LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề
mà mọi quốc gia trên thế giới đều gặp phải. Ngay cả một cường
quốc kinh tế như Mỹ cũng phải đau đầu và vật lộn với vấn đề
này, và tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ. Việc xử lí thâm
hụt ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không
chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến
sự bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu
có những biến động lớn như: giá xăng dầu tăng cao, khủng
hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước
trên thế giới…thì việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt
ngân sách ở các quốc gia trên thế giới nói chung và ở tại Việt
Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết. Ở nước ta, mức
độ thâm hụt ngân sách đang ngày càng gia tăng và ngày càng
tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ
nền kinh tế. Đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng
hoảng kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ
trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ.
Vậy thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam, nguyên nhân, hậu quả,
mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế và giải pháp khắc
phục thâm hụt ngân sách như thế nào sẽ được đề cập trong bài thảo luận của
nhóm 10 dưới đây.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách nhà nước
1.1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
khoản chi ngân sách Nhà nước bao gồm:
- Các khoản chi đầu tư phát triển
- Các khoản chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội
- Các khoản chi cho quỹ bổ sung dự trữ tài chính
1.2. Thâm hụt ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái niệm thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà
nước) là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn
3
hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân
sách.
1.2.2. Cách tính thâm hụt ngân sách nhà nước
Ta có các khoản thu và chi của Nhà nước như sau:
- Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí) (A)
- Thu về vốn (bán tài sản nhà nước) (B)
- Bù đắp thâm hụt (C)
- Chi thường xuyên (D)
- Chi đầu tư (E)
- Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc) (F)
Trong đó: A + B +C = D + E + F.
Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ như sau:
Thâm hụt NSNN = Tổng thu – Tổng chi = ( A + B ) – (
D+E+F)=C
1.2.3. Phân loại thâm hụt ngân sách
- Thâm hụt ngân sách thực tế: là thâm hụt khi số chi thực
tế vượt số thu thực tế trong thời kì nhất định.
giảm dần; khu vực nông nghiệp và dịch vụ giữ được đà tăng
trưởng khá; tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an
ninh được giữ vững, công tác an sinh xã hội được quan tâm giải
quyết.
Nguồn: Niên giám thống kê qua các thời kỳ. Số liệu 2012 theo
Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát
triển KT-XH năm 2012 và tình hình triển khai kế hoạch phát
6
triển kinh tế -xã hội năm 2013 của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 5
Quốc hội Khoá XIII (tháng 5/2013)
Bước sang năm 2013, kinh tế Việt Nam tuy vẫn chưa thoát
khỏi vùng đáy nhưng kinh tế Việt Nam đã có những chuyển
biến tích cực. GDP năm 2013 tăng cao hơn năm 2012 cho thấy
những nỗ lực của chính phủ để đưa nền kinh tế Việt Nam thoát
khỏi vùng đáy, hứa hẹn cho một giai đoạn nền kinh tế tăng
trưởng chậm nhưng bền vững.
Kết thúc năm 2013, tăng trưởng GDP đạt 5,42% thấp hơn
mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng mức tăng trương nay cao hơn
so với năm 2012. Mặc dù tăng trưởng GDP dưới 6% nhưng tín
hiệu phục hồi đã xuất hiện. Cụ thể tốc độ tăng GDP từng quý đã
được cải thiện (quý I đạt 4,6%, quý II đạt 5%, quý III đạt 5,54%,
quý IV đạt 6,04%). Chỉ số lạm phát chỉ đạt 6,04%, mức tăng
thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Nghịch lý là chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) năm 2013 nằm ở mức tăng mạnh vào quý III và giảm
rất nhanh trong quý IV. Cả năm 2013 chỉ số giá tiêu dùng chỉ
đạt 6,04% so với năm 2012 và tháng có CPI cao nhất là tháng
THU NGÂN
SÁCH
1
Tổng thu
2
3
Trợ cấp
Tổng thu & trợ
cấp
CHI NGÂN
SÁCH
B
1
Tổng chi
2
Cho vay ròng
3
Tổng chi & cho
vay ròng
553,67
0
5,500
559,17
0
669,00
1
5,500
674,50
0
735,00 785,80
1
0
6,500
5,000
741,50 790,80
1
0
527,34
2
23,720
607,38
0
41,255
710,16
4.5%
2.5%
4%
4.7%
Qua các số liệu trong bảng thống kê cho thấy, tình hình
bội chi ngân sách nhà nước ta trong những năm gần đây xấp xỉ
khoảng 5% ở mức giới hạn cho phép (tỉ lệ thâm hụt nên ở từ
9
2%-5%).Theo kinh nghiệm quốc tế thì trong điều kiện bình thường, thâm hụt
ngân sách nhà nước ở mức 3% GDP là mức đáng lo ngại, còn ở mức 5% GDP
thì đáng báo động.
Năm 2009 tỉ lệ này đã tăng lên đến 6,6%. Tuy nhiên, nhóm
nghiên cứu cũng cho biết, những con số này có thể chưa phản
ánh đúng bản chất của thâm hụt tài khóa ở Việt Nam hiện nay.
Các tổ chức quốc tế đưa ra những con số khác xa với báo cáo
của Bộ Tài chính. Theo cách tính của IMF thì tỉ lệ này là 9%, cao
hơn nhiều so với mức 6,6% như ở trên. Năm 2010, tỉ lệ thâm
hụt ngân sách đã giảm xuống còn 4,5% tuy nhiên vẫn ở mức
cao. Trung bình trong hai năm 2009-2010, con số thâm hụt
ngân sách của Việt Nam thuộc diện cao nhất so với các nước
trong khu vực, vào khoảng 6% GDP/năm. Con số này gấp
khoảng 6 lần so với con số tương ứng của Indonesia, gấp 2 lần
so với Thái Lan.
Đến năm 2011, tình hình thâm hụt ngân sách được cải thiện, tỉ lệ thâm
Năm 2011
11
Năm 2012
Năm 2013
Tổng nợ công
51.7%
50.1%
50.8%
54.1%
Ngoài ra, còn một lượng nợ lớn của các doanh nghiệp nhà nước, không
được Chính phủ bảo lãnh, cũng không được phản ánh trong bội chi ngân sách
và nợ công hàng năm của Việt Nam như thông lệ và khuyến cáo của nhiều tổ
chức quốc tế.
Thâm hụt ngân sách một số nước châu Á (2009-2010)
Nguồn: Key Economic Indicators (ADB, 2011)
Biểu đồ này cho thấy tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước ở Việt
Nam khá cao và đứng thứ hai trong các nước châu Á. Đây là một điều rất
đáng lo ngại vì khi thâm hụt ngân sách quá cao sẽ kéo theo những hệ lụy
khác như nợ công hay là lạm phát.
3. Nguyên nhân của thâm hụt ngân sách của Việt
-
vùng miền.
Nhà nước huy động vốn để kích cầu.
Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và
-
chi thường xuyên.
Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn, nếu sử dụng biện
pháp tăng thuế có thể sẽ vượt quá sức chịu đựng của nền
kinh tế.
13
3.2. Nhóm nguyên nhân chủ quan
-
Áp lực từ an sinh xã hội (các khoản tiền trợ cấp cho các đối
-
tượng chính sách như hộ nghèo, người cao tuổi...).
Chi phí khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh: với tính
chất khí hậu nhiệt đới gió mùa hàng năm nước ta phải
gánh chịu khá nhiều các cơn bão từ biển đông cũng như sự
-
giảm đầu tư trong tương lai. Khi có thâm hụt ngân sách, Nhà
nước phải tìm cách để bù đắp thâm hụt ngân sách. Hiện nay
các biện pháp được sử dụng chủ yếu là vay nợ trong nước cũng
như nước ngoài. Thâm hụt ngân sách Nhà nước kéo dài trong
nhiều năm làm gánh nặng nợ ngày càng nặng nề, việc trả nợ
cho bù đắp thâm hụt sẽ làm giảm nguồn tiền dành cho đầu tư.
Mặt khác, để cải thiện bội chi kéo dài, Nhà nước cũng phải tìm
cách giảm chi tiêu, việc này ảnh hưởng lớn đến đầu tư chính
phủ cho nền kinh tế quốc dân. Đầu tư giảm sút là tác nhân
quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế.
Đối với cán cân thương mại, thâm hụt ngân sách Nhà nước
có thể gây ra mất cân bằng cán cân thương mại, gây ra thâm
hụt tài khoản vãng lai. Một trong những nguy cơ gây ra khủng
hoảng kinh tế là vấn đề thâm hụt kép: vừa thâm hụt tài khoản
vãng lai lớn, lại vừa thâm hụt ngân sách chính phủ lớn.
4.2. Tác động tới phúc lợi xã hội
Hàng năm, ngân sách Nhà nước dành ra một khoản chi rất
lớn để thực hiện phúc lợi xã hội như chi sự nghiệp giáo dục, chi
sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, chi sự
nghiệp xã hội. Khoản chi này đặc biệt cần thiết ở Việt Nam khi
nước ta thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt, mất mùa ảnh
hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Để bù đắp
15
thâm hụt ngân sách Nhà nước trong thời gian dài, Nhà nước
phải cắt giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ làm ảnh hưởng
không nhỏ đến việc thực hiện phúc lợi xã hội nhằm hỗ trợ và cải
thiện đời sống cho người dân.
ADB, ODA… Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của
các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế
cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các
chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội. Vay nợ nước
ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu
bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín
dụng…
Đây là một biện pháp tài trợ ngân sách nhà nước hữu hiệu,
có thể bù đắp các khoản thâm hụt mà không gây ra sức ép lạm
phát cho nền kinh tế. Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng
bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, nó khiến cho gánh
nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu
của Chính phủ. Đồng thời, nó khiến cho nền kinh tế bị phụ
thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, viện trợ kéo
theo đó là những điều khoản về chính trị, quân sự làm cho các
nước đi vay bị phụ thuộc rất nhiều.
5.3. Sử dụng dự trữ ngoại tệ
Quỹ dự trữ ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung
ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc
một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh toán
quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia. Chính phủ có thể sử
dụng việc giảm dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách.
17
Ưu điểm của biện pháp này là dự trữ hợp lí có thể giúp
quốc gia tránh được khủng hoảng. Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ
dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách lại tiềm ẩn nhiều
rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng. Và nếu kết hợp với việc
phải tăng giá bán, điều này tác động đến người tiêu dùng và dễ
dẫn đến lạm phát.
Giảm chi ngân sách Nhà nước là giảm chi tiêu của Chính
phủ. Cắt giảm chi tiêu của chính phủ chủ yếu tập trung vào 2
khoản là cắt giảm đầu tư công và cắt giảm chi phí thường
xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách Nhà nước. Cắt giảm
đầu tư công làm giảm đầu tư cho nền kinh tế, mục tiêu tăng
trưởng kinh tế khó đạt được.
19
CHƯƠNG 3
MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Một số vấn đề lí thuyết
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
tế là một vấn đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương
diện lí thuyết và kiểm định thực nghiệm. Liên quan đến mối
quan hệ này, các quan điểm của các trường phái kinh tế cũng
rất khác nhau.
Trường phái tân cổ điển cho rằng thâm hụt sẽ kéo theo sự
gia tăng về gánh nặng thuế trong tương lai. Theo đó, người tiêu
dùng sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng tại thời điểm hiện tại. Do
đó, trong trường hợp này, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm xuống. Khi
tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và lãi
suất tăng làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui
đầu tư. Vì vậy, trường phái này cho rằng tăng thâm hụt ngân
sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Trường phái này còn cho rằng nếu như việc tài trợ thâm
lạm phát.
21
Khác với 2 trường phái nói trên, quan điểm của trường
phái Ricacdo cho rằng, thâm hụt ngân sách không tác động đến
các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn và dài hạn. Theo
trường phái này, ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế
đối với tiêu dùng là tương đương nhau. Việc tăng thâm hụt ngân
sách do giảm thuế ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc
tăng thuế trong tương lai, bao gồm cả trả lãi cho khoản vay. Do
vậy thâm hụt ngân sách dẫn đến vay nợ trong hiện tại sẽ đồng
nghĩa với việc tăng thuế trong tương lai. Với hàm ý này, người
tiêu dùng sẽ quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thu
nhập hiện tại mà còn dựa vào thu nhập kì vọng trong tương lai.
Theo trường phái Ricacdo, thâm hụt ngân sách sẽ không tác
động đến tiết kiệm và đầu tư. Theo họ khi thâm hụt ngân sách
tăng do giảm thuế thì thu nhập khả dụng của người dân tăng
lên, hơn nữa người dân ý thức được giảm thuế trong hiện tại sẽ
tăng thuế trong tương lai, do vậy họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn.
Trong khi đó, thâm hụt ngân sách làm cho tiết kiệm của khu
vực nhà nước giảm xuống. Do vậy, thâm hụt ngân sách sẽ
không tác động đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng.
2. Kiểm định thực nghiệm
Trong 10 năm qua, mặc dù tình hình kinh tế trong nước và
quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, song Việt Nam vẫn đạt
được một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2010 là 7,26%, trong đó
giai đoạn 2001-2005 bình quân đạt 7,49%, giai đoạn 2006-2010
Phân tích về diễn biến thâm hụt ngân sách và tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam cho thấy trong giai đoạn 2001-2007 có tốc
độ tăng trưởng kinh tế đạt ở mức khá cao so với tốc độ tăng
trưởng kinh tế 3 năm trở lại đây. Đây cũng là giai đoạn mà trong
khi thâm hụt ngân sách tính theo cách tính của Việt Nam là
tương đối ổn định, chỉ xoay quanh mức xấp xỉ 5% GDP (ngoại
trừ năm 2009). Bên cạnh đó, khi bao gồm cả nguồn trái phiếu
chính phủ và vay về cho vay lại thì mức độ thâm hụt ngân sách
có xu hướng biến động cùng chiều với tăng trưởng kinh tế,
nghĩa là trong giai đoạn này có những năm thâm hụt ngân sách
cao đồng thời có tăng trưởng kinh tế cao.
Một điều đáng lưu ý khác khi xem xét về mối quan hệ giữa
thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là hệ số
tương quan giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế
theo cả cách tính của Việt Nam và theo thông lệ quốc tế đều có
24
giá trị âm. Hay nói cách khác, xét trên giác độ này là giữa tăng
trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách diễn biến ngược chiều
nhau. Tuy điều này không đồng nghĩa với việc là tăng thâm hụt
sẽ làm tăng trưởng kinh tế hay ngược lại, song cũng đã chỉ ra
một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt
NSNN và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, nhất là diễn biến
trong những năm gần đây, ít nhất là xét trên giác độ sự “lấn át”
của đầu tư công đối với đầu tư của khu vực tư nhân.
Hệ số tương quan giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam 1991-2010
Nguồn: Bộ tài chính