Thuong phân lập, tuyển chọn vi khuẩn vùng rễ lạc ở thừa thiên huế đối kháng với nấm sclerotium rolfsii và kích thích sinh trưởng lạc - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Nông học

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu hoạt lực của một
số chủng vi khuẩn có khả năng phân giải cellulose.

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Lâm Tếu

Lớp

: Nông học 45

Thời gian thực tập

: Từ tháng 9/2014 đến 05/2015

Địa điểm thực tập

: Khoa Nông học

Giáo viên hướng dẫn

: ThS. Lê Thị Hương Xuân


BẢNG 4.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐẾN TỶ LỆ MỌC.............................................................30
BẢNG 4.3. CHIỀU CAO THÂN CHÍNH Ở CÁC CÔNG THỨC XỬ LÝ VI KHUẨN......................................................32
BẢNG 4.4. CHIỀU DÀI CÀNH CẤP 1 Ở CÁC CÔNG THỨC XỬ LÝ VI KHUẨN........................................................34
BẢNG 4.5. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DÒNG VI KHUẨN ĐẾN SỐ LÁ TRÊN THÂN CHÍNH.......................................35
BẢNG 4.6. KHỐI LƯỢNG TƯƠI VÀ KHỐI LƯỢNG KHÔ CỦA LẠC LÂY NHIỄM CÁC DÒNG VI KHUẨN KHÁC NHAU
SAU 42 NGÀY GIEO (G/5CÂY)........................................................................................................................ 37
BẢNG 4.7. KHẢ NĂNG HẠN CHẾ NẤM SCLEROTIUM ROLFSII TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CỦA CÁC DÒNG VI
KHUẨN PHÂN LẬP TỪ RỄ LẠC (%)................................................................................................................. 38


DANH MỤC HÌNH
HÌNH 4.1. CHỈ SỐ BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG TRÊN MỘT SỐ CÔNG THỨC LÂY NHIỄM CÁC DÒNG VI
KHUẨN ĐỐI KHÁNG TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÓ LÂY NHIỄM BỆNH........................................................39
HÌNH 4.2. TỶ LỆ CÂY CHẾ DO BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC TRẮNG TRÊN MỘT SỐ CÔNG THỨC LÂY NHIỄM CÁC
DÒNG VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÓ LÂY NHIỄM BỆNH.........................................39


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG.......................................................................................................................................... 3
DANH MỤC HÌNH........................................................................................................................................... 4
MỤC LỤC....................................................................................................................................................... 5
PHẦN 1. MỞ ĐẦU........................................................................................................................................... 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
2
1.2.1. Mục đích.................................................................................................................................................2
1.2.2. Yêu cầu...................................................................................................................................................2
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
3

23
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
23
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
3.4.1. Phân lập vi khuẩn đối kháng................................................................................................................23
3.4.2. Tuyển chọn các dòng vi khuẩn đối kháng trong điều kiện in vitro.......................................................24
3.4.3. Đánh giá khả năng kháng nấm trong điều kiện in vitro......................................................................24
3.4.4. Đánh giá hiệu lực đối kháng trong điều kiện nhà lưới.........................................................................25
3.4.5. Đánh giá ảnh hưởng của các vi khuẩn lây nhiêm lên một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của lạc
........................................................................................................................................................................27
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................................................................................... 27
4.1. KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA VI KHUẨN TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

27


4.2. ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG GIAI ĐOẠN CÂY CON VÀ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ BỆNH HÉO RŨ GỐC
MÔC
́ TRẮNG LẠC
28
4.2.1. Ảnh hưởng của vi khuẩn đối kháng đến sinh trưởng giai đoạn cây con.............................................29
4.2.2. Khả năng hạn chế bệnh héo rũ gốc mốc trắng....................................................................................38
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................................................................... 40
5.1. KẾT LUẬN
5.2. ĐỀ NGHỊ

40
40


năng suất và phẩm chất là yếu tố bệnh hại, trong đó có nhiều bệnh rất khó phòng
trừ như các bệnh thuộc nhóm bệnh héo rũ (héo rũ gốc mốc đen, héo rũ gốc mốc
trắng, héo rũ tái xanh). Các bệnh này ngày càng trở nên nguy hiểm hơn, gây chết
cây trên đồng ruộng tỷ lệ cao.
Trong các nguyên nhân gây bệnh héo chết cây lạc, nấm Sclerotium rolfsii
là loại gây hại phổ biến và có thể gây thiệt hại 10 – 25% năng suất, cá biệt có thể
lên đến 80% năng suất (Mehan et al. 1994). Ở Mỹ, nấm S. rolfsii là tác nhân gây
thiệt hại lớn nhất trên cây lạc ở Bắc Carolina, Georgia (Kemerait, 2008). Ở Thừa
Thiên Huế, bệnh gây chết khoảng 3-5% cây trên đồng ruộng (Lê Như Cương,
2004). Một số vùng ở Miền trung Việt nam, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến
1


25% (Le et al., 2012).
Thừa Thiên Huế có khí hậu giao thoa giữa hai miền Bắc và Nam của Việt
nam nên tương đối phức tạp. Với đặc điểm ở đây là nóng, ẩm nên thuận lợi cho
bệnh hại phát sinh, phát triển. Bên cạnh đó công tác phòng trừ các loại bệnh này
của người dân ở đây cũng chưa được hợp lí, còn nhiều hạn chế, quá lạm dụng
thuốc hóa học nên dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, con
người và sự bùng phát dịch hại.
Nấm gây bệnh S. rolfsii có phạm vi ký chủ rất rộng với số lượng trên 500
loại khác nhau (APSnet, 2005), thêm vào đó nấm có thể tồn tại trong đất dưới
dạng hạch nấm với thời gian dài có thể lên đến 3 năm. Trên cây lạc nấm có thể
gây hại các bộ phận trên và dưới mặt đất, do đó công tác quản lý bệnh hại càng
gặp nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy việc áp dụng một biện pháp riêng lẻ trong
quản lý bệnh sẽ không mang lại hiệu quả cao và ổn định. Một số nghiên cứu cho
thấy, để hạn chế bệnh hại có hiệu quả, phải áp dụng một hệ thổng quản lý tổng
hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp canh tác, vật lý, hoá học, và
sinh học. Trong các biện pháp này biện pháp sinh học là một trong những hướng
mới và mang lại hiệu quả lâu dài.

khuẩn đối kháng hạn chế bệnh thối trắng thân lạc.
- Cung cấp nguồn vi khuẩn đối kháng bản địa vùng rễ lạc cho các nghiên
cứu về cơ chế đối kháng với nấm S. rolfsii và nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn đối
kháng trong hạn chế bệnh thối trắng hại lạc.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài sẽ cung cấp nguồn vi khuẩn có ích để phát triển các chế
phẩm sinh học trong sản xuất lạc nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường.
1.4. Điểm mới của đề tài
Phân lập được các dòng vi khuẩn bản địa ở vùng rễ lạc để ứng dụng trong
hạn chế bệnh hại lạc.

3


Phần 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về cây lạc
2.1.1. Nguồn gốc, phân bố
Loài lạc trồng (Arachis hypogaea) thuộc họ đậu: Fabacaea, chi: Arachis là
cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao [12], [14]. Lạc được mô tả như
một loài thực vật là do Linnaeus công bố năm 1753 và trong một thời gian dài
người ta chỉ biết 1 loài trong chi Arachis, tức là loại lạc trồng (Arachis
hypogaea). Năm 1841 (gần 90 năm sau), BenTham mô tả 5 loài dại phát hiện ở
Bzaxin và đã xếp chúng thành 3 chi là: chi Arachis, chi Stylosanthes và chi
Chapmannia hợp thành tộc Hedysareae thuộc họ đậu Leuguminosaea (nay là họ
Fabacae) [14].
Qua nhiều thập kỷ, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như khảo cổ học,
thực vật học, văn học dân gian đã ghi nhận cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mĩ
[11]. Theo Krapovikat (1986) qua chuyến đi thu thập giống lạc khắp Nam Mỹ
đã viết rằng: "Có thể chắc chắn là Arachis hypogaea có nguồn gốc từ Bolivia tại
các vùng đồi thấp và chân núi của dãy Anđơ". Tại đây ông còn thấy sự đa dạng,

như xenlulose, tinh bột cũng đều có trong hạt lạc. Chính vì vậy hạt lạc cung cấp
chất béo và bổ sung protein cho con người [9]. Các nhà dinh dưỡng cho rằng lạc
là một trong những thức ăn lý tưởng vì nó có tác dụng bồi bổ sức khỏe, có lợi
ích cho tuổi thọ và phòng chống lão hóa.
Ngoài ra, các bộ phận của lạc có vai trò hết sức quan trọng trong y học,
dùng để làm thuốc đông và tây y.
Theo Đông y, các bộ phận của cây lạc như thân, cành, lá, quả, nhân, màng
bọc ngoài của nhân, và dầu lạc đều là những vị thuốc đã được sử dụng từ lâu đời
trong đông y và trong dân gian. Hạt lạc có vị ngọt, bùi, béo có tác dụng bổ tỳ,
dưỡng vị, nhuận phế, lợi tràng, tiêu đờm, điều hòa khí huyết, tiêu sưng, cầm
máu, lợi tiểu, tăng tiết sữa, mát họng, giảm cholesterol, chống lão hóa. Người
Trung Quốc còn đặt cho loại hạt này như hạt trường sinh, đường nhân đậu. Hạt
lạc được dùng để chữa bệnh suy nhược, lao lực, làm dịu các cơn đau bụng và
phối hợp với quế, gừng làm giảm các cơn đau bụng kinh. Thân và lá dùng để
chữa bệnh trương khí ruột kết.
Trong tây y, các nhà nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy nhân lạc có tác
dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể, hạ huyết áp, giảm mỡ máu và cầm máu. Vỏ lụa có
tác dụng cầm máu, chữa xuất huyết và kích thích tủy sống tạo ra tiểu cầu. cành
lá cây lạc ngoài tác dụng hạ huyết áp và giảm mỡ máu còn có tác dụng an thần,
chống mất ngủ.
- Giá trị kinh tế
Giá trị xuất khẩu
Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu
5


đem lại kim ngạch cao của nhiều nước. Ở Xenegan, giá trị từ lạc chiếm 1/2 thu
nhập, chiếm 80% giá trị xuất khẩu. Ở Nigieria chiếm 60% giá trị xuất khẩu.
Thị trường chính của Việt Nam hiện nay là Singapo, Pháp, Cộng hoà liên
bang Đức, Nhật, Indonexia, Malayxia, Philippin, Hồng Kông. Đến năm 1999 do



Vỏ hạt có một số dinh dưỡng đáng kể như N: 1,781%, lân: 0,194%, Kali:
0,514%,chất đường bột: 47%, lipit : 1,8%. Trong thân lá lạc cũng có một lượng
các chất khoáng N,P,K không thua kém gì phân chuồng. Tuy nhiên khi sử dụng
cần chú ý chế biến để ít hao hụt các chất dinh dưỡng [5].
- Giá trị trồng trọt
Ngoài giá trị kinh tế của lạc, đối với ép dầu, trong công nghiệp thực phẩm,
trong chăn nuôi, lạc còn có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo đất do khả năng cố
định đạm của nó. Cũng như các loại họ cây đậu khác, rễ lạc có thể tạo ra các nốt
sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là vi khuẩn
Bradyrhizobium, Rhizobium. Rhizobium có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ
đậu nhưng với lạc thì tạo được nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn.
Theo nhiều tác giả, lượng đạm cố định của lạc có thể đạt 70-110kgN/ha/vụ.
Chính nhờ có khả năng này mà hàm lượng của prôtêin ở hạt và các bộ phận khác
của cây cao hơn nhiều loại cây trồng khác. Cũng nhờ khả năng cố định đạm, sau
khi thu hoạch thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạm
trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật háo khí trong đất được tăng cường có lợi đối
với cây trồng sau.
2.1.3. Ảnh hưởng của bệnh hại đến sản xuất lạc
Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, nhiều loại cây trồng có năng suất cao
được trồng ngày càng nhiều, diện tích càng được mở rộng. Cùng với xu thế phát
triển đó Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn. Ở nước ta những
năm gần đây, cây lạc được đầu tư thâm canh nên năng suất và sản lượng lạc
ngày càng tăng. Tuy nhiên so với một số nước trồng lạc trong khu vực và các
nước trên thế giới thì năng suất lạc ở nước ta còn thấp. Năng suất lạc bình quân
của thế giới là 1,87 tấn/ha, trong đó năng suất lạc của Trung Quốc là 3,61 tấn/ha,
năng suất bình quân tại Mỹ là 4,50 tạ/ha .Trong lúc đó năng suất bình quân của
nước ta chỉ đạt 2,13 tạ/ha [16].
Bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề nan giải đối với sản xuất nông nghiệp nói

tất cả các thời kỳ sinh trưởng.
Bệnh hại lạc có nhiều đối tượng gây ra, tuỳ theo vùng sinh thái và giai đoạn
phát triển của cây trồng mà thiệt hại của từng bệnh khác nhau. Theo nhiều kết
quả nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt đới nhóm bệnh chết héo lạc thường gây ra
thiệt hại lớn. Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn và vấn đề
bệnh héo rũ hại lạc cũng đang là một vấn đề nóng bỏng, trong đó có những thiệt
hại do nhóm bệnh này gây ra.
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế bệnh héo rũ cũng là một trong những bệnh hại
gây thiệt hại đáng kể về kinh tế. Trong một vài năm trở lại đây nhóm bệnh héo
rũ đang là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lạc ở vùng này. Trong đó
có bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii gây thiệt hại đáng kể.
Chính vì vậy, việc điều tra, đánh giá và nghiên cứu về bệnh hại là rất cần thiết
để góp phần vào việc đưa ra các biện pháp phòng trừ hợp lý nhằm tăng cao năng
suất và phẩm chất lạc.
8


2.1.4. Giới thiệu chung về bệnh héo rũ gốc mốc trắng
Bệnh hại lạc có nhiều đối tượng gây ra, tuỳ theo vùng sinh thái và giai đoạn
phát triển của cây trồng mà thiệt hại của từng bệnh khác nhau. Theo nhiều kết
quả nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt đới thì nhóm bệnh chết héo lạc thường
gây ra thiệt hại lớn. Việt Nam cũng là nước có diện tích trồng lạc khá lớn và vấn
đề bệnh héo rũ hại lạc cũng đang là một vấn đề nóng bỏng, trong đó có những
thiệt hại do nhóm bệnh này gây ra. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế bệnh héo
rũ cũng là một trong những bệnh hại gây thiệt hại đáng kể về kinh tế. Trong một
vài năm trở lại đây nhóm bệnh héo rũ đang là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đến
năng suất lạc ở vùng này. Việc nghiên cứu giải quyết bệnh héo rũ hại lạc nói
chung và bệnh héo rũ gốc mốc trắng nói riêng sẽ có một ý nghĩa thực tế hết sức
to lớn cho người dân trồng lạc trong tỉnh.
Bệnh do nấm Sclerotium rolfsii gây ra, nấm thường xâm nhập trên cổ rễ và

nhiên theo một vài nghiên cứu thì ngô, bông vải không phải là kí chủ của nấm.
Nấm gây bệnh có tính chuyên hoá rộng vì vậy có thể tồn tại ở nhiều nguồn
khác nhau. Nó có thể tồn tại dưới dạng hạch nấm hoặc tản nấm trên các tàn dư cây
bệnh hay trong đất và trên các ký chủ phụ, trên cỏ dại. Trong đất và các tàn dư rơi
rớt lại trong đất thì chủ yếu nằm ở độ sâu khoảng 6cm của tầng đất mặt. S. rolfsii
yêu cầu lượng ôxy cao và thoáng để tồn tại. Vì vậy, trên những tầng đất nhẹ thấy số
lượng của hạch nấm S. rolfsii nhiều hơn trên những vùng đất nặng. Ngoài ra, có
một số ý kiến cho rằng hạt giống cũng mang nguồn bệnh của nấm S. rolfsii.
Nấm thuộc lớp nấm đảm, nhưng giai đoạn hữu tính rất hiếm gặp ngoài tự
nhiên. Giống như các nấm khác trong lớp nấm đảm nấm S. Solfsii có một cấu
trúc gọi là đảm và trên đó các bào tử đảm được hình thành. Bốn bào tử đơn bội
được hình thành và nằm phía trên đỉnh của trụ đảm. Trong điều kiện ẩm độ cao
tại phần tiếp giáp với mô bệnh các bào tử đảm được hình thành. Tầng sinh đảm
không màu hoặc màu vàng, đảm tử có hình quả trứng ngược, chiều dài kích
thước 7 – 9 micromet. Khi chin bào tử đảm có thể bị bắn ra khỏi trụ đảm do trụ
đảm xoắn vặn, tạo điều kiện cho nấm bệnh lây lan [21].
Sợi nấm màu trắng, xốp, không có vách ngăn bao quanh gốc cây bệnh hoặc
lan rộng trên mặt đất. Là nấm hoại sinh có nguồn gốc trong đất, nguồn bệnh tồn
tại chủ yếu trên tàn dư cây trồng, trong đất, trên cây kí chủ phụ dưới dạng hạch
nấm một thời gian khá dài (1-3 năm).
Nấm thuộc loại nấm đất, dễ xâm nhập vào cây khi có điều kiện thích hợp.
Vì vậy rất khó để nhận biết bệnh, khi chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường triệu
chứng biểu hiện trên cây là lúc cây đã bị xâm hại nghiêm trọng. Nhìn kĩ trên
những cây nghi ngờ bị bệnh ta để ý thấy lá cây đổi màu vàng khác lạ, mất sắc
bóng. Nấm tấn công chủ yếu ở phần gốc thân. Tại đó xuất hiện vết thâm, hơi
lõm (dài 2-4cm), biểu bì thân cây bị xé rách. Một thời gian sau lá héo vàng và rũ
xuống trên ruộng. Bao quanh vết bệnh xuất hiện lớp trắng xốp lan dần lên mặt
đất là hệ sợi nấm. Vài ngày sau hạch nấm xuất hiện màu trắng, tròn, khi còn
non. Trưởng thành có màu nâu như hạt cải (1-2mm). Nếu cầm nhổ sẽ đứt phần
thân để lại phần gốc thối rữa [31].

2.2. Tình hình sản xuất lạc
2.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ vì
gieo trồng trên diện tích lớn mà còn vì cây lạc được sử dụng rộng rãi để làm
thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ ngày
càng tăng đã và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với
quy mô ngày càng mở rộng.

11


Mặc dù lạc đã có từ lâu đời, nhưng tầm quan trọng kinh tế của lạc chỉ mới
được xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây. Khi công nghiệp ép dầu lạc
được phát triển ở Pháp (xưởng ép dầu ở Maxxây) bắt đầu nhập cảng lạc từ Tây
Phi để ép dầu, mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn. Công nghiệp
ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế
giới [14].
Trong những năm gần đây, người ta chú ý nhiều đến protein trong hạt lạc,
nhân loại đặt nhiều hy vọng vào các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đói
protein trước mắt và trong tương lai [14].
Theo số liệu của FAO, diện tích trồng lạc tập trung ở các nước Châu Á
chiếm 63,17% tổng diện tích, Châu Phi 31,81%, Châu Mỹ 5,8%, Châu Âu
0,22% [5].
Theo FAO, trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc với tổng diện tích năm
2013 là 25.445.613 ha, năng suất bình quân 17,77 tạ/ha, sản lượng đạt 45.225.332
tấn; tập trung chủ yếu ở 3 châu lục là châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Trong đó,
châu Phi chiếm 12.405.277 ha, năng suất bình quân đạt 9,32 tạ/ha, sản lượng đạt
11.547.431 tấn. Châu Á với diện tích 11.870.766ha, năng suất bình quân đạt
32,25 tạ/ha với tổng sản lượng đạt 29.950.735 tấn. Châu Mỹ với diện tích
1.144.587ha, năng suất đạt 25,23tạ/ha, tổng sản lượng đạt 3.690.854 tấn [24].


24.590.726

1,646

40.475.312

2013

25.445.613

1,777

45.225.332

(Nguồn: FAOSTATS.FAO.ORG/FAOTAT - GATEWAY, 2014)
Số liệu ở bảng trên cho thấy: Diện tích và năng suất sản lượng lạc của thế
giới trong các năm trở lại đây (2010 – 2013) có xu hướng ngày càng tăng.
Diện tích (ha): Diện tích lạc của thế giới trong những năm qua có biến động
12


nhưng ổn định. Năm 2010 diện tích lạc của thế giới đạt cao nhất là 25.477.523
ha, năng suất bình quân 1,6,77 tạ/ha và sản lượng đạt 42.728.784 tấn.
Năng suất (tạ/ha): Năng suất lạc của thế giới trong 5 năm trở lại đây dao
động từ 1,640 - 1,777 tấ/ha. Trong đó năng suất đạt cao nhất vào năm 2013 đạt
1,777 tấn/ha.
Ngày nay, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật như: Sử dụng các
giống có năng suất cao, giống kháng sâu bệnh hại, khả năng chăm sóc, phòng
trừ sâu bệnh hại tốt, áp dụng các quy trình khoa học kỹ thuật phù hợp do đó


2011

223,7

2,094

468,4

2012

220,5

2,134

470,6

2013

216,2

2,276

492,0

(Nguồn: FAOSTATS.FAO.ORG/FAOTAT - GATEWAY, 2014)
Qua bảng số liệu chúng tôi thấy rằng diện tích và sản lượng lạc ở Việt Nam
từ 2010 – 2013 giảm. Diện tích lạc giảm qua các năm, năm 2008 diện tích lạc
của cả nước là 231,4 nghìn ha đến năm 2013 giảm còn 216,2 nghìn ha. Sản
13

(Verticillium dahlia), bệnh héo rũ gốc mốc vàng (Aspergillus flavus), bệnh héo
xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) [1].
Theo tác giả Đỗ Tấn Dũng bệnh héo rũ do các tác nhân nấm và vi khuẩn gây
ra phổ biến như: Aspergilus niger (héo rũ gốc mốc đen); Sclerotium rolfsii (héo rũ
gốc mốc trắng); Rhizoctonia solani (lở cổ rễ); Ralstonia solanacearum (héo rũ tái
xanh). Một trong những bệnh nghiêm trọng là héo rũ gốc mốc trắng gây bởi
Sclerotium rolfsii. Cục bộ những nơi tỉ lệ cây chết lên đến 50% làm giảm năng
suất đáng kể. Đợt dịch năm 2001 làm chết cây hàng loạt ở vùng sản xuất trọng
14


điểm Nghi Lộc Nghệ An gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho người dân nơi đây.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự năm 2002 thành phần
bệnh héo rũ hại lạc ở Quảng Bình gồm: bệnh héo rũ tái xanh do vi khuẩn
Ralstonia solanacearum, bệnh héo rũ gốc mốc đen do nấm Aspergillus niger,
héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii, héo vàng do nấm Fusarium
oysporum, héo rũ gốc mốc vàng do nấm A. flavus, lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia
solani và héo rũ do tuyến trùng Meloidogyne arenaria [13].
Theo Lê Như Cương (2003) thành phần bệnh héo rũ hại lạc ở Thừa Thiên
Huế có 6 đối tượng. Trong đó Rhizoctoia solani, Aspegillus niger gây hại suốt từ
thời kỳ cây con đến chín; bệnh héo rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii gây hại
phổ biến giai đoạn ra hoa đâm tia và làm quả đến chín; bệnh héo rũ tái xanh
Ralstonia solanacearum gây hại rất phổ biến từ ra hoa đâm tia đến chín. Cũng
theo Lê Như Cương, mức độ gây héo trên các vùng sinh thái trồng lạc khác nhau
có khác nhau, với vùng đồi, vùng đất cát ven biển và vùng đất nội đồng thì đất
đồi bệnh gây hại nặng hơn.
Theo Nguyễn Thị Mai Chi và CTV 2002-2004, thiệt hại do nấm S. rolfsii
gây ra ở Việt Nam trung bình ước tính mức giảm năng suất lên đến 60%, riêng
hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh chiếm 20-25%.
Theo Lê Lương Tề (1967) hàng năm trong các vụ lạc xuân và thu thường

cây có giá trị cao thì sản xuất lạc cũng được nâng cao. Vì vậy bệnh héo rũ lạc
chiếm ưu thế trong các bệnh hại gây ảnh hưởng đến năng suất lạc [28].
Bệnh héo rũ lạc phát sinh ở hầu hết các vùng trồng lạc trên thế giới và bao
gồm nhiều tác nhân gây hại khác nhau và có ý nghĩa kinh tế đối với năng suất
lạc chính vì vậy mà sản xuất lạc vẫn bị hạn chế ở nhiều nước trên thế giới.
Suhramanyan, P., Swong kaew-dorredly, JW.Densky, DH Smish cho biết cây
lạc có khoảng 77 loại bệnh phân bố trên toàn thế giới, trong đó có khoảng 31
loài nấm, 2 loài vi khuẩn, loài virus, một sinh thể tương tự Mycoplasma, 4 loài
tuyến trùng và một loài thực vật có hoa kí sinh.
Đối với bệnh héo rũ gốc mốc trắng, ở vùng Geogia của Mỹ, tổn thất do
bệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (N-Kokalis et al., 1984). Nấm gây bệnh
héo rũ gốc mốc trắng S. rolfsii có phổ kí chủ rộng, khả năng lây nhiễm trên 500
loài cây trồng, đặc biệt là những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số loài rau
trồng luân canh với cây họ đậu (APSnet, 2005).
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng là một trong những bệnh hại phổ biến ở hầu hất
các vùng trồng lạc thuộc vùng nhiệt đới và những vùng có khí hậu ấm áp (Kolte,
1984; Zayed et al., 1986; Subrahamanyam et al., 1991). Nấm bệnh có thể gây
hại trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau, nhưng quan trọng và phổ biến
nhất là gây hại trên lạc (Kolte, 1985); bệnh gây hại phổ biến ở các nước Ấn Độ,
Israel và Nam Mỹ, nơi mà bệnh héo rũ gốc mốc trắng là bệnh nguy hiểm bậc
nhất [2].
Hằng năm thiệt hại do bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây ra trên cây lạc ở Ấn
Độ ước tính khoảng 27% về năng suất hoặc hơn nữa (Kolte, 1984), ở Australia
khoảng 25% (Middleton, 1980), ở Mỹ khoảng 25%, có trường hợp 80% năng
suất. Ở Trung Quốc ước tính khoảng 30%. Tỷ lệ giảm năng suất lạc liên quan
16


đến tỷ lệ cây chết trên đồng ruộng và đồ thị tương quan giữa năng suất lạc và tỷ
lệ bệnh gần như một đường thẳng [27]. Bowen, K.L. và cs 1992 cho rằng năng

và mang lại hiệu quả nhất định, tuy nhiên rất khó áp dụng trên diện rộng. Việc
luân canh cây trồng ngô, bông vải với lạc có thể giảm nguồn bệnh hại đáng kể.
[19: 124-126].
17


Biện pháp như cày sâu lấp hạch (15cm) rất hiệu quả vì khi bị vùi sâu thì
hạch nấm S. rolfsii không thể tồn tại quá 45 ngày
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo, Vũ Duy Nam, nấm đối kháng
Trichoderma spp. có khả năng ức chế sinh trưởng của nấm S.rolfsii. Trong đó
nấm Trichoderma viride có khả năng ức chế tốt hơn nấm Trichoderma
hazianum. Hiệu lực ức chế đạt cao nhất khi Trichoderma viride được xử lí trước
khi nấm S.rolfsii phát triển xâm nhập vào cây trồng [6].
Việc sử dụng kết hợp bón vôi và phun thuốc trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng,
tác giả Nguyễn Văn Tùng cho rằng khi bón vôi với liều lượng 300 – 600 kg/ha và
sử dụng thuốc Anvil 1 lít/ha, Tilt 1 lít/ha phun, ngoài tác dụng hạn chế bệnh hại lá
còn có tác dụng hạn chế bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc, tỷ lệ bệnh giảm so với
đối chứng khoảng 6 – 12 lần và năng suất tăng 20 – 50%. Việc sử dụng bón vôi
cho lạc là biện phấp đơn giản, an toàn và mang lại hiệu quả cao [4].
Trồng giống kháng như Southern Runner (giống kháng chuẩn), F84x47-101 đã được thử nghiệm tại Marianna, bang Florida Mỹ cho năng suất khoảng
353% so với giống nhiễm chuẩn Florunner [32].
Các yếu tố vi lượng làm tăng khả năng sinh trưởng của cây, tăng độ nhớt
của nguyên sinh chất, tăng sức đề kháng của cây, đặc biệt các nguyên tố Mn, Cu
có thể làm cho nấm kí sinh không thể phát triển được và bị tiêu diệt [15].
Nghiên cứu về thuốc hóa học trừ bệnh cho thấy: Khi xử lý Benomyl cho
cây lạc (phun vào đất) thì nhận thấy tỷ lệ bệnh héo rũ gốc mốc trắng không
những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Nguyên nhân là do khi sử
dụng Benomyl đã làm giảm số lượng quần thể nấm đối kháng Trichoderma
xuống, từ đó làm cho bệnh tăng lên [19].
Một số thuốc hóa học mang lại hiệu quả phòng trừ bệnh cao khi xử lý đất

Vi khuẩn đối kháng là vi sinh vật tự nhiên có khả năng đối kháng với bệnh
cao, không độc hại và được ứng dụng đa dạng trong nông nghiệp, trong đó vấn
đề được quan tâm nhất là khả năng kiểm soát các bệnh gây ra bởi nấm ở cây
trồng, đây là một vấn đề được chú trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp.
Đa số các vi khuẩn đối kháng đều thuộc hệ vi sinh vật sống ở vùng rễ cây
và sống hoại sinh trong đất. Nó có khả năng phòng chống nhiều loài vi sinh vật
gây bệnh cây chủ yếu, ngoài ra còn có tầm quan trọng chống lại vi sinh vật gây
bệnh thứ yếu (những loài cản trở sự sinh trưởng phát triển của cây trồng) [8].
- Vai trò của vi khuẩn đối kháng:
Các loài vi khuẩn đối kháng đều thuộc hệ vi sinh vật sống ở vùng rễ cây
trồng và sống hoại sinh trong đất (Schlegel, 1981). Trên thế giới đã có nhiều tác
giả nghiên cứu về hiệu lực của vi khuẩn đối kháng với các tác nhân gây bệnh
cây (do vi khuẩn và nấm). Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài vi khuẩn đối
kháng có thể bảo vệ cây trồng, chống lại các vi sinh vật gây bệnh, đồng thời tạo
điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt [26].
Cơ chế tác động của vi khuẩn đối kháng thể hiện:
- Vi khuẩn đối kháng có cạnh tranh với nguyên tố dinh dưỡng sắt (Fe)
(Scher, 1986).

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status