NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI ĐIỆN SINH HỌC VÀ NHIỆT ĐỘ HUYỆT NGUYÊN KINH CAN, THẬN DƯỚI TÁC DỤNG CỦA ĐIỆN CHÂM HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TUÝ - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Châm cứu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống Y học cổ truyền
(YHCT) của Việt Nam cũng như trên thế giới. Cùng với sự phát triển của
YHCT, châm cứu cũng không ngừng phát triển và được ứng dụng rộng rãi
trong việc phòng và chữa bệnh. Cơ sở chữa bệnh của châm cứu là các huyệt
và hệ thống kinh lạc. Kinh lạc phân bố ra toàn thân là con đường vận hành
của âm dương, khí huyết, tân dịch, khiến cho con người từ ngũ tạng lục phủ,
cân mạch, cơ nhục, xương khớp vv… kết thành một chính thể thống nhất.
Huyệt là nơi thần khí hoạt động, vào ra, được phân bố khắp phần ngoài
cơ thể, nhưng không phải là hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương [1].
Huyệt Nguyên là huyệt đại diện cho đường kinh, mỗi đường kinh đều có một
huyệt Nguyên, là nơi khí huyết tập trung nhiều nhất so với các huyệt khác [2].
Vị trí các huyệt Nguyên thường nằm ngay hoặc gần cổ tay, cổ chân. Huyệt
Nguyên có quan hệ mật thiết với khí của Tam tiêu, tác động vào đó có thể
thúc đẩy, điều hòa công năng của lục phủ, ngũ tạng, có tác dụng mạnh trong
phòng và điều trị bệnh.[3]
Nghiện ma túy là một vấn nạn của xã hội, đang lan tràn khắp nơi trên
thế giới và có chiều hướng ngày càng gia tăng, nó tàn phá thể xác và tinh thần
của hàng triệu con người, làm băng hoại đạo đức cả một thế hệ, làm tổn hại
nền kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình. Ma túy còn là điều kiện tốt để
căn bệnh thế kỷ (HIV/AIDS) phát triển. Vì thế để cai nghiện ma túy người ta
đã tiến hành nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đều có kết quả
nhất định.
Ở Việt Nam “Hỗ trợ cai nghiện ma túy bằng điện châm” được đánh giá
rất cao và rất có hiệu quả. Vì vậy châm cứu hỗ trợ cai nghiện được phổ biến
ứng dụng rộng rãi. Ở mỗi bệnh nhân nghiện ma túy, do thể trạng cơ thể khác


2

Kinh là những đường chạy thẳng từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên
trên. Lạc là những đường chạy chếch từ trong ra ngoài hoặc từ ngoài vào
trong, nó nối các kinh với nhau tạo thành mạng lưới chỉnh thể thống nhất. [1],
[6], [20]
Học thuyết Kinh lạc đã quy nạp được một hệ thống liên hệ chặt chẽ giữa
tất cả các vùng của cơ thể thành một khối thống nhất, thể hiện đầy đủ các học
thuyết âm Dương, Tạng phủ, Ngũ hành, mối liên quan trong ngoài - trên
dưới... [6], [20]
Cơ thể con người được cấu tạo bởi: ngũ tạng, lục phủ, phủ kỳ hằng, ngũ
thể (da, lông, gân, cơ, móng), cách mạc (cách mô, màng phổi, màng tim,
màng bụng, mạc treo), ngũ quan, cửu khiếu, tinh, khí, thần và kinh lạc... Mỗi
thành phần cấu tạo đều đảm trách một chức năng sinh lý của cả cơ thể. Tất cả
những chức năng sinh lý này dù được chỉ huy bởi những thành phần khác
nhau, riêng biệt nhưng lại liên hệ mật thiết với nhau và tạo nên tính thống
nhất của cơ thể. Tình trạng “Cơ thể thống nhất” này thực hiện được là nhờ
vào hệ kinh lạc. [2], [6], [20]
Thiên 33, sách Linh khu có đoạn: “Ôi! Thập nhị kinh mạch, bên trong
thuộc về tạng phủ, bên ngoài lạc với tứ chi và cốt tiết...”. Do đó, hệ kinh lạc
của YHCT là hệ thống liên lạc giữa các tạng phủ ở bên trong và các phần cơ
thể bên ngoài [7], [16]


4

Thiên 47, sách Linh khu nói về chức năng của hệ kinh lạc như sau: “...
Huyết, khí, tinh, thần của con người là nhằm phụng sự cho sự sống và chu
hành tròn vẹn cho tính và mệnh. Kinh mạch là nhằm vận hành cho huyết khí,
mở rộng cho âm dương, làm trơn nhuận cho cân cốt, làm thông lợi cho các
khớp xương” [7], [16]
Điều 33, sách Nạn kinh có ghi: “Như vậy, hệ kinh lạc giúp cho khí huyết,

xác định trên một hay nhiều đường kinh).
Một vài bệnh tật có những triệu chứng cụ thể như bệnh lý của phế
thường xuất hiện đau ngực, bệnh lý của can thường đau hạ sườn. Nhưng cũng
có những trường hợp phức tạp hơn khi có 2 hoặc nhiều đường kinh chi phối
cùng một vùng và có thể làm xuất hiện các triệu chứng chung. Chẳng hạn như
có những trường hợp ho, khó thở gây nên do các rối loạn của thái âm Phế và
thiếu âm Thận. Do vậy việc xác định kinh lạc bị tổn thương được dựa trên các
dấu chứng đi kèm, dấu chứng xuất hiện trước và sau.[10]
1.1.2 Huyệt- Nguyên huyệt, và một số nghiên cứu
Theo sách Linh khu thiên Cửu châm thập nhị nguyên: “Huyệt là nơi thần
khí hoạt động vào - ra; nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể”. [7]
Có thể định nghĩa huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ
xương khớp tụ lại, tỏa ra ở phần ngoài (biểu) của cơ thể nhưng không phải là
hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương. Nói cách khác, huyệt là nơi tập trung
cơ năng hoạt động của mỗi một tạng phủ, kinh lạc…., nằm ở một vị trí cố
định nào đó trên cơ thể con người. Việc kích thích tại những huyệt vị này
(bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội
tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được kết quả điều trị mong muốn.[6]


6

Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các
biểu hiện bệnh lý của cơ thể, mà còn giúp cho việc chẩn đoán và phòng chữa
bệnh một cách tích cực.
Theo các sách xưa, huyệt được gọi dưới nhiều tên khác nhau: du huyệt,
khổng huyệt, kinh huyệt, khí huyệt, cốt huyệt.... Ngày nay huyệt là danh từ
được sử dụng rộng rãi nhất. [2]
Các nhà khoa học ngày nay chỉ công nhận sự hiện hữu của huyệt vị châm
cứu về mặt hiệu quả trị liệu và về mặt điện sinh vật .

Huyệt trên kinh có huyệt nguyên, huyệt lạc, huyệt ngũ du, huyệt mộ,
huyệt khích... mỗi nhóm huyệt có đặc điểm riêng và được vận dụng khác nhau
trong thực hành lâm sàng.
Huyệt nguyên thường được người thầy thuốc châm cứu xem là “huyệt
đại diện” của đường kinh. Mỗi kinh chính có 1 huyệt nguyên. Vị trí các huyệt
nguyên thường nằm ở cổ tay, cổ chân hoặc gần đó. Khí ở đó đầy đủ nhất của
đường kinh. Do tính đại diện của nguyên huyệt nên sự thay đổi công năng
tạng phủ sẽ được thể hiện sớm tại huyệt nguyên, chúng thường được dùng để
chẩn đoán và điều trị những bệnh hư, thực của tạng, phủ, kinh lạc tương ứng
trong YHCT. Trong lâm sàng huyệt nguyên thường được dùng để điều trị
bệnh tại kinh và tạng phủ đó.:
* Phối hợp huyệt Nguyên với huyệt Lạc.
VD: đau sưng họng khi châm cứu lấy huyệt Nguyên là huyệt Hợp Cốc,
kết hợp huyệt Lạc là huyệt Liệt Khuyết.
* Phối hợp huyệt Mộ với huyệt Bối du và huyệt Nguyên....


8

Vì vậy các công trình khảo sát đặc điểm huyệt nguyên dưới góc độ
YHHĐ để chẩn đoán công năng tạng phủ cũng đã được nhiều tác giả nghiên
cứu: “nghiên cứu một số chỉ số sinh học trên 12 cặp huyệt nguyên” của tác
giả Nguyễn Thị Vân Anh tác giả đã đề cập tới những đặc điểm chung, của
huyệt Nguyên và khảo sát đặc điểm điện sinh học của nhóm bệnh nhân viêm
loét dạ dày hành tá tràng[11]. Hay “nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
huyệt nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não nhật bản, đánh giá hiệu
quả phục hồi bằng điện châm” của tác giả Phạm Hữu Lợi…[12]
1.2 Điện sinh học- điện sinh học tại kinh lạc
1.2.1 Điện sinh học:
Ngay từ đầu thế kỷ 18 y học đã biết trên cơ thể sống có những dòng điện

từ quan trọng nhiều đến ít quan trọng nhất trong việc sản sinh ra các dòng
điện sinh học gồm:
Na+, K+, H+ Cl- OH- Ca++ Mg++ NH4+
Và những phân tử hữu cơ cần thiết khi chúng phân ly, hay kết hợp với
các ions trên thành các ions hữu cơ dương hay âm.
Trong hoạt động sống, sự chuyển hóa, phân ly của các chất trên để tạo ra
dòng điện sinh học của tế bào vô cùng phức tạp và có qui luật riêng, nhưng ta
không bàn ở đây
Điện sinh học và hệ kinh lạc
Hệ kinh lạc không phải 1 hệ hiện hữu trong YHHĐ. Nhưng nó là 1 trong
những hệ cốt lõi của YHCT phương Đông. Nó được đúc kết và xây dựng trên
2 cơ sở căn bản: [1], [6]
- Cơ sở thứ nhất: Dựa trên sự tổng kết những quan sát qua nhiều thời đại,
về những biểu hiện sinh lý trên những vị trí khác nhau của người bình thường,


10

hay những biểu hiện bệnh lý của người ốm; kết hợp với sự phân tích những
thành công hay thất bại của việc điều trị, nhất là khi điều trị bằng các phương
pháp châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, giác lể ….
- Cơ sở thứ hai: Dựa vào các học thuyết của nền triết học cổ truyền
phương Đông về Hà đồ, Lạc thư, Âm dương, Ngũ hành, Thiên can, Địa chi…
để phân tích, tổng kết những biểu hiện sinh bệnh lý, đối chiếu với kết quả
điều trị, của các phương pháp chữa bệnh khác nhau như dùng thuốc, hay
không dùng thuốc, rồi qui nạp lại mà xây dựng nên hệ kinh lạc.
Tầm quan trọng lớn nhất của học thuyết kinh lạc ở chỗ: Bằng cách vận
dụng những lý luận của YHCT để phân tích, chẩn đoán bệnh tật. Khi chẩn
đoán được bệnh, cũng bằng cách dựa vào lý luận của YHCT mà lựa chọn các
phương pháp điều trị. Nếu việc điều trị được chọn lại là các phương pháp

dòng điện sinh học tổng hợp của tất cả các loại tế bào cấu tạo nên tổ chức, cơ
quan ấy. Đo dòng điện sinh học của toàn cơ thể thực chất là đo dòng điện sinh
học của tất cả các loại tế bào cấu tạo nên cơ thể.
YHHĐ cho biết: Đặc trưng cho sự sống của tế bào là 1 chuỗi liên tiếp
của 2 pha hoạt động (khử cực) và nghỉ ngơi (tái cực). Nếu chuỗi này dừng lại
là tế bào chết.
Vì tế bào liên tục khử cực và tái cực nên dòng điện sinh học của tế bào là
dòng điện 2 pha. Do đó, dòng điện sinh học đo được ở mỗi tổ chức hay toàn
cơ thể chủ yếu cũng là dòng tổng hợp 2 pha. Nhưng vì mỗi tổ chức hay toàn
cơ thể được cấu tạo từ rất nhiều loại tế bào, nếu có 2 hay nhiều loại tế bào có
tần số như nhau, cùng có pha tái cực mạnh hơn pha khử cực, nhưng lệch pha
nhau 180°; ta sẽ ghi thêm được dòng điện tổng hợp 1 chiều. [17]
Nếu khảo sát dòng điện sinh học 1 chiều của hệ kinh lạc, do đặc tính đối
xứng và đặc tính tương quan với toàn thân của nó, cũng giúp ta không phải


12

băn khoăn về dòng điện sinh học của 1 tổ chức không có quan hệ với hệ kinh
lạc lẫn vào hiệu điện thê ở cực đo, vì trong cơ thể không có tổ chức nào
không liên quan với nó [13], [17]
1.2.2. Điện trở da và cường độ dòng điện qua da tại vùng huyệt
Điện trở da và cường độ dòng điện qua da của huyệt là hai yếu tố đã
được sử dụng để phát hiện ra đặc tính điện học của huyệt sớm nhất. Người ta
nhận thấy điện trở và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt so với vùng
quanh huyệt có sự khác biệt rõ rệt. Da vùng huyệt có điện trở thấp và cường
độ dòng điện cao hơn da vùng quanh huyệt. Nối các huyệt của cùng một
đường kinh lại với nhau ta có một đường dẫn điện tốt. Tuy nhiên đường dẫn
điện này chỉ có tác dụng trên cơ thể sống. Và nhiều tác giả cũng chứng minh
được chức năng của hệ thần kinh giao cảm bị giảm sút khi điện trở của huyệt

tỉnh huyệt ở chi trên và chi dưới có khoảng cách đến trung tâm nhiệt của cơ thể
khác nhau, do đó còn có tác dụng tìm ra sự phân ly sinh lý và bệnh lý khác nhau
giữa nhiệt độ của tỉnh huyệt ở chi trên và chi dưới theo nghĩa lý cổ điển: Thực
nhiệt, phải nhiệt tới lòng bàn chân; thực hàn, phải hàn tới lòng bàn tay.
· Kết thúc cuộc đo, do đầu đo đặt lên huyệt vị mức độ vừa phải, không
gây phản ứng kích thích ở huyệt vị như hơ điếu ngải gây nóng, nên không ảnh
hưởng tới tình trạng sẵn có ở người bệnh.
Bên cạnh đó, thay vì so sánh nhiệt độ với con số cố định như trước
đây, tác giả đánh giá nhiệt độ các huyệt cao hay thấp dựa trên mối tương
quan với nhiệt độ môi trường bên ngoài. Điều này làm cho việc chẩn đoán
bệnh thêm chính xác vì nhiệt độ của các huyệt bị ảnh hưởng bởi thân


14

nhiệt của mỗi người. Thực tế cũng có nhiều công trình nghiên cứu ứng
dụng đo nhiệt độ kinh lạc trong chẩn đoán.
1.4. Nghiên cứu về nghiện ma túy
1.4.1 Định nghĩa
Chất ma túy là những chất tự nhiên, bán tổng hợp hay tổng hợp tác
động đặc hiệu vào hệ thần kinh trung ương gây sảng khoái, ảo giác và
nếu dùng lặp lại nhiều lần sẽ gây ra trạng thái phụ thuộc thuốc gọi là
nghiện ma túy [22]
1.4.2. Nghiện ma túy và hội chứng cai nghiện ma tuý theo YHHĐ
Các chất opiat (thuốc phiện, morphin, heroin) khi vào cơ thể đều chuyển
hóa thành morphin rồi vào máu. Sau 24 giờ, 90% bài tiết ra ngoài, chỉ một phần
nhỏ vào hệ thần kinh trung ương và tìm đến các thụ cảm thể (điểm tiếp nhận)
morphin. Có một số điểm tiếp nhận morphin, nhưng chủ yếu là điểm tiếp nhận
muy (µ) nằm rải rác ở não, tập trung nhiều nhất ở vùng dưới đồi, một ít ở hệ thần
kinh thực vật. Tại các điểm tiếp nhận muy có sẵn những peptid nội sinh

sang buồn bực; từ hẹp đồng tử chuyển sang giãn đồng tử, từ khô da chuyển
sang vã mồ hôi và nhiều triệu chứng trái ngược khác (dị cảm, tiêu chảy, mạch
nhanh, mất ngủ...). Đối với người nghiện opiat, hội chứng cai thường gồm các
triệu chứng sau đây [22], [23], [24], [25]
Thèm chất ma tuý.
Buồn nôn hay nôn.
Ngáp.
Chảy nước mắt, nước mũi.
Toát mồ hôi, nổi da gà, rùng mình ớn lạnh.
Đau mỏi các cơ.


16

Người buồn bực khó chịu.
Dãn đồng tử.
Đau nhức cơ xương khớp.
Mạch nhanh....
Hội chứng cai làm cho người nghiện lệ thuộc vào chất ma tuý về mặt
cơ thể, không chịu đựng được các triệu chứng trên, phải tìm mọi cách để có
được chất ma tuý, kể cả hành vi phạm pháp. Hội chứng cai là tiêu chuẩn quan
trọng để chẩn đoán nghiện ma tuý. ở một người đang sử dụng chất ma tuý,
nếu đột ngột cắt chất ma tuý mà không thấy xuất hiện hội chứng cai thì có thể
xem như người đó chưa nghiện. Hội chứng cai cũng còn là một tiêu chuẩn để
đánh giá kết quả điều trị nghiện ma tuý. Đưa người nghiện gọi là đã chữa khỏi
vào một cơ sở riêng, có điều kiện theo dõi chặt chẽ, không lén lút dùng ma tuý,
nếu không xuất hiện hội chứng cai sau vài ngày theo dõi có thể xem như điều trị
có kết quả [22], [23]
1.4.3. Nghiện ma tuý và các hội chứng của cai nghiện ma tuý theo Y học cổ
truyền.

hư, Thận âm hư, Tỳ hư...
Biểu hiện của hội chứng suy là người gầy yếu, mệt mỏi, đi lại yếu, sắc
mặt sạm, sợ nước, sợ lạnh, ra mồ hôi nhiều, đại tiện phân lỏng, nhức trong tuỷ
xương, hồi hộp, đánh trống ngực, nam giới thì di mộng tinh, nữ giới thì ra khí
hư, kinh nguyệt không đều. Chất lưỡi hồng nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch
thuộc âm mạch (trầm, vi, nhược...)
Y học cổ truyền cho rằng cơ thể con người là một chỉnh thể thống nhất và
đạt tới sự cân bằng của âm dương, khí huyết, tạng phủ. Phép điều trị của hai hội
chứng trên là tả dương, bổ âm lập lại thăng bằng âm-dương trong cơ thể.


18

Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng tạng phủ, nhưng nó không chỉ ảnh
hưởng đến đơn độc một tạng hay một phủ mà có thể ảnh hưởng đến mười hai
tạng phủ, kinh mạch Tâm- Tiểu trường, Can- Đởm, Tỳ- Vị, Phế- Đại trường,
Thận- Bàng quang. Sự xuất hiện của các triệu chứng khi cai nghiện sẽ quy nạp
bệnh nhân bị bệnh thuộc một trong năm thể bệnh như sau:
1.4.4. Điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý bằng phương pháp điện châm.
Điện châm tức là dùng máy tạo xung điện kích thích vào huyệt với mục
đích là “điều khí” nhằm đưa cơ thể trở về trạng thái thăng bằng âm- dương.
Qua thực tế nghiên cứu phương pháp điện châm trong suốt 40 năm cống hiến
tài năng cho y học, GS. Nguyễn Tài Thu nhận thấy rằng nếu vê kim bằng tay
thì sự điều khí không mạnh, không nhanh và thường làm cho bệnh nhân đau
đớn. Ngược lại, các xung kích thích của máy điện châm ổn định, đều đặn và
nhịp nhàng, có tác dụng điều khí nhanh mà không gây đau cho bệnh nhân [4]
Ở Việt Nam, GS. Nguyễn Tài Thu là người đầu tiên dùng điện châm
kết hợp với thủy châm để điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý. Từ năm 1968 đến
năm 1973, GS. Nguyễn Tài Thu đã sử dụng điện châm kết hợp với thuỷ châm
các vitamin nhóm B và vitamin C để điều trị cho thương binh mắc nghiện do

+ Châm bổ các huyệt: Phế du, Liệt khuyết, Tam âm giao, Túc tam lý
Liệu trình điều trị: 7 ngày. Ba ngày đầu, bệnh nhân được điều trị điện
châm đón cơn tức là châm khi bệnh nhân bắt đầu có dấu hiệu của cơn đói ma
tuý biểu hiện bằng các dấu hiệu báo trước như: ngáp, chảy nước mắt....Từ
ngày thứ tư trở đi tiến hành điện châm 3 lần trong ngày để giải quyết các triệu
chứng còn tồn tại sau cơn. Phương pháp điện châm đón cơn được thực hiện
trước khi cơn xuất hiện từ 10 đến 15 phút. [27]
GS. Hoàng Bảo Châu [28] đánh giá châm cứu có tác dụng cắt cơn
nghiện ma tuý tốt, các triệu chứng cai cấp của hội chứng cai giảm nhanh sau


20

điện châm 10- 15 phút. Tác giả đã đưa ra một số phác đồ các huyệt điều trị
theo triệu chứng khi bệnh nhân lên cơn nghiện.
Nguyễn Diên Hồng [28], [29], [30] nghiên cứu cắt cơn đói ma tuý bằng
phương pháp điện châm đã đưa ra kết luận rằng điện châm có tác dụng tốt
trong điều trị cai nghiện ma tuý, sau điện châm bệnh nhân dễ chịu không còn
cảm giác thèm ma tuý, sau điều trị bệnh nhân tăng cân. Châm cứu điều trị cai
nghiện là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả và không có phản ứng phụ.
BS. Trương Thìn [31] cho biết ở Trung tâm cai nghiện Bình Triệu có 2.500
bệnh nhân nghiện hút trước giải phóng, trong đó có 236 bệnh nhân được nghiên
cứu điều trị bằng châm cứu. Tác giả nhận xét rằng, châm cứu có thể cắt cơn nghiện
sau 5-7 phút và sau 4-6 ngày cơn đói ma tuý giảm dần.
BS. Trương Thìn, Võ Tấn Hưng [31] qua nghiên cứu điều trị cai nghiện đã
đưa ra nhận xét rằng phương pháp châm cứu cắt cơn đói ma tuý giúp bệnh nhân
không bị lên cơn vật vã nặng, không có tai biến, phục hồi sức khoẻ người bệnh
nhanh chóng.
Phương pháp cai nghiện ma tuý bằng châm cứu cũng đã được nhiều tác
giả trên thế giới nghiên cứu và thừa nhận, nhưng nghiên cứu về cơ chế tác

Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức
chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý có thể xuất hiện ngay tức thì sau khi
châm kim và tác động vào huyệt, nhưng cũng nhiều khi phải lưu kim lâu và
điều trị nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhiều liệu trình mới thu được kết quả.
Ngoài vai trò của thần kinh ra còn có vai trò của nội tiết, thể dịch tham gia
trong việc phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Vogralic, Kassin (Liên Xô), Chu
Liễn (và nhiều tác giả Trung Quốc), Vũ Xuân Lãng, Lê Khánh Đồng (Việt
Nam), Mai Văn Nghệm, Jean-Bossy (Pháp), vv… Căn cứ vào vị trí tác dụng
của nơi châm cứu đề ra 3 loại phản ứng cơ thể: [39]


22

- Phản ứng tại chỗ:
Châm hay cứu vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có
tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý: như làm giảm cơn đau, giải
phóng sự co cơ, vv…
Những phản xạ đột trục của hệ thần kinh thực vật làm ảnh hưởng đến sự
vận mạch, nhiệt, sự tập trung bạch cầu, vv… làm thay đổi tính chất của tổn
thương, giảm xung huyết, bớt nóng, giảm đau.
Phản ứng tại chỗ có ý nghĩa thực tiễn lâm sàng khá lớn là cơ sở của
phương pháp điều trị tại chỗ hay xung quanh nơi có thương tổn mà châm cứu
dùng các huyệt gọi là A thị huyệt (thống điểm, thiên ứng huyệt).
- Phản ứng tiết đoạn
Khi nội tạng có tổn thương bệnh lý thì có những thay đổi cảm giác vùng
da ở cùng một tiết đoạn với nó, ngược lại những kích thích từ vùng da của
một tiết đoạn nào đó sẽ có ảnh hưởng đến nội tạng cùng trên tiết đoạn đó [14],
[15]. Việc sử dụng các huyệt ở một vùng da để chữa bệnh của các nội tạng
cùng tiết đoạn với vùng này sẽ gây ra một phản ứng tiết đoạn, gây ra các
luồng xung động thần kinh hướng tâm. Những luồng này sẽ truyền nhịp vào

Thực chất, bất kỳ một kích thích nào đối với cơ thể cũng đều có liên
quan tới hoạt động của vỏ não, nghĩa là có tính chất toàn thân. Như vậy, sự
phân chia ra phản ứng cục bộ tại chỗ, phản ứng tiết đoạn chỉ có giá trị về sự
liên quan cục bộ từng phần cơ thể thông qua hoạt động của tủy.
Khi nói tới phản ứng toàn thân, chúng ta cần nhắc lại nguyên lý về hiện
tượng chiếm ưu thế vỏ não của Utomski, về cơ năng linh hoạt của hệ thần
kinh của Wedensky, về các kích tố (hormon), và các chất trung gian hoá học
thần kinh (hisamin, axetylcholin, mocphin-like…) [15], [33].


24

Điểm quan trọng của phản ứng toàn thân là tác dụng đối với hệ thần kinh
trung ương và thông qua hệ này và hệ thần kinh thực vật mà ảnh hưởng đến
các cơ quan nội tạng và mọi tổ chức của cơ thể.
Sau khi châm, từng luồng xung động thần kinh không ngừng được diễn
truyền vào tủy sống (Dẫn truyền xung động thần kinh là do các chất axetylcho
line…) từ đó dẫn truyền qua bó tủy lên hành não và lên não.
Vogralic, Kassin (và nhiều tác giả) nghiên cứu điện não đồ trong khi
châm cứu thì thấy điện thế có những biến đổi lan toả, toàn diện và đối xứng
toàn thân thường thấy làn sóng delta và têla chậm hơn, có nhiều ca làn sóng
không đều nhịp… [39]
Tình trạng tinh thần luôn luôn căng thẳng gây ra các rối loạn tinh thần
làm cho quá trình hưng phấn và ức chế của hoạt động thần kinh cao cấp bị rối
loạn [40]. Châm cứu có tác dụng điều chỉnh các trạng thái rối loạn đó vì sau
một đợt điều trị triệu chứng lâm sàng tốt hơn và điện não đồ biến đổi [41],
[42], [43].
Một điểm quan trọng nữa của phản ứng toàn thân là các biến đổi về thể
dịch và nội tiết. Thường thường trong khi châm và sau một đợt điều trị bằng
châm cứu, các thể dịch như sympatine, adrenaline, histamine, axetycholin,

thực (hư hàn thuộc về âm, thực nhiệt thuộc về dương), nhiều khi bệnh tật rất
phức tạp, các dấu hiệu thuộc về hàn nhiệt rất khó phân biệt (kiêm chứng)…
[10].
Nguyên tắc điều trị chung là điều hoà (lập lại) mối cân bằng của âm
dương. Cụ thể trong điều trị bằng châm cứu, muốn đánh đuổi tà khí, nâng cao
chính khí (sức đề kháng của cơ thể) phải tùy thuộc vào vị trí nông sâu của
bệnh, trạng thái hàn nhiệt, hư thực của người bệnh để vận dụng thích đáng
dùng châm hay cứu, dùng thủ thuật hay bổ như nhiệt thì châm, hàn thì cứu, hư
thì bổ, thực thì tả vv…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status