MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1 Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của SGK trong quá trình
dạy học lịch sử.
Quá trình dạy học là sự tổng hòa các yếu tố như mục tiêu dạy học, nội dung
dạy học, phương pháp dạy học, hoạt động của GV và HS, phương tiện dạy học, môi
trường dạy học... Trong phương tiện dạy học, SGK nói chung, SGK lịch sử nói
riêng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.`
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay phát triển như vũ bão, thành
tựu của nó không chỉ được ứng dụng trong sản xuất mà trong mọi mặt đời sống xã
hội, trong đó có giáo dục. Đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các phương tiện, kĩ
thuật, thiết bị hỗ trợ dạy học. Tuy nhiên, không một phương tiện dạy học nào có thể
thay thế hoàn toàn SGK. SGK có vị trí trung tâm trong tổ hợp sách và tài liệu dùng
trong nhà trường, giữ vị trí chủ đạo đối với các phương tiện dạy học.
Đối với GV, SGK quy định phạm vi và mức độ kiến thức, kỹ năng cần phải
truyền đạt đến HS. SGK là tài liệu quan trọng của GV trong quá trình soạn giáo án,
tiến hành bài giảng, tổ chức lớp học và đánh giá HS.
Đối với HS, SGK là nguồn cung cấp những kiến thức cơ bản của môn học,
phát triển kỹ năng làm bài tập, hình thành và phát triển ở các em phương pháp học
tập, nghiên cứu khoa học, thu thập và xử lý thông tin, vận dụng vào thực tiễn và tự
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình. Là tài liệu thể hiện nội dung chủ yếu của
CT, ngoài việc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, chính xác, hiện đại, có hệ
thống, SGK còn bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tình cảm tốt đẹp của
con người. Nó xứng đáng là người bạn trí tuệ của HS.
Do đó, việc nghiên cứu SGK có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác dạy
học và nghiên cứu khoa học giáo dục, đặc biệt trong thời kì phát triển hội nhập và
đổi mới giáo dục hiện nay.
1.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp
dạy học bộ môn lịch sử.
thực hành, năng lực hoạt động thực tiễn của người học bị hạn chế.
Pháp là nước có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới, đồng thời cũng là
nước hết sức chú trọng đối với việc cải cách giáo dục. SGK lịch sử phổ thông nước
Ccộng hòa Pháp tiếp cận ba xu thế trên khá rõ nét với nhiều ưu điểm vượt trội cả về
hình thức và nội dung. Mục tiêu đề ra của môn học lịch sử THPT ở Pháp bên cạnh
2
2
việc cung cấp kiến thức, còn hướng đến rèn luyện nhiều kĩ năng cho người học. Nhìn
ra thế giới, chúng ta học tập kinh nghiệm biên soạn SGK của nước ngoài, đề xuất
những định hướng cho việc biên soạn SGK Lịch sử sao cho phù hợp với thực tiễn
Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là việc làm hết sức cần thiết.
1.4 Những năm gần đây, nhiều bộ SGK nước ngoài nói chung và SGK lịch
sử nước Pháp nói riêng đã lần lượt được giới thiệu vào nước ta thông qua sách báo,
tạp chí, triển lãm... Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu về SGK lịch sử nước Pháp ở nước
ta còn khá khiêm tốn. Trong phạm vi có hạn của luận văn, chúng tôi mong muốn
giới thiệu một cách cụ thể về cấu tạo SGK lịch sử bậc THPT của cộng hòa Pháp,
trên cơ sở đó so sánh những nét tương đồng và khác biệt với SGK lịch sử Việt Nam
và đề xuất định hướng biên soạn một bài học trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của
nước Pháp, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Cấu tạo
SGK lịch sử bậc THPT của cộng hòa Pháp và khả năng vận dụng vào Việt Nam qua
nội dung: Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rô ma” làm đề tài luận văn
cao học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
SGK có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân
nên từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục cũng như
chung và SGK nói riêng đã giúp chúng ta có được những định hướng cơ bản về việc
sử dụng SGK đạt hiệu quả cao nhất.
2.2. Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học – tâm lí học:
Nghiên cứu SGK không chỉ là đề tài được các nhà khoa học nước ngoài quan
tâm mà các nhà giáo dục học trong nước hết sức chú ý.
Trong cuốn Giáo dục học tập 1 (Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, NXB Giáo
dục Hà Nội 1978), các tác giả đã nêu lên các vấn đề cơ bản của SGK và phương
pháp sử dụng SGK trong học tập của HS và giảng dạy của GV.
Cuốn Xã hội với SGK do NXB Giáo dục phát hành, là tập hợp các bài viết về
CT SGK và việc đổi mới CT SGK được đăng tải trên các báo chí của nhiều tác giả
khác nhau. Bên cạnh những vấn đề như đổi mới CT SGK, nội dung sách, công tác
phát hành, có tác giả đề cập đến quy trình biên soạn SGK ở Việt Nam. Đó là cơ sở
để thấy được những ưu điểm và hạn chế trong việc biên soạn SGK hiện nay và so
sánh với cách biên soạn SGK ở các nước trên thế giới.
4
4
Tài liệu phương pháp dạy học
Cuốn Đổi mới phương pháp dạy học, CT và SGK của tác giả Trần Bá Hoành.
Mặc dù vấn đề SGK không phải là vấn đề trọng tâm của sách nhưng trong đó cũng
có một phần nhỏ trình bày một cách cặn kẽ, cụ thể về SGK như tổ chức biên soạn,
tiến độ triển khai, xuất bản và phát hành SGK. Đặc biệt tác giả còn có những đánh
giá về CT SGK hiện nay cả mặt ưu điểm lẫn hạn chế. Đây là cơ sở để hiểu rõ quá
trình biên soạn SGK ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề tài có những luận cứ xác thực về
những mặt còn tồn tại trong việc biên soạn SGK ở Việt Nam.
Trong cuốn “Phương pháp dạy hoc lịch sử” (NXB Giáo dục, 1992), được tái
ra một số yêu cầu cơ bản đối với SGV, đề xuất xây dựng mô hình SGV hiện đại
môn lịch sử và minh họa một số bài cụ thể ở lớp 11 THPT.
2.2.3 Các nguồn tài liệu khác
Trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục SGK của trường PTTH Việt Nam
từ năm 1954 đến nay của Phạm Thị Kim Anh,1998, Đại học quốc gia Hà Nội và
Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội, tác giả nghiên cứu về lịch sử SGK trải qua các
giai đoạn và tổng kết, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm từ việc
biên soạn SGK lịch sử.
Cuốn Kỉ yếu hội thảo SGK thế kỉ XXI Kinh nghiệm thế giới, thực tiễn
Việt Nam của ban Tuyên giáo trung ương xuất bản tháng 2 năm 2012 đã tập hợp
nhiều bài nghiên cứu có giá trị về đổi mới CT và SGK giáo dục phổ thông.
Trong đó, các tác giả đề cập đến xu thế đổi mới giáo dục trên thế giới, sự cần
thiết phải đổi mới CT, SGK hiện hành, định hướng đổi mới CT giáo dục phổ
thông, SGK sau năm 2015. Các tác giả cũng giới thiệu một số mô hình SGK
của các nước như Pháp, Đức, Ấn Độ, Hàn Quốc, Colombia, bước đầu có so
sánh với SGK Việt Nam. Tuy nhiên, những bài viết đó mới chỉ dừng ở việc
nghiên cứu SGK nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu, so sánh về SGK môn lịch
sử ở Việt Nam với Pháp.
Cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học lịch sử ở trường phổ
thông Việt Nam tại Đà Nẵng, 8-2012. Kỉ yếu gồm ba phần, trong đó phần thứ nhất tập
trung đánh giá CT, SGK hiện hành, đề xuất định hướng đổi mới CT, SGK sau năm
2015. Phần thứ hai là các bài viết tập trung phân tích những giải pháp nhằm đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Những bài viết của các nhà nghiên
cứu lịch sử có giá trị và mang tính thực tiễn cao như: “Từ CT và SGK lịch sử phổ
thông của nước cộng hòa Pháp đến khả năng vận dụng của Việt Nam” của TS.
6
6
Pháp, đề tài còn tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về CT, cách biên soạn, nội dung
SGK lịch sử THPT của Việt Nam để rút ra những ưu điểm và hạn chế.
-
Trên cơ sở học tập kinh nghiệm trong cấu tạo SGK lịch sử THPT của Pháp, đề tài
đề xuất mô hình cấu tạo mới trong SGK lịch sử THPT ở Việt Nam và tiến hành thực
nghiệm sư phạm ở trường THPT của tỉnh Tuyên Quang để chứng minh tính khả thi
của đề tài.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7
7
4.1. Mục đích nghiên cứu
Khẳng định vai trò, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử.
Tìm hiểu mô hình cấu tạo SGK trong dạy học lịch sử bậc THPT của nước
cộng hòa Pháp.
Từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam và đề
xuất mô hình cấu tạo trong SGK lịch sử THPT ở Việt Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về xây dựng và biên soạn SGK của Pháp và
Việt Nam.
- Điều tra thực tế về việc sử dụng SGK lịch sử nói chung và SGK THPT nói riêng
ở một số trường để thấy ưu điểm và hạn chế của SGK hiện hành.
- Tìm hiểu, so sánh mô hình cấu tạo SGK Lịch sử của Pháp và Việt Nam, rút
6. Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT sẽ được nâng cao nếu xây dựng
mô hình cấu tạo SGK lịch sử trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của cộng
hòa Pháp theo những yêu cầu đề tài đưa ra.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Bên cạnh việc khẳng định tầm quan trọng của việc biên soạn SGK lịch sử
THPT, đề tài chỉ ra cấu tạo SGK lịch sử THPT của cộng hòa Pháp, rút ra những
kinh nghiệm tốt có khả năng vận dụng vào Việt Nam. Từ đó, đề xuất xây dựng cấu
tạo SGK lịch sử THPT ở Việt Nam qua nội dung “Các quốc gia cổ đại phương Tây
- Hi Lạp và Rô Ma” trên cơ sở học tập kinh nghiệm của cộng hòa Pháp.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú lí luận dạy học bộ
môn về vấn đề biên soạn và sử dụng SGK lịch sử ở trường THPT.
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân nắm vững hơn kiến thức lịch sử,
kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc sử dụng SGK trong dạy học lịch
sử. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp một ý kiến vào vấn đề đổi mới việc biên
soạn SGK sau này.
9. Bố cục của đề tài
9
9
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm có
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tìm hiểu cấu tạo SGK lịch
thước đo, căn cứ để xây dựng CT. Quan điểm này xuất phát từ chỗ nhà nước, người
thầy độc quyền về kiến thức, mọi kiến thức phải thông qua CT, thông qua người
thầy đến với HS và do đó học ở trên lớp, HS được học những kiến thức mà nhà
trường, người thầy đã định sẵn. Quan điểm này đã tỏ ra lạc hậu vì sự bùng nổ công
nghệ thông tin, công nghệ tri thức, người học có thể tiếp cận nhiều nguồn tri thức
khác nhau.
Thứ hai, tiếp cận về mục tiêu, nghĩa là lấy mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo làm thước đo, làm căn cứ để xây dựng CT. Cách tiếp cận này có ưu điểm là đào
tạo ra thế hệ trẻ, thế hệ phù hợp với chính trị, yêu cầu của xã hội nhưng không đề
cập được năng lực của người học và kiến thức lại bị chi phối, ảnh hưởng bởi mục
tiêu đào tạo.
11
11
Thứ ba, tiếp cận xuất phát từ năng lực của người học, quan điểm này coi
việc học là suốt đời lấy năng lực tự học, tư duy của bộ môn, phương pháp tiếp cận
làm tiêu chí cơ bản để xây dựng CT. Cách tiếp cận này tạo điều kiện hơn cho người
học phát huy được năng lực của mỗi người trong quá trình học tập ở trường, ở nhà
và sau này. Tiếp cận từ năng lực xuất hiện trên thế giới khoảng 15- 20 năm nay cùng
với sự bùng nổ của thông tin, tri thức.
Ở Pháp, CT giáo dục phổ thông của Pháp được thiết kế theo nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc dạy học tích hợp, đặc biệt là cấp THCS. Trong CT cấp
THCS, môn Lịch sử - Địa lí- Giáo dục công dân được tích hợp với nhau.
Ví dụ: CT trung học cơ sở giảng dạy lớp nhập môn Địa lí- Lịch sử - Giáo dục
công dân. Trong những năm đầu tiên THCS, HS học các nguồn tư liệu đơn giản,
lịch sử (khảo cổ học, tranh ảnh, trích đoạn….) học hỏi và đặt chúng trong ngữ cảnh.
Xây dựng những câu chuyện ngắn gọn về lịch sử.
học. Không chỉ quan tâm đến lượng kiến thức trong một chủ đề, CT còn đưa ra
những gợi ý về cách khai thác nguồn kiến thức, cách tiếp cận kiến thức. Tức là chỉ
cho người học, người dạy con đường đi đến tri thức đúng đắn. Nguồn tiếp cận có
thể là Bản đồ, các tác phẩm văn học, các ví dụ tự chọn, các trang Web tra
cứu….Đặc biệt, CT còn chỉ ra những năng lực đạt được sau khi học xong chủ đề
như: năng lực thuyết trình, giới thiệu về một vấn đề lịch sử, năng lực thực hành như
quan sát và chỉ bản đồ….
Ở Việt Nam, Luật giáo dục của nước ta đã khẳng định “CT giáo dục thể hiện
mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung
giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh
giá kết quả giáo dục đối với môn học hoặc trình độ đào tạo” (5;102). Do đó, CT
giáo dục có tính pháp lệnh, song việc thực hiện phải linh hoạt, sáng tạo để đạt trình
độ mà CT quy định.
CT có tính pháp lệnh nên việc xây dựng phải dựa trên cơ sở pháp lí và thực
tiễn:
- Căn cứ pháp lí là những văn kiên, nghị quyết, chỉ thị... của Đảng và Nhà
nước (nghị quyết các Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, Luật Giáo dục, Quyết
định của Quốc hội, chỉ thị của Bộ Giáo Dục và Đào tạo...)
- Căn cứ thực tiễn là những thành tựu, kinh nghiệm giáo dục của nước ta qua
các thời kì lịch sử.
13
13
Như vậy, nếu Pháp thiết kế CT dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thì Việt
Nam thiết kế CT theo hướng tiếp cận về nội dung cho nên mới có những điểm khác
nhau như trên.
Việc xây dựng CT Lịch sử ở trường phổ thông ở Việt Nam vừa qua đã đáp
của chúng ta hiện nay quá nhẹ về kiến thức kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. CT
của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc nặng về chiến tranh, đấu tranh giai cấp, chính
trị dẫn đến nhàm chán, khó khăn trong khi bối cảnh lịch sử thế giới có nhiều thay
đổi. CT được xây dựng theo hướng coi trọng việc trang bị kiến thức ho HS. Việc đề
cập đến một số năng lực còn hạn chế, mới dừng ở mục tiêu giáo dục. Việc chuẩn bị
cho HS tính năng động tự học, tự tìm hiểu chưa được chú trọng nhiều.
* Về SGK lịch sử:
(1) Quan niệm về SGK
Ở Việt Nam, có một số người quan niệm chưa đúng về vị trí, vai trò của
SGK. Họ cho rằng, SGK chỉ là một tài liệu rút gọn, thông báo tóm tắt nội dung của
khoa học lịch sử. Trước khi hiểu đúng về vai trò của SGK, cần phải hiểu thế nào là
SGK? SGK có những chức năng cơ bản gì?
Cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông (NXB Phương Đông) giải thích: SGK là
sách soạn theo CT giảng dạy ở trường học. Cuốn từ điển Anh Việt (Oxford)- NXB
Thanh niên – 2002 định nghĩa: SGK là quyển sách chứa đựng thông tin được dùng
trong nghiên cứu môn học nào đó.
Cách định nghĩa SGK tuy có khác nhau về hình thức biểu đạt từ ngữ,
nhưng đều thống nhất ở bản chất: SGK là một công cụ dạy học trong nhà
trường, là yếu tố quan trọng của quá trình tổ chức dạy học môn học với hai
nhóm chức năng chính là cung cấp thông tin khoa học và tổ chức hoạt động dạy
học.(4;1) Từ khái niệm chung về SGK, có thể thấy, SGK lịch sử là quyển sách
được soạn theo CT giảng dạy môn lịch sử, chứa đựng thông tin được dùng trong
nghiên cứu để dạy học lịch sử.
Trong quá trình dạy học, SGK ở vị trí logic sau đây:
Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu các môn học và hoạt động
giáo dục
SGK
Ở Pháp, CT lịch sử của Pháp được cấu trúc theo các chủ đề lịch sử nhất định.
Các chủ đề lịch sử được thiết kế như sau:
+ Phần giới thiệu khái quát chủ đề: Trong phần này, các tác giả trình bày
khái quát nội dung của toàn chủ đề và đặt ra một câu hỏi dưới dạng bài tập nhận
thức. Sau đó, ít nhất hai kênh hình mang tính điển hình, tiêu biểu cho toàn chủ đề
16
16
được trình bày. Cuối cùng là một sơ đồ niên biểu, trên đó đề cập tới tất cả những
mốc thời gian tiêu biểu nhất cho toàn chủ đề. Sơ đồ niên biểu này có tác dụng định
hướng cho hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của HS.
+ Phần các tiết học (cours) trong chủ đề chung: Phần các tiết học này ít hay
nhiều (thông thường từ 2 đến 4 tiết) phù thuộc vào nội dung của những chủ đề khác
nhau. Đây là phần trọng tâm của cả chủ đề và nó bao gồm phần bài viết (kênh chữ)
và phần cơ chế sư phạm (kênh hình, tài liệu tham khảo và câu hỏi).
+ Phần hồ sơ tư liệu: Phần này không có bài viết mà chỉ có tư liệu tham
khảo và kênh hình. Sau mỗi tiết có ít nhất một phần hồ sơ tư liệu, có những tiết
có hai hoặc ba phần hồ sơ tư liệu. Tài liệu tham khảo là tư liệu gốc và sau mỗi tài
liệu và kênh hình là một hệ thống câu hỏi để GV tổ chức, hướng dẫn để HS tự
chiếm hội tri thức.
+ Phần bài tập và ôn tập: Phần này hệ thống lại toàn bộ những nội dung cơ
bản của toàn chủ đề mà HS cần phải nắm dưới dạng câu hỏi, sơ đồ, bảng biểu và
cách thức trả lời các bài tập nhận thức đầu của chủ đề hay đầu các tiết. Bên cạnh đó,
các trang Website có các bài tập lịch sử có liên quan đến chủ đề cũng được giới
thiệu để GV và HS có thể tham khảo.
Ở Việt Nam, SGK được thiết kế theo các phần, chương, bài, tiết. Trong đó,
mỗi một bài bao giờ cũng có:
một cách khái quát nhất về chủ đề mà các em sẽ được học. Nhìn chung, cấu tạo
SGK lịch sử của Pháp có một sự kết hợp hài hòa giữa nội dung bài viết và cơ chế
sư phạm. Sự phong phú, đa dạng của cơ chế sư phạm sẽ góp phần làm cho nội
dung bài viết trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn đối với người học. Ngược lại, tính
khoa học, cơ bản trong nội dung bài viết cũng làm cho cơ chế sư phạm trở nên
sinh động, hấp dẫn hơn.
Ở Việt Nam, đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về cấu tạo SGK nói
chung và SGK Lịch sử nói riêng. Hiện nay tồn tại hai quan niệm cơ bản sau:
Quan niệm thứ nhất: Từ lâu, nhiều nhà giáo dục lịch sử nước ta cũng như
nước ngoài thường phân chia nội dung SGK ra hai phần: “kênh chữ” và “ kênh
hình”.
“Kênh chữ”, chỉ tất cả những phần có chữ viết, bao gồm bài viết chính cho
tiết học và những phần khác như câu hỏi, tóm tắt mở đầu, tư liệu tham khảo, chú
thích…là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong SGK để trình bày nội
18
18
dung tri thức của môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập, đánh giá, kiểm tra kết
quả học tập của HS.
Kênh hình bao gồm những ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị…. Theo
chức năng hoặc mục đích sử dụng, kênh hình được chia làm 5 loại: minh họa; cung
cấp thông tin; Vừa minh họa vừa cung cấp thông tin; rèn kĩ năng thực hành, kiểm
tra kiến thức.
Cách phân chia cấu tạo SGK theo loại “kênh hình” và “kênh chữ” mới nhấn
mạnh ý nghĩa về mặt thông tin để HS nhận thức nội dung bài học chứ chưa làm rõ
chức năng, nhiệm vụ của mỗi phần trong SGK lịch sử.
Quan niệm thứ hai: Quan niệm này được các nhà giáo dục lịch sử tán thành,
Phần tóm tắt của SGK Lịch sử được đặt ở cuối mỗi bài, nhất là trong SGK
cấp THCS, đây la phần khái quát những kiến thức cơ bản HS cần phải hiểu. Đây là
lượng kiến thức tối ưu trong học tập một bài của SGK, tức là kiến thức không thể
thiếu được đối với nhận thức lịch sử trong điều kiện cụ thể của việc học tập và đạt
kết quả cao nhất.
Lời khuyên HS về sử dụng sách: Nêu ngắn gọn phương pháp tra cứu mục lục,
tìm hiểu các thuật ngữ, những vấn đề cơ bản của sách, hướng dẫn làm bài
tập….Đây là điều kiện cần thiết trước tiên để giúp GV và HS khai thác, tận dụng hết
vai trò, chức năng của SGK.
“Cơ chế sư phạm” là chỉ tất cả những thành tố trong SGK, trừ bài viết, dành
cho một tiết học, bao gồm các câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bài đọc thêm,
phần minh họa dừng trực quan quy ước khác như (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị…).. Nội
hàm cơ chế sư phạm rộng hơn “kênh hình”. Cơ chế sư phạm là một nội dung đặc
biệt quan trọng của SGK, không chỉ dùng để minh họa, hỗ trợ cho bài học mà còn là
nguồn kiến thức cung cấp cho HS trong học tập. Phần cơ chế sư phạm không phải là
phần phụ mà là một thành tố quan trọng của nội dung SGK Lịch sử và luôn luôn
gắn với bài viết. Do đó, khi biên soạn SGK cần chú ý đến mối quan hệ gắn bó, mật
thiết này.
Trên thực tế, cách phân chia “bài viết” và “cơ chế sư phạm” tỏ ra dễ tiếp
nhận, vì nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần cơ bản của SGK với nhau.
“Bài viết” là bộ phận chủ yếu mà HS nắm vững, còn “cơ chế sư phạm” giúp HS
hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức, kết quả học tập của mình, phát triển năng
lực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo.
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
20
20
- Đối với GV
21
chính trị của Đảng; những tấm gương sáng trên các mặt trận chính trị, quân sự, văn
hóa xã hội… Từ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử chân thực, cụ thể đã khơi
dậy trong HS những tình cảm đạo đức trong sáng, cao đẹp. Giáo dục cho các em có
lòng yêu quê hương đất nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc,
trân trọng đối với các di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; trân trọng
các di sản văn hóa, hình thành những phẩm chất cần thiết của người công dân, có
thái độ tích cực với cộng đồng và xã hội, yêu lao động, sống nhân ái…
Thứ ba, ý nghĩa về mặt phát triển kĩ năng
Trên cơ sở lĩnh hội những kiến thức cơ bản, SGK chú trọng rèn luyện cho
HS những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng sử dụng SGK, kĩ năng phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử và các tình huống học tập
vào cuộc sống. SGK còn là tài liệu quan trọng nhất hỗ trợ HS trong quá trình tự học,
tự nghiên cứu; củng cố những hiểu biết đã có, kiểm tra đánh giá, tra cứu, tham khảo,
ứng dụng, góp phần hình thành, phát triển các kĩ năng, phương pháp giảng dạy của
GV và học tập của HS.
Ngoài ra, sự chuẩn xác của ngôn ngữ SGK còn góp phần giúp HS phát triển
ngôn ngữ, vốn từ, khả năng trình bày lời nói và ngôn ngữ viết.
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng CT và biên soạn SGK Lịch sử ở trường THPT
Việc xây dựng CT lịch sử của nước ta phải tuân thủ những nguyên tắc chỉ
đạo cơ bản sau:
Thứ nhất, CT phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, được
thể hiện ở mục tiêu bộ môn.
Mỗi giai đoạn lịch sử có yêu cầu nhất định đối với giáo dục lịch sử trên cơ
sở mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn. Nếu trong thời kì kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ cứu nước, nhiệm vụ trọng tâm của việc dạy học lịch sử là
giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc để góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến đấu,
đó, CT lịch sử ở trường phổ thông cần cung cấp cho HS những kiến thức về lịch sử
dân tộc và lịch sử thế giới. Các em sẽ nhận thức mối quan hệ, ảnh hưởng, tác động
giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế và khu
vực mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình.
Thứ tư, CT quán triệt nguyên tắc “hiện đại, cơ bản, phù hợp thực tiễn Việt
Nam”
23
23
Tính hiện đại của CT nghĩa là phải đề cập được những thành tựu mới nhất,
tương đối ổn định của khoa học lịch sử, của quan điểm của đảng, của lý luận dạy
học. Nguyên tắc này về cơ bản đã phản ánh nhiều thành tựu của sử học hay những
sự kiện mới cập nhật hơn, đúng đắn hơn. Nó phản ánh được quan điểm của Đảng
trong giáo dục lịch sử, phản ánh qua đánh giá các sự kiện, nhân vật, phản ánh việc
lựa chọn các sự kiện, hiện tượng của bộ môn.
Tính cơ bản của CT nghĩa là CT phải lựa chọn được những sự kiện, hiện
tượng cơ bản nhất của xã hội loài người và của dân tộc để cung cấp, giảng dạy cho
cho HS. Kiến thức cơ bản được xác định là “chuẩn” là thước đo kết quả học tập của
HS trong đánh giá, kiểm tra chung. Kiến thức cơ bản có thể hiểu là kiến thức tối ưu
trong học tập, tức là những kiến thức quan trọng nhất mà HS cần nắm vững để đạt
được yêu cầu học tập, phù hợp với trình độ của CT (30; 81)
Từ quan niệm cơ bản trên, CT phải tập trung vào những sự kiện, nhân vật,
quá trình lịch sử tiêu biểu của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người và dân
tộc, nhấn mạnh các khái niệm lịch sử cơ bản, những quy luật quan trọng nhất.
Tính dân tộc nghĩa là phải ưu tiên giành một thời lượng thỏa đáng để HS học
lịch sử dân tộc (Quốc sử). Lịch sử thế giới học song song với lịch sử dân tộc, đi
trước một bước làm nền cho lịch sử dân tộc, giúp HS hiểu hơn về lịch sử dân tộc.
1.1.5 Xuất phát điểm của vấn đề
1.1.5.1 Mục tiêu bộ môn
Luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa X thông qua ngày 25/12/2001 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo
những con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm
mĩ về nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” (25; 8)
Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lí
luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục
phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ đặc trưng, nội dung của môn học và tình
hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể. Mục tiêu giáo dục
phổ thông quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, yêu
cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đối với giáo dục.
Mục tiêu của môn Lịch sử trường phổ thông nhằm giúp cho HS có được
những kiến thức cơ bản cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần
25
25