MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc
tế, phát triển kinh tế tri thức…đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của
đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta. Vấn đề đó đang đặt ra nhiệm vụ bức thiết
trong công tác dạy - học ở tất cả các cấp học, là phải đổi mới nội dung cùng
với đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng tích cực hoá hoạt động của
người học, để không chỉ làm cho người học nắm được những tri thức khoa
học mà còn hình thành ở người học những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để người
học tự mình có thể giải quyết được những vấn đề đa dạng, phức tạp mà thực
tiễn đặt ra. Trong nội dung và yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, phương pháp dạy học giải
quyết vấn đề đóng một vai trò rất quan trọng.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay thì những phương pháp truyền thống vẫn
đang ngự trị trong dạy - học ở bậc đại học. Nhiều Giảng viên chưa từ bỏ được
lối dạy cũ, vẫn chủ yếu dạy theo kiểu thầy đọc - trò chép, dạy chay cốt truyền
thụ cho đủ nội dung trong giáo trình, dạy theo kiểu nhồi nhét…Điều đó làm
cho người học nằm trong tâm thế thụ động một chiều, dẫn đến chán học, sợ
học, học để đối phó thi cử, giờ học buồn tẻ và yêu cầu hình thành ở người học
khả năng tư duy, những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong quá trình dạy - học
chưa cao.
Trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta nói chung, trường học
viện Chính trị quân sự nói riêng thì KTCT Mác- Lênin đang là môn khoa học
quan trọng. Bên cạnh vai trò cùng các môn khoa học lý luận khác là trang bị
thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho sinh viên thì KTCT còn giải
đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội đặt ra hiện
nay ở nước ta. Bước đầu hình thành ở người học tư duy về kinh tế…Nhưng
1
học khác. Đây được coi là một phương pháp tổng quát theo hướng tìm tòi,
sáng tạo có thể thỏa mãn cao nhất nhu cầu nhận thức, đem lại hứng thú học
tập cho học sinh. Vì thế phương pháp dạy học GQVĐ đã được rất nhiều tác
giả các lĩnh vực khác nhau quan tâm.
Ở nước ta, phương pháp dạy học GQVĐ được nghiên cứu và sử dụng
phổ biến nhất trong tài liệu “Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu
quả” của tác giả Lê Nguyên Long, Nxb Giaos dục. Trong tài liệu này tác
giả đã đi tìm và xây dựng nhiều THCVĐ khác nhau ở các lĩnh vực: Văn
học, lịch sử…để khẳng định tư tưởng cơ bản của phương pháp dạy học
GQVĐ là đưa quá trình học tập của sinh viên về gần hơn với quá trình tìm
tòi, phát hiện, khám phá của các nhà khoa học. Dạy học theo phương pháp
GQVĐ là phương pháp dạy học đang được đề cao. Trong những năm gần
đây phương pháp dạy học GQVĐ đã được rất nhiều tác giả quan tâm. GS
Vũ Văn Tảo, trong tổng luận “Dạy học giải quyết vấn đề một hướng đổi
mới trong mục tiêu và phương pháp đào tạo” cho rằng “Giair quyết vấn đề
là một ý tưởng xuất hiện trong giáo dục hiện đại, một cách phổ biến và có
hấp dẫn trong vòng hơn một thập kỉ nay”, lấy “vấn đề”, “chủ đề”, “tình
huống có vấn đề” là một hướng cải cách dạy học, lấy “bồi dưỡng năng lực
giải quyết vấn đề” làm một yêu cầu mới của mục tiêu đào tạo. Theo ông
thì: “ý tưởng giải quyết vấn đề cần được nhận thức như một phương thức
đào tạo và cao hơn nữa như một năng lực hình thành trong mục tiêu đào
tạo”. Con người hiện đại phải có năng lực thích ứng khá nhanh với xã hội
thì mới tồn tại được, mới phát triển được. Trong cuộc sống con người phải
có năng lực giải quyết vấn đề mới nảy sinh. Hai tác giả N.G.Kaznsky và
T.S.Nazarôva trong “Lý luận dạy học tiểu học” đã đề cập đến định nghĩa
bản chất của dạy học nêu vấn đề, khái niệm tình huống có vấn đề trong học
tập, cấu trúc tâm lý của dạy học nêu vấn đề, một số thủ thuật xây dựng tình
3
4
có thể vận dụng vào giảng dạy môn KTCT ở học viện chính trị
- Tiến hành thực nghiệm phương pháp giải quyết vấn đề trong việc
nâng cao hiệu quả dạy học Kinh tế chính trị cho học viên học viện chính trị
- Xây dựng quy trình và những điều kiện sử dụng phương pháp giải
quyết vấn đề trong việc nâng cao hiệu quả dạy học phần cho học viên học
viện chính trị.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học Kinh tế chính
trị ở học viện chính trị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu bản chất của phương pháp
giải quyết vấn đề và thông qua thực nghiệm sư phạm nhằm rút ra quy trình,
biện pháp dạy học giải quyết vấn đề có hiệu quả ở trường học viện Chính trị.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1. Những luận điểm cơ bản
- Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp
giải quyết vấn đề trong dạy học môn Kinh tế chính trị.
- Chương 2: Quy trình và điều kiện sử dụng phương pháp giải quyết vấn
đề trong dạy học môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin ở Học viện chính trị.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5.2. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phương pháp
giải quyết vấn đề trong dạy học môn Kinh tế chính trị để đưa ra quy trình áp
dụng vào trong các đơn vị kiến thức của môn học
- Luận văn sẽ làm cơ cơ sở để thực hiện đổi mới phương pháp giảng
dạy trong dạy học KTC
tình huống có vấn đề và kích thích học sinh tự lực giải quyết vấn đề đó một
cách sáng tạo.
Thực tiễn phát triển nền KTTT ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều
vấn đề thường xuyên phải giải quyết, luôn đòi hỏi con người phải suy nghĩ,
hành động tích cực nhằm đạt hiệu quả và lợi ích kinh tế cao nhất. Môn KTCT
là môn khoa học trực tiếp cung cấp hệ thống tri thức về phương pháp luận,
phạm trù và quy luật kinh tế nói chung và KTTT nói riêng cho Sinh viên các
trường đại học, cao đẳng, chính vì vậy bên cạnh nét tương đồng . Do vậy,
muốn đạt mục đích cần phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học môn KTCT cho phù hợp với yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội. Do
đặc thù tri thức của môn học nên bên cạnh những nét tương đồng với các
phương pháp dạy học khác thì phương pháp dạy học kinh tế chính trị mang
những đặc trưng riêng biệt như:
- Tư duy trừu tượng, trừu tượng hóa khoa học là những công cụ chủ
yếu để nhận thức các phạm trù, khái niệm, quy luật kinh tế. KTCT Mác –
8
Lênin là môn khoa học mang tính trừu tượng cao, khác với các môn khoa
học tự nhiên, KTCT không thể tiến hành các phương pháp thực nghiệm
trong phòng thí nghiệm mà chỉ có thể thử nghiệm trong đời sống hiện thực.
Muốn hiểu biết được bản chất của các quá trình kinh tế, hiện tượng kinh tế
đang diễn ra muôn vẻ trong đời thường cần gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên
cứu những yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời để còn lại những biểu hiện phổ biến
nhất, bền vững và ổn định nhất giúp ta tìm ra bản chất của sự việc, hiện
tượng và quy luật kinh tế.
- Phương pháp dạy học KTCT Mác –Lênin mang tính luận chiến cao.
Đặc điểm của khoa học KTCT Mác –Lênin là mang tính giai cấp, tính chiến
đấu, tính giáo dục cao. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của KTCT là
Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp đã có từ lâu, chứ không
phải là vấn đề hoàn toàn mới nhưng đến nay chưa được sử dụng nhiều trong
dạy học Kinh tế chính trị ở các trường đại học, cao đẳng. Dạy học GQVĐ
không chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành mục đích của việc
dạy học. Nó được cụ thể hóa thành một nhân tố của mục tiêu là năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự
phát triển của xã hội tương lai.
1.1.2 Những nét đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học giải
quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề có ba đặc trưng sau:
+ Giảng viên đặt ra trước Sinh viên những bài toán nhận thức có chứa
đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm.
+ Sinh viên tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán nhận thức như là mâu thuẫn
trong nội tâm của mình, hay nói cách khác là đặt Sinh viên vào tình huống có vấn
đề và trở thành nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bài toán nhận thức.
+ Thông qua quá trình giải bài toán nhận thức, Sinh viên lĩnh hội được
nội dung và cách thức giải quyết một cách tự giác, tích cực và hứng thú.
10
* Tình huống có vấn đề trong Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “ Về nguồn gốc, tình huống là một sự
kiện có thực trong đời sống xã hội, với ngững đặc trưng vật lý, sinh lý, tâm lý
xã hội”[12,26]. Theo đó, mỗi cá nhân, cộng đồng cũng như toàn thể xã hội
luôn luôn sống trong các tình huống nhất định, thường xuyên chịu sự tác động
của tình huống và luôn luôn phải tìm cách giải quyết các tình huống đó. Có
những tình huống giản đơn xảy ra trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, cũng
có những tình huống phức tạp xảy ra trong các hoạt động nghiên cứu khoa
học, dạy học... Trong dạy học tồn tại cả hai tình huống thực và tình huống giả
những vấn đề học tập cho chính bản thân mình chứ không phải cho khoa học.
Những vấn đề học tập trong môn KTCT Mác - Lênin luôn chứa đựng những
mâu thuẫn khách quan, nó là tiền đề, là cơ sở để Giảng viên có thể xây dựng
những bài toán nhận thức. Chẳng hạn mâu thuẫn giữa:Sản xuất với tiêu dùng,
Thuộc tính giá trị với GTSD của Hàng hóa, lao động tư nhân và lao động xã
hội của người sản xuất Hàng hóa, cạnh tranh với độc quyền, mâu thuẫn trong
công thức chung tư bản:T - H – T, kinh tế tự nhiên với kinh tế hàng hóa, giá
trị thặng dư với lợi nhuận...
Mâu thuẫn chủ quan là mâu thuẫn giữa vốn tri thức, trình độ nhận thức
của Sinh viên với vấn đề đặt ra của Giảng viên. Khi điều đó làm nảy sinh ý
thức tự giác, sự băn khoăn, day dứt trước vấn đề được nêu ra, lòng ham muốn
nhận thức, giải quyết vấn đề đó thì mâu thuẫn khách quan đã chuyển hoá
thành mâu thuẫn chủ quan.
Như vậy, tình huống có vấn đề không phải bao giờ cũng xuất hiện. Sự
xuất hiện tình huống có vấn đề phụ thuộc vào một số điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất: Tính chất và nội dung của tài liệu đang được nghiên cứu, tức
là có vấn đề học tập, có chứa đựng mâu thuẫn khách quan.
Thứ hai: Sự đầy đủ về tri thức, phương pháp và kinh nghiệm cần thiết của
Sinh viên.
12
Thứ ba: SV có nhu cầu nhận thức và có tính tích cực nhận thức.
Thứ tư: Vấn đề đặt ra có ý nghĩa cấp thiết đối với Sinh viên, gây ra
trong Sinh viên trạng thái tâm lý bức xúc của nhu cầu nhận thức.
Thứ năm: Vấn đề đặt ra phải vừa sức đối với Sinh viên tức không quá
dễ và không quá khó.
Sự sáng tạo của con người chỉ bắt đầu ở nơi xuất hiện tình huống có
vấn đề. Ở đâu không có tình huống có vấn đề ở đó không có sự sáng tạo, bởi
đến làm xuất hiện nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng.
Bài toán nhận thức chia làm hai loại: Bài toán tái hiện và bài toán sáng tạo.
Bài toán tái hiện là bài toán mà Sinh viên có thể tự giải quyết dựa vào
những kiến thức đã nắm được và kinh nghiệm của bản thân, theo một trật tự,
“khuôn mẫu” có sẵn do Giảng viên hoặc sách giáo khoa đưa ra.
Trong KTCT, rất nhiều nội dung kiến thức ta có thể xây dựng bài toán
tái hiện. Chẳng hạn, sau khi được Giảng viên trình bày về các yếu tố cơ bản
của quá trình lao động sản xuất: SLĐ, đối tượng lao động, tư liệu lao động,
SV có thể giải được bài toán tái hiện do Giảng viên đặt ra như sau: Lực lượng
sản xuất gồm những yếu tố nào?
Tương tự như vậy, sau khi hiểu khái niệm Hàng hóa và hai thuộc tính của
hàng hóa, Sinh viên có thể tự giải được bài toán tái hiện: Hãy trình bày hai thuộc
tính của hàng hóa SLĐ?
Trên cơ sở nắm vững nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị ở chương
III: Sản xuất hàng hóa và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa, ta có thể
đặt ra cho Sinh viên bài toán tái hiện ở chương IV: Sản xuất giá trị thặng dư quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản như sau: Hãy cho biết lưu thông
có tạo ra giá trị thặng dư không?
Bài toán sáng tạo là bài toán đòi hỏi Sinh viên phải sáng tạo giải quyết
vấn đề vì không thể dựa vào “khuôn mẫu” có sẵn. Điều này đòi hỏi Sinh viên
phải thực sự có năng lực độc lập suy nghĩ, năng lực tìm tòi phát hiện, năng
14
lực tổng hợp, khái quát hoá vấn đề, năng lực suy luận để rút ra bản chất của
vấn đề, giải đáp đúng yêu cầu của bài toán nhận thức.
Từ những kiến thức lĩnh hội được thông qua giải quyết các bài toán tái
hiện ở trên, tương ứng với những vấn đề đó, Giảng viên có thể đặt ra những
bài toán sáng tạo sau đây:
Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, yếu tố nào giữ vai trò
mà là câu hỏi mang tính chất nêu vấn đề. Nghĩa là câu hỏi chứa đựng:
+ Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ với kiến thức mới giữa cái đã biết
với cái chưa biết, cần phải khám phá nhận thức
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là nghịch lý, một sự kiệ bất ngờ, một điều
gì không bình thường so với cách hiểu của học sinh và đôi khi thoạt đầu có vẻ
như vô lý làm cho học sinh ngạc nhiên.
+ Vấn đề đặt ra có thể là một sự kiện, một hiện tượng mới mà học sinh
không thể dùng những hiểu biết, những vốn kiến thức cũ đề giải thích được.
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là mối quan hệ nhân quả cần phải giải quyết
+ Vấn đề còn được đặt ra trong trường hợp học sinh đứng trước sự lựa
chọn một phương án giải quyết trong số nhiều phương án, mà xem phương án
nào cũng hợp lý.
Tạo tình huống có vấn đề có thể theo nhiều phương pháp khác nhau,
thông thường giảng viên dựa vào vốn kiến thức của các em đã học ở bài
trước, phần trước, dựa vào kinh nghiệm thực tế và các tri thức đã tích lũy
được trong hoạt động thực tế từ đó kết hợp với các kiến thức mới tạo ra
nghịch lý, sự bế tắc hay lựa chọn.
Chẳng hạn, phần I (chương IV) - Sự chuyển hoá tiền thành tư bản,
Giảng viên có thể đề xuất vấn đề như sau: Mọi tư bản đều xuất hiện dưới một
hình thái tiền nhất định nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, không phải
tiền nào cũng là tư bản. Vậy điều kiện nào để chuyển hoá tiền thành tư bản?
Hoặc khi bước vào phân tích phần I- Chương IX: Kinh tế thị trường
16
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Giảng viên có thể đề xuất vấn đề:
Vì sao nói phát triển kinh tế hàng hóa hay Kinh tế thị trường trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan?
* Bước 2. Nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới).
3. Trong lưu thông hàng hóa giản đơn tiền vận động theo công thức
H - T - H (Tiền thực hiện vai trò môi giới trong trao đổi HH) thì tiền có tự đẻ
ra tiền không? (Sinh viên sẽ trả lời là tiền không thể tự đẻ ra tiền)
+ Những kiến thức Sinh viên chưa biết được hoặc biết chưa đầy đủ cần
phải tìm tòi trên cơ sở dẫn dắt của Giảng viên thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở.
1. Lưu thông của tư bản trái ngược với lưu thông hàng hóa giản đơn.
Vậy, tiền trong chủ nghĩa tư bản vận động theo công thức nào? (Sinh viên có
thể trả lời được là tiền vận động theo công thức T - H - T’).
2. Hãy so sánh mục đích vận động của hai công thức: H - T- H với
T- H - T’.(Sinh viên có thể trả lời được nhờ vận dụng kiến thức của chương
III, chỉ ra mục đích vận động của công thức H - T - H là giá trị sử dụng của
Hàng hóa còn mục đích công thức T - H - T’ là giá trị của hàng hóa).
3. Trong hai công thức trên, công thức nào biểu hiện sự vận động
không có giới hạn? (Sinh viên có thể trả lời được câu hỏi này, công thức TH-T’ là sự vận động không có giới hạn).
Ví dụ 2: Khi giảng bài: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam, phần I (tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị
trường ở Việt Nam ), cách làm cũng tương tự như ví dụ trên.
+ Câu hỏi tái hiện:
1. Hãy nêu những điều kiện ra đời và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa?
(Sinh viên sẽ trả lời được: có hai điều kiện là phân công lao động xã hội
và có chế độ tư hữu hoặc các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất).
2. So với nền kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có những ưu thế gì? Cơ
chế kinh tế nào thích ứng với kinh tế hàng hóa? (Sinh viên sẽ trả lời được:
18
Thông qua cơ chế thị trường, nền kinh tế hàng hóa thúc đẩy nhanh sự phát
triển của lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất, tăng năng suất lao động...)
đề học tập mới: Tiền mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách nào?
Hay giá trị thặng dư được sinh ra như thế nào?
ở ví dụ 2, trên cơ sở giải quyết vấn đề, Sinh viên đi đến kết luận: Hiện
nay nước ta có đủ những điều kiện và cần phải phát triển kinh tế hàng hóa,
Kinh tế thị trường. Từ đó Sinh viên có thể đề xuất những vấn đề học tập mới:
Vậy nền KTTT ở nước ta khác gì so với nền KTTT ở các nước tư bản chủ
nghĩa? Đặc điểm và xu hướng vận động của KTTT ở nước ta trong thời kỳ
quá độ là như thế nào?
Để thực hiện tốt 3 bước của phương pháp giải quyết vấn đề cần chú ý
một số điểm sau:
- Những vấn đề nêu ra cho Sinh viên tìm tòi, học tập (dù lớn hay nhỏ)
đều phải diễn ra theo 3 bước nói trên. Một vấn đề đặt ra có thể cho phép Sinh
viên trả lời theo nhiều cách khác nhau, nhưng đòi hỏi Sinh viên phải có sự suy
nghĩ độc lập theo một cách tiếp cận và phương pháp nhất định.
- Trong quá trình thực hiện 3 bước, vai trò của Giảng viên với tư cách
là cố vấn, là trọng tài khoa học, là người dẫn dắt Sinh viên đi tìm lời giải cuối
cùng. Để làm nhiệm vụ đó, Giảng viên thường sử dụng hệ thống những câu
hỏi gợi mở để kích thích Sinh viên nghiên cứu, giải quyết vấn đề. Những câu
hỏi mà Giảng viên đưa ra không nhất thiết hoàn toàn là câu hỏi thuận (câu hỏi
xuôi) mà đôi lúc có thể sử dụng những câu hỏi không thuận (câu hỏi ngược)
để giúp Sinh viên chứng minh, giải quyết vấn đề. Những câu hỏi ngược có tác
dụng rất to lớn trong việc rèn luyện bản lĩnh của tư duy, rèn luyện óc phê
phán, phản biện của người học.
- Để thiết lập được hệ thống câu hỏi phù hợp với phương pháp giải
quyết vấn đề trong KTCT thì đòi hỏi Giảng viên phải thường xuyên và có ý
thức phân biệt, sử dụng thành thạo một số dạng câu hỏi thường gặp trong dạy
học nêu vấn đề, cụ thể:
20
viên trung bình, khá, giỏi và yêu cầu tất cả Sinh viên phải nghe bạn trả lời,
21
sẵn sàng bổ sung ý kiến đóng góp, nhận xét.
- Giảng viên phải nghe câu trả lời của Sinh viên cả về nội dung và
phương pháp. Nếu cần có thể đặt thêm câu hỏi phụ để gợi ý, dẫn dắt Sinh viên
trả lời đúng. Giảng viên phải có thái độ bình tĩnh, không nên cắt ngang câu trả
lời của Sinh viên nếu không cần thiết. Cần tôn trọng, khuyến khích Sinh viên
tích cực tham gia giải quyết vấn đề.
- Giảng viên hướng dẫn Sinh viên các cách thức, biện pháp sử dụng thuật
lôgíc để giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Theo chúng tôi, có những biện pháp sau
để Sinh viên giải quyết nhiệm vụ nhận thức:
+ Biện pháp giải quyết vấn đề bằng phương pháp tương tự. Trong
trường hợp này, có thể dựa vào kinh nghiệm sống của Sinh viên đã có hoặc
vận dụng những kiến thức mà Sinh viên đã có để giải quyết bài tập mới.
+ Biện pháp giải quyết vấn đề bằng phương pháp quy nạp, phân tích,
tổng hợp của hoạt động nhận thức khi Sinh viên tự lực nghiên cứu các hiện
tượng và các sự kiện rút ra từ những kết luận khoa học cần thiết.
+ Biện pháp giải quyết vấn đề bằng phương pháp diễn dịch. Biện pháp
này được sử dụng khi cần thiết phải áp dụng một cách sáng tạo một quy luật
hoặc một phạm trù nào đó trước kia để giải quyết vấn đề nhận thức và lĩnh hội
kiến thức mới.
+ Biện pháp giải quyết vấn đề bằng cách đi tìm nguyên nhân gây ra một
hiện tượng nào đó dựa vào việc phân tích tài liệu học tập, kích thích Sinh viên
thiết lập các mối quan hệ nhân - quả trong các sự kiện được phân tích.
+ Biện pháp giải quyết vấn đề bằng cách nhấn mạnh các tình huống
mâu thuẫn chứa đựng trong nội dung của tài liệu học tập và việc Sinh viên
giải quyết chúng.
1.1.5 Vai trò của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy
học Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
* Nâng cao hiệu quả dạy học.
Hiệu quả dạy học là sản phẩm đạt được sau quá trình dạy học đáp ứng
mục tiêu đặt ra, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước và phù hợp với tình
23
hình thế giới. Hiệu quả dạy học ở các trường cao đẳng và đại học góp phần
quyết định đến việc cung cấp cho xã hội thế hệ lao động trẻ năng động, sáng
tạo, có đủ tri thức và năng lực cũng như khả năng thích nghi với mọi hoàn
cảnh của xã hội, là cơ sở cho sự phát triển xã hội.
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại đã làm cho lượng thông tin tăng lên gấp bội, khoảng 3 năm thì
lượng thông tin lại tăng gấp đôi. Cùng với bùng nổ thông tin thì sự lão hoá tri
thức cũng tăng nhanh trong khi thời gian học tập của Sinh viên các trường cao
đẳng, Đại học có hạn...Vì vậy, đào tạo người lao động theo phương thức cũ sẽ
không theo kịp đòi hỏi thực tiễn năng động của nền KTTT. Vì vậy, hiệu quả
dạy học theo quan niệm mới không chỉ dừng lại ở cung cấp tri thức mà quan
trọng là phát triển khả năng tư duy, hình thành những kỹ năng và kỹ xảo cần
thiết để Sinh viên làm chủ tri thức, tạo ra tri thức mới và rèn luyện bản lĩnh
của tư duy. Phương pháp nêu vấn đề với đặc điểm là phát triển tiềm lực sáng
tạo, hình thành cấu trúc của hoạt động sáng tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
của dạy học hiện nay.
* Tích cực hoá hoạt động dạy của Giáo viên.
Dạy học giải quyết vấn đề đặt ra yêu cầu cao đối với Giảng viên không
chỉ về trình độ chuyên môn mà cả yếu tố đạo đức trong dạy học. Dạy học giải
quyết vấn đề luôn trong bầu không khí sáng tạo. Do đó, chỉ cần một biểu hiện
nhỏ trong việc không tôn trọng ý kiến của Sinh viên dù ý kiến đó sai lầm thì dạy
ra niềm say mê và hứng thú học tập, qua đó sẽ giúp Sinh viên liên hệ được tri
thức với thực tiễn, xây dựng được tri thức mới, hình thành những năng lực
thành thạo trong việc liên hệ và vận dụng tri thức của KTCT vào đời sống thực
tiễn. Theo chúng tôi, tích cực hoá hoạt động học của Sinh viên trong dạy học
nêu vấn đề bao gồm: Tích cực tích luỹ tri thức, tích cực áp dụng tri thức vào
thực tiễn kinh tế - xã hội, tạo ra hứng thú và sự say mê học tập và hình thành và
phát triển tư duy, kỹ năng, kỹ xảo.
1.1.6 Sự phối hợp phương pháp dạy học nêu vấn đề với các phương
25