1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HƠN
TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
I/ Đặt vấn đề:
Dạy học ở tiểu học là dạy cho học sinh cách học và biết tự học. Khả năng
tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi cá nhân. Phương pháp
tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu. Một yếu tố quan trọng đảm bảo
thành công trong học tập là khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí
những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nếu rèn luyện cho học sinh có phương
pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào
những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề
gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tìm năng
vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy thì không những kết quả học tập
được nâng lên mà các em còn được chuẩn bị để tiếp tục tự học khi vào đời, dễ
dàng thích ứng với cuộc sống, công tác, lao động trong xã hội.
Như chúng ta đã biết, nguồn gốc của tích cực là nhu cầu. Khi học sinh có
nhu cầu thì các em sẽ tự giác tìm kiếm tri thức. Đối với học sinh, tính tích cực
bên trong thường nảy sinh do những tác động từ bên ngoài. Giáo viên phải tạo ra
hàng loạt các mâu thuẩn, khéo léo lôi cuốn, hấp dẫn học sinh để các em tự ý thức
tiếp nhận và tìm tòi cách giải quyết.
Để đạt được yêu cầu này, đòi hỏi người giáo viên ngoài sự khéo léo kết
hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, hình thức dạy học, sử dụng các phương tiện
dạy học tạo cho học sinh luôn luôn có hứng thú, nhu cầu trong học tập còn phải
nắm bắt được tâm sinh lí, trình độ của mỗi học sinh để động viên, khích lệ kịp
thời. Giáo viên thường xuyên tổ chức luyện tập giúp các em từng bước tiếp cận
với cách học mới: biết đặt câu hỏi thắc mắc tranh luận; biết trình bày, lí giải sự
việc và biết hợp tác với các bạn trong nhóm để khám phá, lĩnh hội kiến thức.
Phải nói rằng, trong quá trình thực hiện chương trình đổi mới sách giáo
khoa, đổi mới phương pháp dạy học, cán bộ quản lí trường học và giáo viên đã
được trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng dạy học theo hướng tích cực; từng bước
trong nhóm.
Nguyên nhân cần quan tâm hơn nữa là giáo viên chưa thường xuyên tập
luyện cho học sinh, chưa tạo được hứng thú học tập cho các em. Khi soạn bài,
giáo viên chưa trăn trở: “Tổ chức các hoạt động như thế nào đây để mọi học sinh
được tham gia và tham gia hiệu quả”, “Ở hoạt động này nên gợi ý gì để học sinh
tranh luận”, “Đối với nội dung này thì chọn hình thức dạy học nào để đem lại
hiệu quả cao hơn”, vv…
Qua đối chiếu, so sánh giữa lí thuyết với thực trạng dạy học, tôi đã tiến
hành nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện tại trường tôi một số biện pháp nhằm giúp
học sinh chủ động, tích cực hơn trong các hoạt động học tập và từng bước đã
đem lại kết quả khả quan.
II/ Cơ sở lí luận:
Trong Luật Giáo dục, khoản 2, điều 28 đã ghi: “Phương pháp giáo dục
phổ thông là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
học sinh? Đây chính là nhiệm vụ hết sức nặng nề của người thầy hiện nay. Tính
tích cực học tập thường được biểu hiện như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo
viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, nêu thắc mắc hay đề nghị giải thích những
vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức vấn
3
đề mới; tập trung chú ý về vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không
nản chí trước những khó khăn,…Tính tích cực của học sinh được biểu hiện
thông qua các hoạt động. Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên
quan mật thiết với động cơ học tập. Động cơ học tập tạo ra hứng thú. Hứng thú
là tiền đề của tính tự giác. Hứng thú và tính tự giác là những yếu tố quan trọng
tập, ảnh hưởng đến mục tiêu bồi dưỡng khả năng tự học theo quan điểm giáo dục
hiện nay.
Bên cạnh đó, thực trạng việc dạy học theo nhóm cũng còn một số hạn chế
nhất định. Có thể nói, hiện nay, giáo viên và học sinh đã thuần thục phương pháp
dạy học theo nhóm từ khâu thiết kế đến khâu tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, khi
4
tổ chức học nhóm, một số học sinh còn thụ động, không biết cách hợp tác, không
biết nhiệm vụ của mình phải làm gì mà chỉ ngồi yên quan sát. Thành quả học tập
của nhóm không có đầy đủ trí tuệ của cả nhóm mà chỉ phụ thuộc vào một số cá
nhân tích cực.
Trong quá trình thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, trường tôi đã
tổ chức nhiều chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực
của học sinh, nâng cao chất lượng học tập hợp tác theo nhóm,… nhưng những
tồn tại trên chỉ cải thiện ở mức độ khiêm tốn. Vì vậy, từ năm học 2009-2010, tôi
tiến hành tổ chức thực hiện một số giải pháp: Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin,
biết đặt câu hỏi và trình bày, tranh luận trong học tập; biết tự nghiên cứu trước
bài học, bài tập để lĩnh hội kiến thức.
IV/ Nội dung nghiên cứu:
1/ Xây dựng "lớp học tích cực" điển hình.
Để ý tưởng của mình đi vào thực tiễn, tôi tiến hành chọn một lớp (lớp 5/3)
để xây dựng “lớp học tích cực” nhằm nhân điển hình cho toàn trường. Các bước
thực hiện gồm:
a/ Tạo cơ hội để học sinh mạnh dạn, tự tin trong học tập:
Tâm sinh lí của học sinh tiểu học là rất hồn nhiên, trung thực nhưng lại rụt
rè, e ngại, thiếu tự tin khi hỏi đáp hay trình bày ý kiến của mình trước thầy cô,
các bạn. Vì vậy, tôi thường xuyên đến thăm lớp, cùng với giáo viên gặp gỡ, nói
chuyện, động viên và giúp các em nhận thức được muốn học tốt thì phải nỗ lực,
mạnh dạn tham gia vào các hoạt động như trả lời bài, phát biểu xây dựng bài và
phương pháp tự học hiệu quả nhất.
Tiếp theo, giáo viên tạo cho học sinh có cơ hội đặt câu hỏi. Khi làm bài
hoặc trình bày một đơn vị kiến thức nào đó xong thì phải mời các bạn khác nhận
xét và nêu câu hỏi thắc mắc, phản biện. Bản thân em đó trước tiên phải trình bày,
lí giải nội dung mà các bạn thắc mắc. Em nào không nói được sẽ tiếp tục mời
bạn khác và cuối cùng là giáo viên kết luận (nếu học sinh không trả lời đúng).
Thông thường, học sinh chỉ nhận xét đúng hoặc sai, các em không có thói quen
đặt câu hỏi nên thời gian đầu, giáo viên cần theo sát nhắc nhỡ.
Các bước tập luyện, cũng tiến hành từ dễ đến khó. Trước tiên, tập cho các
em hỏi đáp, giải thích những nội dung đơn giản, tường minh để các em quen dần
và đi vào nề nếp. Từ từ ta dẫn dắt các em đến với những nội dung phức tạp hơn
và có yêu cầu phản biện để làm rõ vấn đề hơn. Để không ảnh hưởng đến thời
gian của tiết học, giáo viên tranh thủ tập luyện ở 15 phút chủ nhiệm, tập trong
tiết sinh hoạt cuối tuần bằng cách đưa ra một số nội dung, một số chủ đề để các
em hỏi đáp, tranh luận nhằm giúp các em làm quen dần với việc đặt câu hỏi hay
trình bày, tranh luận trước lớp. Khi hỏi, đáp không quên nhắc nhỡ các em kèm
theo những lời mời, lời cảm ơn, nhằm giáo dục được kĩ năng giao tiếp văn minh,
lịch thiệp cho học sinh.
Ví dụ 1: (đơn giản) Kể tên các dụng cụ học tập của em.
Học sinh A kể: "Dụng cụ học tập của tôi gồm: thước kẻ, compa, tẩy, bút
chì, hồ dán, kéo,... Mời các bạn nhận xét!"
Học sinh B: "Bạn nêu đầy đủ nhưng mình không hiểu bạn mua bút chì để
làm gì?
Học sinh A: "Tôi mua bút chì để chữa lỗi chính tả, tập vẽ và để chữa bài
tập."
Như vậy, qua việc liệt kê dụng cụ học tập, học sinh sẽ hiểu thêm tác dụng
của mỗi đồ dùng. Quan trọng hơn là các em được hỏi, được nói, được trao đổi
với nhau.
Ví dụ 2: (phức tạp) Chủ đề: Vệ sinh lớp học.
Giáo viên khéo léo dẫn dắt học sinh tranh luận:
tranh ảnh, sách giáo khoa đã thể hiện đầy đủ. Ví dụ:
- Toán lớp 2: 25 + 37 = 82 (Không nên hỏi “Vì sao đúng? vì sao sai?”)
- TN&XH lớp 3: Lá cây thường có màu gì? (không nên hỏi “Vì sao bạn
biết?”- Vì tranh ảnh và thực tế đã quá rõ ràng.)
* Trường hợp 2: Cần nêu câu hỏi để có cơ hội trình bày, lí giải: Đó là
những nội dung học có ngầm chứa ý cần giải thích, làm rõ để củng cố kiến thức
đã học hay huy động vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh. Ví dụ:
- Toán lớp 3: X – 25 = 10
X = 10 + 25 = 35.
Trường hợp này, nhằm củng cố kiến thức nên gợi ý để học sinh nêu: “Dựa
vào đâu bạn có X = 10 + 15 = 35?”. “Mình dựa vào quy tắc: số bị trừ bằng hiệu
cộng với số trừ.”
7
- Toán lớp 5: 0, 05 =
5
100
Trường hợp này, nhằm khắc sâu kiến thức nên gợi ý để học sinh hỏi: “Vì
sao bạn biết 0,05 =
5
5
?”. “Vì Chữ số 5 nằm ở hàng phần trăm nên nó bằng
.”
100
100
Để học sinh hiểu được có nhiều cách lí giải và chọn cách lí giải hay nhất
nên cho các em trao đổi: “Đề nghị bạn giải thích cách làm.” Có thể mỗi em hiểu
khác nhau nên có cách lí giải khác nhau, chẳng hạn: “Vì đổi ra đơn vị mét nên
6m là phần nguyên còn 5cm bằng năm phần trăm của mét nên kết quả là 6,05m.
Bạn nào có cách giải thích khác?” Học sinh khác có thể nêu: “Mình thấy 6m là
phần nguyên, tiếp đến dm không có mình ghi 0, rồi đến 5cm.” hoặc “Mình thấy
8
6m 5cm bằng 605cm. Vậy chữ số 5 là xăng-ti-mét, chữ số 0 là đề-xi-mét, chữ số
6 là mét nên mình đặt dấu phẩy liền sau chữ số 6.”,…Sau tranh luận, giáo viên
nên hỏi học sinh cách nào hay, chặt chẽ nhất rồi kết luận (Trường hợp đầu tiên là
hợp lí, chặt chẽ nhất).
- Khoa học 5: Để cung cấp vi-ta-min cho cơ thể, bạn chọn cách nào dưới
đây?
a/ Uống vi-ta-min.
b/ Tiêm vi-ta-min.
c/ Ăn thức ăn chứa nhiều vi-ta-min.
Trường hợp này, chắc chắn mỗi học sinh có cách chọn khác nhau theo sự
hiểu biết của mình. Nếu không cho các em tranh luận, các em sẽ không chọn
được cách tốt nhất. Vì sao tốt nhất? Chẳn hạn: “Tại sao bạn chọn đáp án A?” “Vì
mình thấy uống vi-ta-min sẽ nhanh tác dụng hơn.” Hoặc “Vì sao bạn chon đáp
án B?” “Vì tiêm thuốc sẽ nhanh tác dụng hơn uống.” Hoặc “Vì sao bạn chọn đáp
án C?” “Theo mình thì ngoài việc cung cấp vi-ta-min, thức ăn còn cung cấp cho
ta những chất bổ dưỡng khác nên ăn thức ăn có chứa nhiều vi-ta-min là tốt hơn.”
“Mình không đồng ý với bạn, vì tiêm vi-ta-min cơ thể sẽ dễ hấp thụ hơn.” “Theo
mình những người bệnh, người thiếu vi-ta-min thì cần tiêm còn người bình
thường thì cần ăn, vì ăn nó cung cấp thường xuyên hơn và phòng được
bệnh”...Sau cuộc tranh luận, giáo viên dẫn dắt học sinh đến kết luận đúng nhất.
Vậy qua những hoạt động có tính tương tự như 3 trường hợp ví dụ trên,
Ví dụ: Từng nhóm kiểm tra bài cũ. Nhóm trưởng: “Mời bạn Nam đọc qui
tắc tính diện tích hình chữ nhật”, “Mời bạn Hoa nhận xét”, “Các bạn có thống
nhất không?”…hoặc phân công kiểm tra chéo trong nhóm về việc chuẩn bị bài
rồi báo cáo lại cho nhóm trưởng,….
Việc làm này vừa rèn được kĩ năng hợp tác trong nhóm vừa kiểm tra được
việc chuẩn bị bài cũ của học sinh.
Các hoạt động trên còn có thể tổ chức ở tiết sinh hoạt lớp. Trong tiết sinh
hoạt lớp, ngoài việc tổ chức nhận xét, tuyên dương, xếp loại các hoạt động trong
tuần, giáo viên tổ chức cho các em sinh hoạt nhóm để các em có cơ hội trao đổi
với nhau về nội dung Giáo dục an toàn giao thông, về sinh hoạt, học tập trong
tuần…hoặc tranh thủ thời gian tổ chức cho các em luyện tập hỏi đáp, tranh luận
về một nội dung nào đó thuộc chủ điểm trong tuần.
Ví dụ: - Chúng ta cần làm gì để trường lớp xanh, sạch đẹp?
- Ở nhà, bạn đã làm gì để giúp đỡ ba mẹ?
- Buổi tối, bạn thường làm gì?...
- Chúng ta có cần giúp đỡ nhau trong học tập không? Vì sao?
Hoặc đưa ra tình huống để các em tranh luận:
Ví dụ: Trong tiết kiểm tra, Nam đã giúp Việt bằng cách cho bạn nhìn bài
và bạn đã được điểm 10. Việc làm của Nam đúng hay sai? Vì sao đúng? Vì sao
sai?...
Trong quá trình luyện tập, giáo viên chọn học sinh khá giỏi luyện tập
trước để làm nòng cốt, sau đó lần lượt đến HS trung bình, yếu và cần giao việc
phù hợp với từng đối tượng học sinh; gợi mở, đỡ lời cho các em khi cần thiết để
các em từng bước biết nói rõ ràng, đúng câu, trọn ý.
Ngoài ra, giáo viên đầu tư hơn về kế hoạch bài giảng của mình. Như
chúng ta đã biết, việc chuẩn bị, thiết kết bài học quyết định chất lượng tiết dạy.
Vì vậy khi soạn bài, giáo viên phải xem xét nội dung nào cần học các nhân, nội
dung nào cần học nhóm đôi, nhóm nhỏ, trò chơi… và cách tổ chức như thế nào?
Nội dung nào cần cho học sinh trao đổi, tranh luận…
Những kiến thức ở mức độ nhận biết, áp dụng công thức hoặc quá tường
không khí chuyển động từ biển và sinh ra gió; ban đêm, biển lâu nguội nên nóng
hơn đất liền và gió từ đất liền thổi ra biển)
Sau khi các nhóm tranh luận, trình bày, giáo viên kết luận và liên hệ thực
tế. Như vậy các đối tượng học sinh đều có việc làm (tùy theo sức của mình) khi
tham gia học nhóm.
d/ Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:
Ngoài việc chuẩn bị các bài tập, bài học (đối với các lớp 5 buổi/tuần) như
chúng ta vẫn thường dặn dò học sinh, tôi hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm chọn
một nội dung bài mới có tình huống để cho các em nghiên cứu trước nhằm chuẩn
bị tốt cho bài mới, đồng thời hình thành ở các em nề nếp tự học, tự nghiên cứu.
Để làm tốt công việc này, tôi góp ý với giáo viên chia lớp thành 6 nhóm
học tập ở nhà (những em gần nhà nhau thành một nhóm). Sau mỗi buổi học, nếu
bài mới hôm sau là những bài có tình huống, giáo viên sử dụng sánh giáo khoa
hoặc phiếu bài tập để các em về nhà thảo luận tìm cách giải quyết. Tiết học hôm
sau, giáo viên sử dụng kết quả thảo luận đó để dẫn dắt các em lĩnh hội kiến thức
11
mới. Cách làm này mang tính tích cực cao, hình thành ở các em thói quen nghiên
cứu, suy luận trong học tập. (Có phụ lục)
Trong suốt quá trình thực hiện các biện pháp trên, tôi thường xuyên đến
thăm lớp, động viên giáo viên và học sinh, điều chỉnh những điểm chưa hợp lí.
Sau khoảng một tháng, mọi việc đã đi vào nề nếp và tôi tiến hành nhân điển hình
cho toàn trường.
2/ Mở chuyên đề “Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh”:
Để tiến hành việc nhân điển hình cho toàn trường có hiệu quả, tôi giúp
giáo viên chủ nhiệm lớp xây dựng một tiết dạy mẫu còn tôi đảm nhận soạn thảo
phần nội dung chuyên đề.
Tiếp theo, tôi lập kế hoạch, tham mưu với hiệu trưởng tổ chức chuyên đề
và mời giáo viên toàn trường tham gia dự giờ, góp ý. Cũng trong thời gian đó,
12
Năm học
2009-2010
2-10-2011
2011-2012
Chất lượng học lực
Giỏi
Khá
Lên lớp
Thi lại
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
150
41.3
137
37.7
360 99.2
4
1.1
163
45.9
121
Không sử dụng sách giáo khoa, hãy tra lời các câu hỏi:
A
B
1cm2
D
C
- Hình chữ nhật ABCD gồm mấy ô vuông có diện tích 1 cm2?
- Tính số ô vuông bằng nhiều cách. Cách nào thuận tiện nhất?
………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………….
PHIẾU HỌC TẬP Ở NHÀ
Bài 47: Hoa. (TN&XH 3, trang 90)
Kể tên một số loài hoa được dùng để trang trí, làm nước hoa, ướp chè hoặc
để ăn.
Tên hoa
M: Hoa hồng
Trang trí
x
Tác dụng đối với đời sống
Làm nước hoa Ướp chè
x
Ăn
Năm
xuất bản
2008
9/2008
12/2009
15
X/ Mục lục:
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nội dung
Tên đề tài.
Đặt vấn đề.
Cơ sở lí luận.
Cơ sở thực tiễn.
Nội dung nghiên cứu
Kết quả.
Kết luận, đề nghị.