trong phân tích đầu vào, đầu ra. Mặc dù
bảng SUT có một số tác dụng (như một bước trung gian để lập bảng I/O; để cân đối và
hiệu chỉnh các chỉ tiêu cân đối kinh tế vĩ mô như GDP, tiêu dùng cuối cùng (TDCC), tích
lũy tài sản (TLTS), xuất nhập khẩu (XNK); sử dụng cho việc ước tính chỉ tiêu VA, GDP
quý và năm; để chuyển đổi GO theo ngành kinh tế về theo ngành sản phẩm và để tính
chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh), song không thể thay thế bảng I/O vì bảng
I/O có vai trò rất quan trọng trong phân tích kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam một số mô hình
kinh tế sử dụng phân tích bảng I/O để đánh giá tác động trực tiếp, gián tiếp lên quá
trình sản xuất bởi yếu tố ngoại sinh, tức là thay đổi do yếu tố bên ngoài đối với nhu cầu
cuối cùng, hoặc sử dụng bảng I/O như một công cụ trong tái cấu trúc các ngành kinh tế
(Xem bài tham luận của chuyên gia kinh tế Nguyễn Phương Thảo về sử dụng mô hình
cân đối liên ngành trong việc lựa chọn ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam)…
II. Nguồn thông tin để lập bảng I/O năm 2012
Cuộc điều tra thu thập thông tin lập bảng I/O và birn soạn hệ số chi phí trung gian năm

2. Phiếu thu thập thông tin về kết quả và chi phí hoạt động SXKD năm 2012 của các
loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã (trừ tổ chức tín dụng và doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực sự nghiệp);
3. Phiếu thu thập thông tin về chi phí hoạt động năm 2012 của các doanh nghiệp bảo
hiểm, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp;
4. Phiếu thu thập thông tin về chi phí hoạt động năm 2012 của các cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp;
5. Phiếu thu thập thông tin về tổng thu và chi phí sản xuất kinh doanh chính năm 2012
của các cơ sở/hộ sản xuất kinh doanh cá thể;
6. Phiếu thu thập thông tin chi tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư năm 2012.
Trong điều tra, Tổng cục Thống kê đã sử dụng các bảng phân loại, danh mục sau:
1. Bảng Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam năm 2007;
2. Bảng Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam năm 2010;


3. Bảng danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu;
4. Bảng danh mục thuế suất hàng nhập khẩu;
5. Bảng danh mục thuế suất VAT;
6. Danh mục đơn vị hành chính Việt Nam;
7. Khung thời gian sử dụng các loại tài sản cố định (Ban hành kèm theo Quyết định số
206/2003/QĐ-BTC, ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
Dưới đây là một số nguồn thông tin quan trọng đã được thu thập và xử lý trong
quá trình lập bảng SUT và I/O năm 2012:
1. Thuế sản xuất và trợ cấp

Thuế sản xuất và trợ cấp được tách riêng thành thuế sản phẩm, thuế sản xuất khác và
trợ cấp nhằm tính toán giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm theo giá cơ bản và giá sản
xuất.
Việc xác định tỷ lệ thuế dựa vào điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành
(I/O), thông tin về tổng giá trị thuế sản xuất và trợ cấp sản xuất từ báo cáo thu chi ngân

III. Một số nhận xét diễn biến kinh tế vĩ mô thông qua các bảng I/O
1. Diễn biến cung và cầu
Bảng 1: Diến biến cung và cầu của các năm 2000, 2007 và năm 2012
Đơn vị tính: Tỷ đồng, %

Nguồn số liệu: Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia, Tổng cục Thống kê.
Thời kỳ 2000 – 2007, nền kinh tế Việt Nam hướng về xuất, nhập khẩu với tỷ trọng xuất,
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ trong tổng cung gia tăng liên tục (xuất khẩu từ 18,78%
năm 2000 tăng lên 20,73% năm 2007; nhập khẩu từ 19,62% năm 2000 tăng lên
24,69% năm 2007), đến năm 2012 tỷ trọng này đối với xuất khẩu tiếp tục tăng lên
22,44%, song đối với nhập khẩu giảm xuống còn 20,88%. Cùng với tiêu dùng trung
gian (tỷ trọng tiêu dùng trung gian trong tổng cung đến năm 2012 tăng 7,3 điểm phần
trăm so với năm 2000, từ 43,56% năm 2000 lên 50,81% năm 2012) xuất khẩu đã kích
thích nhập khẩu tăng (tính theo giá so sánh 2010, nhập khẩu năm 2000 tăng 10,01% so
với năm 1999, đến năm 2007 tăng lên 27,63%; song năm 2012 so với năm 2011 mức


tăng chững lại, chỉ còn 9,10%). Nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất (trong đó cho cả
sản xuất hàng nhập khẩu) có nguồn gốc từ nước ngoài rất lớn, vì vậy càng đẩy mạnh
xuất khẩu, càng phải tăng cường nhập khẩu, càng gia tăng mức độ phụ thuộc vào thị
trường và giá cả của bên ngoài. Chính sách phát triển kinh tế hướng mạnh vào xuất
khẩu (trợ cấp xuất khẩu, ưu đãi tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, ưu đãi về thuế đối với hàng
xuất khẩu,…) đã lấn át, chi phối “chiến lược phát triển thị trường nội địa” làm cho người
sản xuất (các doanh nghiệp) không quan tâm đến thị trường trong nước, đến nhu cầu
của người tiêu dùng trong nước. Xuất khẩu là một trong những nguyên nhân gây nên
tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài từ năm 2000 đến năm 2007, song đến năm
2012 bắt đầu có xuất siêu. Có thể nói “hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu của ta
trong thời gian này không những không được cải thiện mà còn giảm sút trầm trọng”
(xem bài tham luận về “ Một số phân tích ảnh hưởng của nhân tố cầu trong nước đến
sản lượng, giá trị tăng thêm và nhập khẩu”).

dầu mỏ, than và các sản phẩm từ than cốc; cao su và các sản phẩm bằng nhựa; máy
móc thiết bị đồ dùng và các phụ kiện của chúng; các sản phẩm công nghiệp chế biến,
chế tạo khác… đều tăng; có sản phẩm tăng khá. Năm 2012 tỷ trọng sản phẩm ngành


xây dựng giảm sút nghiêm trọng so với năm 2000 và năm 2007, tương tự như vậy là
thương mại bán buôn, bán lẻ; bên cạnh đó các sản phẩm vận tải và viễn thông tăng
khá;...
2. Cấu trúc chi phí

Cấu trúc chi phí bao gồm chi phí trung gian và giá trị tăng thêm. Bảng 3 cho phép so
sánh cấu trúc đầu vào của một số ngành sản phẩm của năm 2012 so với các năm
2007, 2000. Chi phí trung gian năm 2012 tăng lên đáng kể so với năm 2007 và 2000
(Tỷ lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất năm 2000 là 54,2%, năm 2007 là 61,2% và
năm 2012 là 64,22%; năm 2012 tăng 18,5 điểm phần trăm so với năm 2000). Trong
năm 2000, lượng sản phẩm mà các ngành dùng làm đầu vào trung gian có giá trị là
0,54 nghìn đồng bình quân trên 1000 đồng sản phẩm đầu ra, năm 2007 là 0,61 nghìn
đồng và năm 2012 là 0,64 nghìn đồng. Hệ số này tăng ở nhiều ngành sản phẩm như
cây trồng, gia súc, gia cầm và dịch vụ nông nghiệp, quặng kim loại và khoáng sản phi
kim loại, các sản phẩm từ gỗ và giấy, vận tải và viễn thông,… song lại giảm ở các
ngành vải dệt, hàng dệt may và các sản phẩm làm bằng da, điện và nước, xây dựng,
thương mại bán buôn và bán lẻ.


Nguồn số liệu: Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia, Tổng cục Thống kê.
4. Cấu trúc tổng cầu

Tổng cầu bao gồm nhu cầu trung gian và nhu cầu cuối cùng (còn gọi là sử dụng cuối
cùng). Nhu cầu trung gian là nhu cầu về sản phẩm vật chất và dịch vụ của từng ngành
sử dụng trong quá trình sản xuất. Nhu cầu cuối cùng bao gồm TDCC, tổng tích lũy tài

cuối
cùng
Tổng
tích lũy
tài sản
Xuất
khẩu
Tổng
số

2012 2007 2000

38,86 39,89 48,04

15,53 21,43 18,68
45,61 38,68 33,28
100.0 100.0 100.0
0
0
0

Nguồn số liệu: Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia, Tổng cục Thống kê.
Những phát hiện chính trên cơ sở so sánh bảng I/O năm 2012 so với các bảng I/O năm
2007 và năm 2000 còn cho thấy các ngành có mối liên quan chặt chẽ với nhau, một số
ngành phụ thuộc nhiều vào các ngành khác trong khi đó một số ngành khác chỉ phụ
thuộc vào một số ít hơn ngành còn lại, dẫn đến sự thay đổi một số ngành sẽ có ảnh
hưởng đến nền kinh tế hơn các ngành khác. Các phân tích I/O còn dựa trên các liên
kết ngược ( backward linkages) và liên kết xuôi (forward linkages), các liên kết này là
các công cụ đo lường mối liên hệ của một số ngành với các ngành khác , với vai trò
một ngành sử dụng đầu vào hay ngành cung cấp đầu vào (xem các bài tham luận của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status