MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở XÃ, THỊ TRẤN - Pdf 34

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở XÃ,
THỊ TRẤN
I. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ TƯ PHÁP XÃ, THỊ TRẤN
TRONG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong xử lý vi phạm hành chính
Chính quyền xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có vai trò rất
quan trọng trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính (bao gồm xử phạt hành chính và
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác), vì đây là cấp cơ sở, là nơi chủ yếu diễn
ra các hành vi vi phạm hành chính. Do đó, cấp xã chính là nơi phát hiện, lập biên bản
vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc lập hồ sơ, biên
bản và chuyển đến cấp có thẩm quyền xử lý…
2. Vai trò của tư pháp cấp xã trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chức danh tư pháp cấp xã không có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, không tham gia trực tiếp trong việc áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính khác. Tuy nhiên, tư pháp xã cần thiết nắm vững những
nguyên tắc và nội dung cơ bản của hoạt động xử lý vi phạm hành chính để tư vấn cho
chính quyền cấp xã trong hoạt động này, bảo đảm việc xử phạt hành chính cũng như
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác tại cấp xã được thực hiện hiệu quả và
đúng pháp luật.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TẠI CẤP XÃ
1. Khái niệm hành vi vi phạm hành chính
Khi đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính thì trước tiên cần hiểu thế
nào là vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật do cá nhân, tổ chức thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính (Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính - sau đây gọi tắt là Pháp lệnh
XLVPHC).
Như vậy, theo định nghĩa trên, chúng ta thấy có 5 dấu hiệu cơ bản để nhận biết
vi phạm hành chính:

xuất hoặc 7.500 m2 rừng phòng hộ hoặc 5.000 m2 rừng đặc dụng thì không thuộc
phạm vi xử phạt vi phạm hành chính mà chuyển sang truy cứu trách nhiệm hình sự).
Một điểm phân biệt nữa giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự là vi phạm
hành chính được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt hành chính, còn tội
phạm hình sự chỉ được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Như vậy, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, người có thẩm quyền phải
xem xét, đối chiếu với các văn bản pháp luật, ở đây là các nghị định của Chính phủ về
xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể và các quy định có liên quan của Bộ
luật Hình sự, để từ đó nhận định đó là hành vi vi phạm hành chính hay là hành vi có
dấu hiệu của tội hình sự để quyết định xử phạt hành chính hoặc chuyển sang cơ quan
điều tra xử lý.
2. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính, các chế tài xử phạt hành chính
Trước khi đi vào khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”, chúng ta cần tìm hiểu
khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”.
Xử lý vi phạm hành chính là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước (các chế tài hành chính) đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính.
Theo Pháp lệnh XLVPHC hiện hành thì xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi
phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác.


Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài chủ yếu đánh vào lợi ích kinh
tế, tinh thần của người vi phạm. Các chế tài xử phạt hành chính bao gồm hình thức xử
phạt chính, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả.
2.1. Hình thức phạt chính
Hình thức phạt chính bao gồm cảnh cáo và phạt tiền (đối với người nước ngoài
vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng hình phạt trục xuất).
2.2. Hình thức phạt bổ sung
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không
thời hạn, tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm (ví dụ tước giấy phép lái xe, tước
chứng chỉ hành nghề y dược tư nhân, tước giấy phép sử dụng súng săn, tước giấy phép



- Hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả chỉ áp dụng kèm theo
hình phạt chính, không áp dụng độc lập (ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt pháp
luật quy định không xử phạt do hết thời hiệu xử phạt) nhưng vẫn áp dụng các biện
pháp khắc phục hậu quả để bảo đảm trật tự công cộng, vì lợi ích chung của cộng đồng.
- Đối với mỗi hành vi vi phạm phải căn cứ vào các nghị định về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể để xác định xem hành vi đó được quy định ở
điều nào, khoản nào, bị áp dụng những hình thức, biện pháp gì, mức phạt bao nhiêu
v.v.
3. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Việc xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân phải tuân theo những nguyên
tắc pháp luật quy định, cụ thể là:
- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay;
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh,
mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục. Ví dụ: hành vi đào
đường bị xử phạt và buộc phải làm lại đoạn đường đó; hành vi xây nhà lấn chiếm đất
công bị xử phạt và buộc tháo dỡ công trình vi phạm, không được “phạt cho tồn tại”.
- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính
do pháp luật quy định (xem thêm Khái niệm vi phạm hành chính).
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần (Ví dụ: Hành vi chặt
phá một số cây rừng đã bị Chủ tịch xã lập biên bản, xử phạt 100.000 đồng thì sau đó
không được xử phạt nữa, trừ trường hợp người vi phạm lại tiếp tục chặt phá cây rừng
thì đây được coi là hành vi mới, sẽ bị xử phạt nặng hơn (có tình tiết tăng nặng là tái
phạm).
- Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm
đều bị xử phạt (Ví dụ: Một nhóm người cùng có hành vi đập phá, gây rối trật tự công
cộng thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt).

tắc phòng cháy, chữa cháy… đều bị xử phạt hành chính.
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính
trên lãnh thổ Việt Nam thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ
trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Thông thường, những trường hợp mà người nước ngoài được miễn trừ trách nhiệm
hành chính được quy định trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên về
miễn trừ ngoại giao năm 1961.
5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
Thời hiệu xử phạt hành chính là khoảng thời gian mà pháp luật quy định người
có thẩm quyền được áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm,
quá thời hiệu này thì không được xử phạt nữa. Thời hiệu thông thường là 1 năm, kể từ
ngày vi phạm hành chính xảy ra. Đối với một số lĩnh vực như tài chính, chứng khoán,
sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở, đất đai, đê
điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, sản xuất, buôn bán hàng
giả... thì thời hiệu là 2 năm kể từ ngày vi phạm hành chính xảy ra (Điều 10 Pháp lệnh
XLVPHC).
Cần lưu ý rằng, mặc dù pháp luật quy định thời hiệu xử phạt khá dài, nhưng điều
đó không có nghĩa là khi người có thẩm quyền phát hiện thấy hành vi vi phạm có thể
“treo” vụ việc đó, không xử lý. Theo quy định của pháp luật thì khi phát hiện thấy vi
phạm, người có thẩm quyền phải đình chỉ ngay hành vi vi phạm và lập biên bản để xử
phạt, nếu thiếu trách nhiệm để quá thời hiệu mà không xử phạt thì tuỳ theo mức độ vi
phạm sẽ bị xử lý trách nhiệm kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.


6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh ở xã, thị
trấn
6.1. Thẩm quyền xử phạt
Một trong những nguyên tắc cơ bản trong xử phạt hành chính là chỉ có những
chức danh được pháp luật quy định có thẩm quyền xử phạt mới được tiến hành việc
xử phạt hành chính.

khôi phục lại tình trạng ban đầu”. Còn “buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép”
được hiểu là biện pháp áp dụng đối với một công trình đã được xây dựng tương đối
kiên cố (trong trường hợp này có thể hiểu là công trình đã được xây tường, đổ mái
xong).


- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan
dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện các biện pháp làm
trong sạch nước bị gây ô nhiễm);
- Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng,
văn hoá phẩm độc hại (ví dụ: buộc tiêu hủy tài liệu bói toán, mê tín dị đoan; buộc tiêu
hủy các thực phẩm ôi thiu, gây hại cho sức khoẻ...);
- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
b. Trưởng Công an cấp xã
Trưởng Công an cấp xã được áp dụng các hình thức xử phạt hành chính như Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đã nêu tại điểm a trên đây, trừ quyết định áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
c. Chiến sỹ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 200.000 đồng.
d. Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sỹ Công an nhân dân có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 500.000 đồng.
Cần lưu ý rằng, ở xã, phường, thị trấn, chỉ có những chức danh nói trên được
pháp luật trao thẩm quyền xử phạt hành chính, còn già làng, trưởng bản, trưởng thôn,
trưởng xóm, tổ trưởng dân phố v.v. không có thẩm quyền xử phạt hành chính.
6.2. Xác định và phân định thẩm quyền xử phạt hành chính
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định, phân định dựa trên
những nguyên tắc cơ bản sau đây:
a. Việc xác định thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào quy định của nghị định về

- Nguyên tắc uỷ quyền: Về nguyên tắc, cấp trưởng có thể ủy quyền cho cấp phó
của mình thực hiện quyền xử phạt hành chính. Tại cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp xã có thể uỷ quyền cho Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; Trưởng Công an
cấp xã có thể uỷ quyền cho Phó Trưởng Công an cấp xã thực hiện quyền xử phạt hành
chính của mình. Việc uỷ quyền chỉ được thực hiện trong trường hợp Chủ tịch cấp xã
hoặc Trưởng Công an cấp xã vắng mặt (đi công tác, ốm, nằm viện...). Người được uỷ
quyền có thẩm quyền xử phạt và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Người
được uỷ quyền không được uỷ quyền tiếp theo cho bất kỳ chức danh nào khác.
- Hình thức uỷ quyền: Việc uỷ quyền phải bằng văn bản (có thể bằng một văn
bản độc lập hoặc uỷ quyền dưới dạng văn bản phân công công việc).
6.4. Các nguyên tắc xử lý trong trường hợp vụ vi phạm không thuộc thẩm
quyền
Trên thực tế, nhiều khi, người thi hành công vụ phát hiện ra các hành vi vi phạm
pháp luật nhưng không thuộc thẩm quyền xử lý của mình, đó là các trường hợp:
- Vụ vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền xử phạt của người phát hiện vi
phạm hành chính;
- Vụ vi phạm không còn là vi phạm hành chính mà có dấu hiệu tội phạm.
Trong các trường hợp này, người thi hành công vụ phải tiến hành lập biên bản
với đầy đủ các tình tiết, nội dung, sự kiện, người chứng kiến... Nếu cần thiết thì báo
cáo cấp trên để có biện pháp hỗ trợ.
Nếu vụ vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền xử phạt của người đó (về mức
tiền phạt, về thẩm quyền áp dụng hình phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả, về
thẩm quyền theo địa bàn, theo lĩnh vực quản lý...), thì người đang thụ lý phải chuyển
vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền để xử phạt. Tại xã, phường, thị trấn, thông thường,
nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng
Công an cấp xã thì phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm lên cấp trên tức là chuyển tới Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp huyện hoặc tuỳ theo đặc điểm,


tính chất từng vụ việc mà chuyển sang các cơ quan quản lý chuyên ngành đóng trên

ở nơi làm việc hoặc trụ sở Uỷ ban nhân dân. Trường hợp tạm giữ qua đêm thì phải bố
trí giường hoặc sàn nằm và phải có chiếu, chăn màn cho người bị tạm giữ. Pháp luật
nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính ở những nơi không bảo đảm an toàn,
vệ sinh; nghiêm cấm việc xâm phạm sức khoẻ, thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm
của người bị tạm giữ. Các quy định cụ thể về tạm giữ người theo thủ tục hành chính
thực hiện theo quy định tại Nghị định số 162/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính và Nghị định số 19/2009/NĐ-CP ngày
19 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tạm
giữ người theo thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 162/2004/NĐ-CP
của Chính phủ.


- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:
Căn cứ: áp dụng trong trường hợp cần giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính để xác minh tình tiết làm căn cứ để quyết định xử phạt hoặc cần ngăn chặn ngay
vi phạm hành chính. Ví dụ: cần tạm giữ xe ô tô vận chuyển hàng lậu để xác minh chủ
hàng, chủ xe, tạm giữ xe máy vi phạm giao thông mà người điều khiển phương tiện
không có giấy tờ, tạm giữ gậy gộc, cuốc xẻng người vi phạm dùng để đánh nhau, gây
rối trật tự….
Thủ tục: phải lập biên bản về việc tạm giữ, trong biên bản phải ghi rõ tình trạng,
số lượng, chủng loại... tang vật và phải có chữ ký của người vi phạm.
Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm: trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày tạm giữ, người có thẩm quyền phải ra xử lý tang vật theo các biện pháp ghi trong
quyết định xử phạt (ví dụ: tịch thu tang vật, phương tiện hoặc buộc tiêu huỷ đối với
vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, văn hóa phẩm đồi trụy...); nếu không có
căn cứ để áp dụng các biện pháp đó thì phải trả lại phương tiện hoặc những vật đã tạm
giữ. Trong trường hợp đặc biệt, thời hạn tạm giữ tang vật có thể được kéo dài theo
thời hạn ra quyết định xử phạt đã được gia hạn nhưng tối đa không quá 60 ngày (Xem
thêm Thời hạn ra quyết định xử phạt).
- Khám người theo thủ tục hành chính:

Trạm trưởng của họ) có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính trong trường hợp khẩn cấp, tức là trường hợp khi thực hiện công vụ
của mình, họ có căn cứ để cho rằng nếu không ra quyết định tạm giữ ngay thì tang vật,
phương tiện vi phạm có thể bị tẩu tán, tiêu huỷ. Tuy nhiên, trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định khám phải báo cáo Thủ trưởng của mình là những người có thẩm
quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và phải được sự đồng ý bằng
văn bản của người đó. Nếu không được sự đồng ý của họ thì phải huỷ ngay quyết định
tạm giữ.
c. Thẩm quyền của Chiến sỹ Công an nhân dân
- Khám người trong trường hợp khẩn cấp:
Chiến sỹ Công an đang thi hành công vụ có quyền khám người trong trường hợp
khẩn cấp, tức là khi có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật,
tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu huỷ và phải báo cáo kịp
thời bằng văn bản cho Thủ trưởng của mình là những người có thẩm quyền khám
người và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó.
- Khám phương tiện vận tải, đồ vật:
Chiến sỹ Công an đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện, vận tải đồ
vật trong phạm vi thẩm quyền của mình. Phạm vi thẩm quyền ở đây được hiểu là
phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật chỉ
được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu
tang vật vi phạm hành chính. Ví dụ: khi có căn cứ (nhận được tin báo đáng tin cậy
hoặc qua hoạt động theo dõi, điều tra) cho rằng trong xe ô tô hoặc trong túi xách của
đối tượng cất giấu hàng cấm thì chiến sĩ công an đang thi hành công vụ có quyền
khám phương tiện vận tải, đồ vật đó. Khi khám phải có chủ phương tiện vận tải, đồ
vật đó và một người chứng kiến; nếu không có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật đó
thì phải có hai người chứng kiến. Mọi trường hợp khám đều phải lập biên bản.
7. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
Các quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là trình tự mà pháp luật quy
định mà người có thẩm quyền xử phạt, bao gồm cả người có thẩm quyền xử phạt ở
cấp xã phải nắm vững và tuân thủ triệt để khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính.

thẩm quyền ban hành.
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử
phạt và nhận biên lai thu tiền phạt (nộp phạt tại chỗ) để người có thẩm quyền nộp vào
Kho bạc nhà nước theo quy định. Nếu cá nhân không có tiền ngay tại chỗ thì cũng có
thể nộp tại Kho bạc nhà nước.
7.3. Thủ tục xử phạt có lập biên bản
a. Lập biên bản vi phạm hành chính: là bước bắt buộc khi tiến hành xử phạt đối
với các trường hợp không áp dụng thủ tục đơn giản. Khi phát hiện vi phạm hành
chính, ngưòi có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản. Theo quy định tại Nghị định số
128/2008/NĐ-CP thì người có thẩm quyền lập biên bản là những người có thẩm
quyền xử phạt và những người có thẩm quyền đang thi hành công vụ. Ví dụ: chiến sỹ
cảnh sát trong khi đi tuần tra hoặc cán bộ, công chức được giao thực thi công vụ thanh
tra, kiểm tra… Biên bản phải được người lập biên bản, người vi phạm ký, nếu có
người chứng kiến, người bị thiệt hại thì những người này cùng ký vào biên bản, trong
trường hợp người vi phạm hoặc những người có liên quan từ chối ký thì người lập


biên bản ghi rõ lý do và ký vào biên bản. Biên bản trong trường hợp này vẫn hợp pháp
và người lập biên bản phải chịu trách nhiệm về nội dung trung thực của biên bản.
b. Ra quyết định xử phạt hành chính
- Thời hạn ra quyết định xử phạt:
Sau khi tiến hành lập biên bản về vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử
phạt phải xem xét vụ việc và ra quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
lập biên bản; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra
quyết định xử phạt là 30 ngày. Đây là thời hạn mà pháp luật quy định cho người có
thẩm quyền xử phạt phải tuân thủ, không được cố tình trì hoãn hoặc tắc trách làm việc
xử phạt bị dây dưa, kéo dài. Trong trường hợp đặc biệt, tức là khi thấy vụ việc có quá
nhiều tình tiết phức tạp cần có thêm thời gian xem xét, xác minh mà thời hạn 30 ngày
không đủ để xem xét, ra quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ
trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn. Việc gia hạn phải bằng văn bản và thời hạn

- Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại
ngân hàng;
- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
- Các biện pháp cưỡng chế khác để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện vi
phạm (ví dụ: bắt buộc người vi phạm phải giao nộp tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính); các biện pháp bắt buộc cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện các biện pháp
khắc phục hậu quả vi phạm hành chính (ví dụ: nếu người vi phạm không tự nguyện
tháo dỡ công trình xây dựng trái phép thì tổ chức tháo dỡ và buộc người vi phạm phải
trả chi phí...).
8.2. Thẩm quyền của cấp xã trong việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
hành chính
Tại cấp xã, chỉ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn là người có thẩm quyền ra
quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Các quyết định xử phạt do các
chức danh khác ở cấp xã ban hành như Trưởng Công an xã, Chiến sĩ cảnh sát nhân
dân thuộc Công an xã… nếu cần cưỡng chế phải báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp xã để Chủ tịch xã ra quyết định cưỡng chế. Thủ tục cưỡng chế thực hiện theo quy
định của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP.
8.3. Tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế
- Đối với quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã:
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi ra quyết định cưỡng chế có nhiệm vụ tổ
chức cưỡng chế như lập kế hoạch, huy động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ
quan, đơn vị có liên quan, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cưỡng chế.
+ Các cơ quan chức năng của Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thi hành
quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo sự phân công của
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
+ Cơ quan Công an cấp xã có nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình
thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- Đối với quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác:
Trong việc thi hành quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác đối
với cá nhân, tổ chức đóng trên địa bàn xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách

hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 23 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
năm 2002. Đây là biện pháp xử lý hành chính không thiên về cưỡng chế mà mang tính
giáo dục cộng đồng, kết hợp sự giáo dục của chính quyền cơ sở với sự giáo dục của
các đoàn thể xã hội, cộng đồng dân cư ở địa phương và của gia đình đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật. Người bị áp dụng biện pháp này phải chịu sự giáo dục của
chính quyền, đoàn thể, nhân dân địa phương tại nơi cư trú, không bị cách ly khỏi cộng
đồng xã hội. Các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến biện pháp này là Pháp lệnh
XLVPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), Nghị định số
163/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, Thông tư số 22/2004/TT-BCA và một số văn bản hướng dẫn khác của Bộ Công
an.
2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã
Đối tượng áp dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã được quy định tại khoản 2
Điều 23 Pháp lệnh XLVPHC và được cụ thể hóa tại Điều 3 Nghị định số
163/2003/NĐ-CP. Theo đó, đối tượng bị áp dụng biện pháp này bao gồm:
a. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi, thực hiện hành vi có dấu hiệu của một
tội phạm nghiêm trọng do lỗi cố ý được quy định tại Bộ Luật Hình sự
Điều cần lưu ý là khái niệm tội phạm nghiêm trọng ở đây phải được xác định
theo tiêu chí của Bộ luật Hình sự 1999. Đây là loại tội phạm mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội đó là đến 7 năm tù. Ví dụ: một người 14 tuổi, phạm tội lừa


đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị 50 triệu đồng (khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm
tù), nhưng không bị xử lý hình sự vì chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
này, thuộc đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
b. Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ,
đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng.
Trong trường hợp này, cần chú ý yếu tố “nhiều lần” tức là người đó phải có ít
nhất từ 2 hành vi vi phạm trở lên trong một năm; tuy nhiên, cũng không nên áp dụng
máy móc mà cần xem xét đến yếu tố vi phạm có tính hệ thống của đối tượng. Các

- Thời hạn áp dụng:


Thời hạn áp dụng biện pháp này từ 3 tháng đến 6 tháng. Việc quyết định thời
gian áp dụng dài hay ngắn cần căn cứ vào mức độ, tính chất, nhân thân và hoàn cảnh,
điều kiện, môi trường giáo dục người vi phạm.
2.4. Thủ tục áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, thị trấn
a. Đề nghị Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Những người sau đây có thể đề nghị áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, thị trấn:
Trưởng Công an cấp xã; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; Đại diện cơ quan,
tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở (ví dụ: Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Tổ
dân phố...).
Bên cạnh những chủ thể nói trên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cũng có thể
chủ động trong việc quyết định áp dụng biện pháp này hoặc quyết định trên cơ sở hồ
sơ, biên bản vi phạm pháp luật về đối tượng do Công an cấp huyện, cấp tỉnh cung cấp.
Đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã phải bằng văn bản theo mẫu chung do
Bộ Công an ban hành.
b. Tổ chức cuộc họp để xem xét đề nghị Giáo dục tại xã, thị trấn và Quyết định
Giáo dục tại cấp xã
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp xã phải triệu tập và chủ trì cuộc họp để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức hữu quan.
Thành phần tham gia gồm Trưởng Công an cấp xã, đại diện Tư pháp xã, đại diện Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện đơn vị dân cư nơi đối tượng sinh sống. Tuỳ
theo từng đối tượng mà có thể mời thêm đại diện các cơ quan, tổ chức khác và đại
diện gia đình.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc họp nói trên, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp xã xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối
với đối tượng. Khi ra quyết định, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải giao trách
nhiệm thực hiện giáo dục đối tượng cho cơ quan, tổ chức phù hợp (ví dụ đối tượng có
hành vi mại dâm thì có thế giao cho Hội Phụ nữ, đối tượng người chưa thành niên thì

người được giáo dục có tiến bộ rõ rệt thì làm văn bản đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp xã xem xét, miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định.
- Trách nhiệm của Trưởng Công an xã: Giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp
trong việc lập, quản lý hồ sơ theo dõi sự tiến bộ của người được giáo dục; phân công
cán bộ, chiến sĩ công an phối hợp với tổ chức được Chủ tịch cấp xã giao quản lý, giáo
dục đối tượng; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã theo dõi thời hạn chấp hành
quyết định, việc vắng mặt của người được giáo dục và thực hiện việc quản lý hồ sơ về
người được giáo dục theo quy định của Bộ Công an.
- Trách nhiệm và quyền của người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã:
Người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã có trách nhiệm:
+ Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động,
học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú.
+ Làm bản kiểm điểm và cam kết để báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
xã và nghiêm chỉnh thực hiện cam kết đó.
+ Phải có mặt khi Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu; nếu vắng mặt mà không có
lý do chính đáng thì Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập họ đến trụ sở để yêu cầu làm
bản kiểm điểm về hành vi vi phạm đó.
+ Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người được phân công giúp đỡ về
tình hình rèn luyện, tu dưỡng, kết quả sửa chữa sai phạm.
+ Nếu người bị giáo dục là người nghiện ma túy dẫn đến sự phát tán tài sản gia
đình thì có thể bị đề nghị Tòa án xem xét, hạn chế năng lực hành vi dân sự của người
đó.
Người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã có quyền:
+ Được lao động, học tập, sinh hoạt tại nơi cư trú; được vắng mặt tại nơi cư trú
nếu có lý do chính đáng nhưng mỗi lần vắng mặt không quá 30 ngày và tổng số thời


gian vắng mặt không vượt quá 1/3 thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã; nếu
vắng mặt đến 10 ngày thì phải báo cáo người giúp đỡ hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã
biết; vắng mặt từ trên 10 ngày đến 30 ngày phải làm đơn xin phép ghi rõ lý do và

điều của các Nghị định quy định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục,
trường giáo dưỡng và một số văn bản hướng dẫn của Bộ Công an.
b. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Việc xác định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng có ý
nghĩa rất quan trọng để bảo đảm áp dụng đúng người, đúng chế tài xử lý. Uỷ ban nhân
dân cấp xã là nơi lập hồ sơ ban đầu về đối tượng đề nghị áp dụng biện pháp này, do
đó, việc nắm vững các quy định của pháp luật về đối tượng áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng là hết sức cần thiết.


Theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và
khoản 2 Điều 2 Nghị định 142/2003/NĐ-CP, thì đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng bao gồm:
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi, thực hiện hành vi có các dấu hiệu của
một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ Luật Hình
sự năm 1999.
Đây là đối tượng có hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng, nhưng do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý hình sự mà áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Đối với loại đối tượng này chỉ cần lần
đầu tiên thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng (mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội đó là đến 15 năm tù) hoặc đặc biệt nghiêm trọng
(mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là trên 15 năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình) là đủ điều kiện để lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng.
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có các dấu hiệu của một
tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà
trước đó đã bị áp dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã hoặc chưa bị áp dụng biện pháp
này nhưng không có nơi cư trú nhất định;
Ví dụ: Một người 14 tuổi, trước đây đã bị áp dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã
do nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, gây rối trật tự công cộng, nay lại có hành vi trộm
cắp 1 chiếc xe đạp trị giá 500.000 đồng (thuộc tội ít nghiêm trọng nên trong trường

nhiệm Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em cấp huyện; Trưởng Công an là thường trực
Hội đồng. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ trong
thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và làm văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp huyện.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc áp dụng biện
pháp này trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn.
- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện
có trách nhiệm đưa người có quyết định vào chấp hành tại trường giáo dưỡng.
Trong quy trình trên, trách nhiệm của chính quyền cấp xã tập trung chủ yếu vào
khâu đầu tiên, tức là khâu lập hồ sơ, biên bản về hành vi vi phạm pháp luật của đối
tượng.
3.2. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức hữu
quan ở cơ sở trong quá trình áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
a. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Trong việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp xã có quyền và trách nhiệm sau:
- Lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng: đối với người chưa thành niên
thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
người đó cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ về đối tượng, gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp huyện.
Trong hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu, biên bản về vi phạm pháp luật
của đối tượng, tài liệu về các biện pháp giáo dục đã áp dụng, nhận xét của cơ quan
Công an, ý kiến của nhà trường, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Phụ
nữ, Ban Dân số, gia đình và trẻ em cấp xã, ý kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ.
- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật đối với người thuộc đối tượng đưa
vào trường giáo dưỡng không có nơi cư trú nhất định (không xác định được cư trú hay
tạm trú ở đâu, sống lang thang, vạ vật, nay đây mai đó…); trong trường hợp này, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của người đó lập
biên bản, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện để thu thập tài liệu và lập hồ
sơ.

Đưa vào cơ sở chữa bệnh là một biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với
người nghiện ma tuý, người mại dâm có tính chất thường xuyên. Cơ sở chữa bệnh là
nơi chữa trị, học tập, lao động, dạy nghề và hướng nghiệp đối với các đối tượng này.
Cơ sở chữa bệnh còn được gọi là Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội,
do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập. Các văn bản quy định về vấn đề này ngoài
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính còn có Luật Phòng, chống ma túy, Nghị định số
135/2004/NĐ-CP và Nghị định số 43/2005/NĐ-CP quy định việc đưa người nghiện
ma tuý, người mại dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở
chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ
Công an,…
b. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh


Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và
khoản 1 Điều 28 Luật Phòng, chống ma tuý, được cụ thể hóa tại Điều 2 Nghị định số
135/2004/NĐ-CP, thì đối tượng áp dụng biện pháp này bao gồm:
- Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
việc sử dụng trái phép chất ma túy mà vẫn còn nghiện, đã được cai nghiện tại gia đình,
cộng đồng hoặc đã bị áp dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã mà vẫn còn nghiện;
- Người nghiện ma túy không có nơi cư trú nhất định;
- Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi, đã bị áp
dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã hoặc đã bị đưa vào cơ sở chữa bệnh nhưng tái
phạm;
- Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi chưa bị áp
dụng biện pháp Giáo dục tại cấp xã nhưng không có nơi cư trú nhất định;
Cần lưu ý: Biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh chỉ áp dụng đối
với người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên (độ tuổi tối đa không xác định). Còn
người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma tuý đã được cai
nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị
trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì bị cai nghiện bắt buộc

Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng Công an, Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp huyện; Trưởng
phòng Lao động, Thương binh và Xã hội là thường trực Hội đồng. Trong thời hạn 7
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm tổ chức cuộc họp
để xét duyệt hồ sơ và làm văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo
của Hội đồng tư vấn.
- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện
có trách nhiệm đưa người có quyết định vào chấp hành tại cơ sở chữa bệnh.
Cần lưu ý: Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên bị bắt quả tang sử dụng trái
phép chất ma túy mà không có nơi cư trú nhất định; người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến
dưới 55 tuổi bị bắt quả tang thực hiện hành vi bán dâm hoặc người bán dâm có tính
chất thường xuyên mà không có nơi cư trú nhất định sẽ bị đưa vào lưu trú tạm thời tại
cơ sở chữa bệnh tối đa là 15 ngày. Đây là biện pháp ngăn chặn mới không được quy
định trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002, nhưng được quy định tại Nghị định số
43/2005/NĐ-CP của Chính phủ sau khi có sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội. Biện pháp đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh nhằm ngăn chặn, phòng
ngừa các đối tượng này bỏ trốn (vì không có nơi cư trú ổn định) trong thời gian cơ
quan có thẩm quyền lập hồ sơ và tiến hành các thủ tục ra quyết định đưa vào cơ sở
chữa bệnh.
4.2. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức hữu
quan ở cơ sở trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh
a. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh: đối với người thuộc đối tượng đưa
vào cơ sở chữa bệnh thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú có trách
nhiệm lập hồ sơ về đối tượng, gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Hồ sơ gồm có tóm tắt lý lịch, bệnh án (nếu có), tài liệu, biên bản về vi phạm
pháp luật của đối tượng, các biện pháp đã áp dụng, nhận xét của cơ quan công an, ý
kiến của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các các tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan
(Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ cấp xã…)

về đối tượng đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh theo yêu cầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp xã để bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ về đối tượng.
5. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
5.1. Một số vấn đề chung về biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
a. Khái quát chung về biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục:
Đưa vào cơ sở giáo dục là một trong những biện pháp xử lý hành chính khác
được quy định trong Pháp lệnh XLVPHC. Đối tượng bị áp dụng biện pháp này sẽ
được đưa vào các cơ sở giáo dục do Bộ Công an thành lập và quản lý để rèn luyện, tu
dưỡng, học văn hóa, học nghề, lao động dưới sự quản lý của cơ sở để trở thành những
công dân có ích cho xã hội. Hiện nay, có 10 cơ sở giáo dục trên phạm vi toàn quốc.
Các văn bản pháp luật liên quan đến biện pháp này bao gồm: Pháp lệnh
XLVPHC, Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2003 quy định và
hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, Nghị định số
125/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 sửa đổi, sổ sung một số điều của Nghị
định số 76/2003/NĐ-CP, Nghị định số 118/2010/NĐ-CP, Thông tư số 02/2004/TTBCA hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP và một
số văn bản khác của Bộ Công an.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status