MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Toàn cầu hóa cùng với quá trình giao lưu văn hóa giữa các quốc gia
trên thế giới đã làm cho văn hóa nhân loại càng phong phú, sinh động. Trong
quá trình này, các nền văn hóa bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau dẫn
đến sự phát triển, biến đổi không ngừng. Trong bối cảnh nước ta đang đẩy
mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc đang đặt ra những vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết. Việc
quan tâm hàng đầu trong thời điểm này là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những
tinh hoa văn hóa nhân loại với phương châm “hòa nhập không hòa tan”. Là
một lĩnh vực tinh tế của văn hóa, văn học nghệ thuật nói chung và văn học nói
riêng có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa. Nghiên cứu văn hóa trong mối
quan hệ với văn chương đang trở thành một hướng đi mới trong việc khám
phá cái hay, cái đẹp của văn chương.
1.2 Cùng đội ngũ nhà văn các dân tộc thiểu số như: Nông Quốc Chấn,
Bàn Tài Đoàn, Triều Ân, Vi Hồng, Nông Minh Châu, Lò Ngân Sủn, Cao Duy
Sơn, Lâm Tiến… luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác
của mình, Hứa Vĩnh Sước – Y Phương là một trong số những nhà thơ như
vậy. Người trai Tày sinh ra và lớn lên ở làng Hiếu Lễ, dưới chân núi Bo Păn ở
gần biên giới Việt – Trung, thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) nổi lên như
một gương mặt thơ tiêu biểu, xuất sắc, một phong cách riêng, độc đáo cho
vùng văn hóa dân tộc miền núi vừa đậm đà bản sắc “người đồng mình”, vừa
rộng mở giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn để hợp lưu thành con sông văn
chương Việt Nam.
1
2
chương Y Phương. Tuy thế, việc đánh giá, thẩm định của giới nghiên cứu về
ông chủ yếu tập trung ở thể loại thơ, còn tản văn thì hầu như ít được nhắc đến
trong khi đây là một trong những thể loại mới mà ông gặt hái được nhiều
thành công. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Bản sắc văn hóa dân tộc
trong tản văn Y Phương” với mong muốn sẽ đưa tới một cái nhìn toàn diện
hơn khi đánh giá những giá trị nổi bật của tập tản văn và bước đầu thấy được
một số đóng góp của tản văn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về thơ Y Phương
Thơ Y Phương mang bản sắc rất riêng, độc đáo đã thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà văn, giới nghiên cứu, phê bình văn học, như: Tế Hanh, Phạm
Hổ, Chu Văn Sơn, Nguyễn Hữu Tiến, Trúc Thông, Hồng Diệu, Thái Vĩnh
Linh, Tạ Duy Anh, Đỗ Trung Lai, Trần Mạnh Hảo, Phạm Quang Trung, Lê
Thị Bích Hồng, Bảo Thu…
Nhận xét về thơ Y Phương Nguyễn Hữu Tiến nhận thấy: “Thơ Y Phương
vừa hiện đại vừa dân tộc là bởi vì anh đã kết hợp truyền thống văn hóa của
quê hương mình với mọi miền quê của đất nước”. (Nguyễn Hữu Tiến: Y
Phương – Một cây bút chung thủy với quê hương. Thơ Y Phương – NXB Hội
Nhà Văn 2002.)
Tác giả Tạ Duy Anh đánh giá Y Phương là: “Người gảy khúc đàn trời để
viết những bài ca vút lên từ đất, ca ngợi xứ sở đã nuôi ông thành thi sĩ”. (Tạ
Duy Anh, Người gảy khúc đàn trời, Thơ Y Phương, Nxb Hội nhà văn, 2002)
TS Chu Văn Sơn nhận thấy sự gắn kết sâu sắc của Y Phương với cội
nguồn xứ sở: “Sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp tim thầm kín,
bền vững nhất trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y
Phương”. (Chu Văn Sơn, Giọng hát Y Phương trong Tiếng hát tháng Giêng,
Nxb Hội nhà văn, 2002)
Người ta phải yêu tiếng mẹ đẻ cái đã. Yêu hết mình mới có thơ ca. Yêu từ tim
4
gan bên trong xương thịt mình. Cảm xúc sáng tạo không phải là thứ đặt
hàng”.(15-224 Người đàn ông sinh ra ở làng Hiếu Lễ”).
Các nhà nghiên cứu, phê bình trong các bài viết mới chỉ nhìn nhận hay
đánh giá tác phẩm của ông trên một vài phương diện.
Những năm gần đây, thơ Y Phương thu hút nhiều nghiên cứu, trong đó
có một số luận văn đặt thơ Y Phương trong mối liên hệ với văn hóa, với bản
sắc văn hóa dân tộc”: Đó là: “Bản sắc dân tộc trong thơ Y Phương – Dương
Thuấn” (Hà Thị Thu Trang, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007); “Ngôn từ nghệ
thuật trong thơ Y Phương” (Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2011); “Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn” (Nguyễn Thị Thu
Huyền, Đại học Thái Nguyên, 2009)....
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tản văn Y Phương
Là nhà thơ Tày thành danh, liên tiếp trong hai năm 2009-2010, Y
Phương ra mắt bạn đọc hai tập tản văn “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng
dao quắm” (Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành) và tản văn “Kung fu người Co
Xàu”(Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2010) đã thu hút nhiều độc giả
và giới nghiên cứu phê bình.
Nhận xét về tập tản văn Y Phương, Lâm Tiến viết “Mỗi tản văn của Y
Phương như một lát cắt, một tầng vỉa làm lộ dần chiều sâu văn hóa của quê
hương, của dân tộc. Y Phương không phải chỉ kể lại, tả lại những sự vật, những
hiện tượng mà đi sâu phân tích ý nghĩa cội nguồn của nó, đẩy những sự kiện,
tình huống đi đến tận cùng để từ đó khám phá, phát hiện tâm hồn, tính cách dân
tộc, nói rộng ra là ngọn nguồn, chiều sâu văn hóa của dân tộc”.
Tuy Hòa cho rằng “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm
không khác gì những bài thơ mà Y Phương từng tin cậy “Câu hát thiêng liêng
- Phương pháp liên ngành (văn hóa học, dân tộc học...).
- Phương pháp đối chiếu so sánh.
6
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn của chúng tôi góp phần xác định vị trí,
những đóng góp của tản văn Y Phương trong tản văn hiện đại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn của chúng tôi hi vọng sẽ có đóng góp
trong việc phát huy và bảo tồn những giá trị truyền thống của bản sắc văn hóa
dân tộc.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, nội dung của luận
văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Quan niệm về thể loại, một số vấn đề chung về bản sắc văn
hóa dân tộc và vị trí của tản văn trong văn nghiệp Y Phương.
Chương 2: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nội dung tư
tưởng trong tản văn Y Phương.
Chương 3: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nghệ thuật.
7
NỘI DUNG
Chương 1
Quan niệm về thể loại, một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa dân tộc
và vị trí của tản văn trong văn nghiệp Y Phương
1.1 Quan niệm về thể loại
“ Thể loại tản văn khai sinh từ những thập kỉ đầu thế kỉ XX nhưng nó
tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá
nhân. Tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc
biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời
và sức sống mạnh mẽ”. [293,294]
Trong bài tản văn trên báo văn nghệ 2011, tác giả Nguyễn Thị Lan cho
rằng tản văn là một thể loại văn học độc lập:“Tản văn có những đặc điểm
khác với những thể loại khác. Tản văn là những bài viết tản mạn tương đối tự
do; về dung lượng khá ngắn gọn, hàm súc; về kết cấu: có sự linh hoạt tất cả
các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật; về nội dung: thường biểu
hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng quan trọng nhất là thể hiện
đậm nét dấu ấn cá nhân của người viết; về mặt thẩm mỹ: tản văn đứng giữa
thơ và truyện ngắn”.
1.2 Một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa dân tộc
1.2.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Theo nghĩa chung nhất, văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động
sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành
những chuẩn mực - giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ giá trị xã hội, một thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc.
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Văn hóa”.
Trong cuốn Từ điển bách khoa Xô viết: “Văn hóa là một tổng thể các
giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra và phát triển theo
9
lịch sử, khác với các đối tượng tự nhiên” (Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc
trưng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở Người Việt (Trong sự so
sách với dân tộc khác), Nxb. Đại học quốc gia, 2002, tr16).
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng:“Văn hóa là mối quan hệ
giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế
giới thực tại trong biểu tượng” [Phan Ngọc (1988), Bản sắc văn hóa Việt
hệ hay một kiểu lựa chọn riêng của một cộng đồng về một phương thức ứng
xử nào đó, khiến cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo nhằm phân
biệt với các dân tộc khác.
Nói đến bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là nói đến những tinh hoa,
những giá trị bền vững được hun đúc, vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử
hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những giá trị
ấy, những tinh hoa ấy đã tạo nên những nét đặc sắc, riêng có ở cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, trong con người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch
sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó không
phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được
hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa.
Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng,
khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân
tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc
văn hóa dân tộc là cái "hồn", là sức sống nội sinh, là “thẻ căn cước” của mỗi
dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một
cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập.
Điều đó đã được thể hiện trong quan điểm chỉ đạo, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước. Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII xác định “xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ
11
đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người”. Trong cương lĩnh xây dựng
đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm
2011), Đảng ta tiếp tục hoàn chỉnh: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng,
Theo GS Trần Đình Sử: “Bản sắc dân tộc là thuộc tính độc đáo của một
nền văn học, vừa là biểu hiện cái chung của nền văn học ấy vừa phân biệt nó
với dân tộc khác” [Trần Đình Sử: về bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam
và con đường của thơ, Tạp chí văn học số 11, 1994, tr19].
Tác giả Nguyễn Hùng Vĩ đưa ra ý kiến: “Bản sắc dân tộc không phải cái
gì đó tiên thiên, có sẵn trong cội nguồn mà nó luôn luôn được sáng tạo và bồi
đắp. Từng thế hệ nhà văn đã sáng tạo nên bản sắc dân tộc của văn học Việt
Nam”. [Nguyễn Hùng Vĩ: Bản sắc dân tộc như là sự vận động, Tạp chí văn
học số 11 năm 1994].
Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết bởi trước hết văn học có
thể coi là một bộ phận nằm trong chỉnh thể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn
khi sáng tạo tác phẩm của mình đều phải dựa trên một nền tảng rộng lớn là
văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Có thể coi văn học là một tấm gương
vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộ mặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó.
Đặc biệt văn học sẽ kết tinh toàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong
thế giới nghệ thuật của mình. Bielinxki từng viết: “Văn học cũng như mọi
loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ.
Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng, một dân tộc nhất
định. Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa,
phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình. Vậy
tính dân tộc được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một
“thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo”.
Bàn về tính dân tộc trong trong văn học, nhà nghiên cứu người Nga A.
Tôn xtôi cho rằng: “Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất
13
đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật…”.
Quan điểm đó rất đúng bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng
Từ rất lâu đời người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Do
có mặt sớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủ được
những vùng thung lũng phẳng. Việc trồng lúa nước của người Tày được ghi
dấu trong truyền thuyết Phú Lương Quân của dân tộc mình. Vì địa hình đồi
núi cao, hệ thống sông, suối thường thấp hơn các cánh đồng, đám ruộng, nên
từ xa xưa người dân đã biết đào mương, đắp phai, bắc máng, làm cọn lấy
nước lên ruộng và lợi dựng sức nước để giã gạo.
Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu, cây ăn quả…
Các loại cây công nghiệp cũng được người dân chú trọng phát triển như thuốc
lá, trẩu, hồi, tre, trúc…
Người Tày rất chú trọng phát triển về chăn nuôi. Bởi ngoài trồng trọt,
chăn nuôi cũng đem lại nguồn thu lợi đáng kể cho kinh tế hộ gia đình. Từ bao
đời nay, dân tộc Tày đã có quan niệm “tu mò nhò pỏ khỏ” (con bò giúp đỡ
người nghèo). Cư dân Tày cổ cũng đã biết thuần dưỡng trâu để phục vụ sản
xuất. Chính vì vậy con trâu được chọn làm vật tế lễ trong lễ hội “Lồng
Tôồng”, hình đầu trâu được treo trong nhà ở những chỗ trang trọng nhất. Điều
này thể hiện tín ngưỡng của dân tộc đối với con vật sống gần giũ và có ích
trong đời sống của người dân.
Săn bắt, hái lượm cũng là một nét phong tục quen thuộc của dân tộc Tày,
đặc biệt là nghề đánh bắt cá ở sông, suối. Hầu như gia đình người Tày nào
cũng có dụng cụ để đánh bắt cá (bằng chài, lưới, vó, đơm…). Một số người
còn chủ yếu sống dựa vào nghề này.
Dân tộc Tày rất nổi tiếng với các nghề thủ công, như: đan lát các vật
dụng gia đình bằng tre, trúc, mây; đục đẽo đá làm cối giã, cối xay; rèn sắt,
dao… Họ biết trồng bông, làm sa quay, làm khung cửi dệt vải, và nhất là có
kỹ thuật nhuộm tạo ra loại vải màu đen rất đặc trưng (màu chàm) để may
15
bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh khảo, chè lam, bánh trứng kiến, bánh
cuốn… đã trở thành nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày.
Nước chè của người Tày chủ yếu được nấu bằng các loại lá cây do đồng
bào hái trên rừng và đều có tác dụng về y học. Từ lâu, người Tày đã biết cất
rượu bằng ngô, gạo, sắn ủ với men lá tự chế. Rượu được uống trong sinh hoạt
ngày thường, khi có khách đến nhà chơi thể hiện lòng hiếu khách vào những
ngày lễ tết.
Người Tày từ lâu đã cư trú tập trung thành bản. Vì thế, tên bản thường
gọi theo tên cánh đồng, khúc sông suối, hay dốc núi. Ở những nơi đất rộng
ruộng nhiều có bản tập trung tới hàng trăm nóc nhà, nơi ruộng ít thì cũng dăm
chục nóc nhà. Bản làng thường dựa lưng vào núi, trước mặt trông ra cánh
đồng. Nhà ở của dân tộc Tày thường là nhà sàn, nhà sàn đá, nhà đất; mái nhà
lợp bằng ngói âm – dương hoặc lá cọ, lá gianh…
Người Tày có câu nói “Chiêm slao, chiêm tin slửa” (kén gái nhìn tà áo)
để nói về tài nghệ của người phụ nữ Tày trong việc trồng bông, kéo sợi vải,
nhuộm chàm, cắt quần áo... Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện rất rõ qua trang
phục.
Trong trang phục truyền thống của dân tộc, “cả nam lẫn nữ đều mặc quần
áo màu chàm và hầu như cùng một kiểu, không thêu trang trí” [Nguyễn Đăng
Duy, Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc,
2004, tr290]. Riêng chiếc áo của phụ nữ thường may vừa vặn cơ thể: hơi nhân
thêm eo, ống tay nhỏ để tôn những đường nét của cơ thể. Khi mặc áo, bao giờ
người phụ nữ cũng thắt ra ngoài một chiếc thắt lưng bằng vải chàm để xõa
mối ra đằng sau tạo nên sự mềm mại. Người phụ nữ Tày cũng mặc áo dài năm
thân, cài khuy áo bên nách phải như nhiều dân tộc khác, nhưng vẫn tạo ra
dáng vẻ riêng của mình, nhờ thân áo dài chấm gót, tay áo hẹp bó sát giống
như áo dài của phụ nữ Kinh, cổ áo không ôm khít vòng cổ như áo dài Kinh,
17
thảo hiền, mừng cho cuộc sống mới… Tất cả các điệu si lượn đó đã tạo nên
một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ của dân tộc Tày.
Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần. Các thần đều được gọi là
ma (phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổ
tiên… Bên cạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức của dân
tộc này còn có lại ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người. Đây là một loại ma
ác, thường làm hại nên người Tày rất ghét, sợ những ai bị mang tiếng là ma
gà. Mỗi khi gia đình có việc vui, buồn, ốm đau, bệnh tật… dân tộc Tày đều
hay mời thày mo, thày tào, bà bụt (pựt) về để hành lễ.
Trong một năm, người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác
nhau, Những dịp tết dù nhỏ hay to, người Tày đều làm những thứ bánh theo
từng thời điểm. Các loại bánh trái luôn biểu hiện cho bản sắc dân tộc của dân
tộc. Ví như mùng 3 tháng 3 là ngày tết ăn xôi ngũ vị, bánh trứng kiến; rằm
tháng bảy là tết bánh gai, bánh dợm và ăn thịt vịt quay… Đặc biệt nhất là
những ngày hội “Lồng Tôồng” (xuống đồng) tổ chức vào dịp đầu xuân ở
nhiều địa phương trong vùng với nhiều hình thức văn hóa và tín ngưỡng dân
gian mang đậm bản sắc dân tộc càng làm phong phú hơn đời sống văn nghệ,
đời sống tín ngưỡng của người dân.
Người Tày có kho tàng truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, tục ngữ,
truyện thơ phong phú, tiêu biểu là truyện Qủa bầu, Thạch Sanh, Cẩu Khây,
Phú Lương Quân, Báo Luông - Sao Cải, Khảm hải (vượt biển)… Ngoài ra,
dân tộc tày còn có dân ca với các làn điệu đặc trưng như hát sli, lượn, phong
slư, phuối pác, puối rọi, vén eng… các làn điệu dân ca này phục vụ trong đời
sống sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng của người Tày.
Cũng giống như một số dân tộc thiểu số ở vùng cao khác, người Tày còn
có một nền y học nhân dân khá phong phú “Hầu như gia đình nào cũng biết
nhiều cây thuốc chữa bệnh, thuốc bổ” [Nguyễn Đăng Duy, Nhận diện văn hóa
19
20
“Không bao giờ quỳ gối và nói lời cong”
“Con phải sống thẳng băng như đường mực”.
Thân mẫu ông là bà Nông Thị Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang,
tháo vát, hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm,
ý chí phấn đấu vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ: "Tốc đin rà mạ tấc. Tốc
đin than mạ mè" (Sống tại đất mình thành ngựa đực. Sống ở nơi người là
ngựa cái). Mẹ luôn răn dạy anh: “Hãy giữ mình như giữ lửa-Cứ ngồi -Đừng
sợ bóng người cong”; phải biết sống đẹp, ngẩng cao đầu kiêu hãnh “Không
bao giờ nhỏ bé được nghe con”. Ghi nhớ lời mẹ, anh đã gửi thông điệp đó vào
bài thơ “Nói với con” và cũng chính bài thơ được đưa vào chương trình giảng
dạy văn học lớp 9 đã đưa tên tuổi anh đến gần hơn với công chúng, với giáo
viên, học sinh, với những người yêu thơ…
Hứa Vĩnh Sước lớn lên trong niềm từ hào về truyền thống của quê
hương, gia đình và nhất là chú anh - ông Hứa Văn Khải ở làng Hiếu Lễ. Năm
1947, ông Hứa Văn Khải và hai cụ lão du kích đã dùng khẩu đại bác do mình
tạo ra bằng gỗ nghiến, đặt tên Sàng Là, bắn giặc Pháp khi chúng đang hành
quân qua đèo Keng Phác - một trận đánh có một không hai trong lịch sử chiến
tranh thế giới. Cảm phục chiến công của ba ông lão du kích Co Xàu, trong đó
có ông Hứa Văn Khải, Bác Hồ đã tặng bài thơ “Tặng các cụ lão du kích”:
“Tuổi cao ý chí càng cao
Múa gươm giết giặc ào ào gió thu
Sẵn sàng tiêu diệt quân thù
Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng
Khẩu súng kỳ lạ đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Pháo binh ở
thủ đô Hà Nội.
Muộn hơn so với bạn bè cùng trang lứa, lên 9 tuổi, ông mới tập nói
tiếng Kinh. Ngày đầu tiên mẹ đưa đến học trường cấp I thị trấn Trùng Khánh
chọn. Anh luôn tự nhủ “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái ta chưa biết là
biển cả mênh mông”. Với tinh thần ấy, khi miền Nam giải phóng, đất nước
thống nhất, việc đầu tiên anh lính đặc công nghĩ tới là tiếp tục trở lại con
đường học vấn dang dở khi mình và bạn bè cùng trang lứa tình nguyện “Xếp
bút nghiên lên đường chiến đấu”. Từ mặt trận Đông Nam Bộ trở về làng
23
ngoài chiếc “ba lô con cóc to bè trên lưng”, Hứa Hiếu Lễ (một bút danh khác
của Hứa Vĩnh Sước) khuân về một tải sách nặng. Anh gặp cha và đứa cháu ở
chợ. Người cha đứng lặng, trân trân nhìn con ậng nước mắt. Một nỗi xúc động
dâng trào khi người con trai duy nhất của ông may mắn sống sót trở về, lại
mang theo một hành trang sách…Bà con làng Hiếu Lễ đến chia vui với gia
đình và rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh bộ đội từ miền Nam ra không
mang khung xe, radio, ti vi, máy lạnh…như nhiều người thời đó, mà ngoài
con búp bê “biết khóc, biết chớp chớp mi” cho đứa cháu thì… chỉ có sách.
Thầy Hứa Văn Cường có dạy chữ Nho nên hiểu hơn ai hết sự quý giá từ sách
mang lại và rất hài lòng về con trai mình. Nguồn sách ấy theo Hứa Vĩnh
Sước, chắp cánh tình yêu văn chương cho “Người trai làng Hiếu Lễ”, hối thúc
anh hiện thực hóa tình yêu ấy và anh đã chờ vào học Trường Viết văn Nguyễn
Du. Không để thời gian nghỉ, trong khoảng thời gian chờ đợi, năm 1976, anh
vào học ngay Trường Điện ảnh Việt Nam. Năm 1982, niềm mong ước mới
được thỏa nguyện khi là học viên trong danh sách cuối cùng của Trường Viết
văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1985). Anh say mê tiếp thu nguồn tri thức từ
thầy, không quên học hỏi những bạn văn chương ở các vùng miền đất nước
như: Pờ Sảo Mìn, Phạm Ngọc Chiểu, Đức Ban, Trần Quốc Thực, Phùng Khắc
Bắc, Thanh Kim, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Trác, Phạm Đức… Năm 1985,
“Người trai làng Hiếu Lễ” đang dự trại sáng tác Đại Lải chuẩn bị hoàn thành
tác phẩm tốt nghiệp trường Đại Học Viết văn Nguyễn Du thì tai họa bỗng đâu