Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập.
Sinh viên thực tập
Quách Sỹ Thao
Lớp CQ48/11.19
SV: Quách Sỹ Thao
1
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
..….124
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….....125
PHỤ LỤC…………………………………………………………………..126
SV: Quách Sỹ Thao
2
TSCĐ
TSDH
TSNH
VCĐ
VCS
VKD
VLĐ
SV: Quách Sỹ Thao
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bất động sản
Các khoản phải thu
Các khoản phải trả nhà cung cấp
Chứng nhận đăng ký kinh doanh
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Doanh thu thuần
Giá vốn hàng bán
Hoạt động kinh doanh
Hội đồng quản trị
Hàng tồn kho
Lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận trước thuế
Phòng đầu tư xây dựng
Phòng tài chính kế toán
Sản xuất kinh doanh
SV: Quách Sỹ Thao
5
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước những biến đổi sâu sắc của nền kinh tế toàn cầu hóa, khi mà mức
độ cạnh tranh hàng hóa dịch vụ giữa các doanh nghiệp Việt Nam trên thị
trường trong nước và quốc tế ngày càng khốc liệt đã buộc tất cả các doanh
nghiệp không những phải vươn lên trong quá trình sản xuất kinh doanh mà
còn phải biết phát huy tiềm lực tối đa để đạt được hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao nhất. Vì thế các nhà quản trị doanh nghiệp phải luôn nắm rõ được
thực trạng của doanh nghiệp mình, đặc biệt là thực trạng tình hình tài chính
của doanh nghiệp mình, từ đó có những chiến lược, kế hoạch phù hợp nhằm
cải thiện và phát triển doanh nghiệp bền vững. Muốn vậy, doanh nghiệp cần
đi sâu đánh giá tình hình tài chính một cách chi tiết và kết hợp với ngành nghề
kinh doanh của mình nhằm nắm rõ được thực trạng cũng như định hướng
tương lai cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong tình hình thực tế hiện nay, với nền kinh tế có nhiều những diễn
biến phức tạp, đã không có ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề huy
động vốn và sử dụng vốn, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả thậm chí không
bảo toàn được vốn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đặc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công
ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại Công ty cổ
phần Xi măng vicem Hoàng Mai.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian : Nghiên cứu về tình hình tài chính và biện pháp cải thiện tình
hình tài chính của Công ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai
+ Về thời gian: năm 2012– năm 2013
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương
pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê, logic…đồng thời sử dụng các
bảng biểu để minh họa.
SV: Quách Sỹ Thao
77
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
5. Kết cấu đề tài luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn
gồm có 3 phần :
Chương 1 : Lý luận chung về đánh giá thực tình hình tài chính của
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung
ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp
các yếu tố đầu vào (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động) để tạo ra
yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa, đem về lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, để có các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh
nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, và tùy theo loại hình
doanh nghiệp mà có các phương thức huy động vốn khác nhau.
Vốn vận động rất đa dạng, liên tục và không ngừng chuyển đổi hình thái
biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa
và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết
bị, nguyên vật liệu... phục vụ cho quá trình sản xuất. Sản phẩm của quá trình
sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn
mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng. Doanh thu bán hàng
sau khi bù đắp các chi phí, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận,
với số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một cách hợp lý. Như
vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
SV: Quách Sỹ Thao
99
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.
SV: Quách Sỹ Thao
10
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể cso quan hệ tài chính với các tổ chức xã
hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội…
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động.
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền
lương, tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất đối với người lao động.
• Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện góp vốn
đầu tư hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau
thuế của doanh nghiệp.
• Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp
trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch
toán nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy: Xét về mặt hình thức: Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền
tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các
hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất: Tài chính doanh nghiệp là các
định tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết
định đầu tư đúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó gia tăng
giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Ngược lại, một quyết định đầu tư sai sẽ là tổn thất
giá trị doanh nghiệp, do đó sẽ làm thiệt hại tài sản cho chủ doanh nghiệp.
Quyết định nguồn vốn
Quyết định này gắn liền với quyết định lựa chọn loại nguồn vốn nào
cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay,
nên dùng vốn vay ngắn hạn hay dài hạn. Các quyết định nguồn vốn bao gồm:
- Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn, bao gồm: Quyết định vay ngắn
hạn hay quyết định sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn hạn
ngân hàng hay sử dụng tín phiếu Công ty.
- Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn, bao gồm: Quyết định nợ dài hạn hay
vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu Công
ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thông hay vốn cổ phần ưu đãi, quyết định
vay để mua hay thuê tài sản…
SV: Quách Sỹ Thao
12
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Quyết định phân chia lợi nhuận
Đây là quyết định gắn liền với chính sách cổ tức của doanh nghiệp.
Trong quyết định này, nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử
dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư.
Luận văn tốt nghiệp
Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp
Thứ nhất, tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư.
Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định có tính chiến lược của doanh
nghiệp. Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn
vào quyết định đầu tư, vì quyết định đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
cảu doanh nghiệp trong một thời gian dài, chi phối quy mô kinh doanh, trình
độ trang bị kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả
năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tương lai.
Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc
trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính
phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập trong
tương lai, hay nói cách khác đó là xem xét dòng tiền liên quan đến khoản đầu
tư, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư.
Thứ hai, Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp
thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà quản trị cần phải xác định các
nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, từ đó tổ
chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ, có lợi cho các hoạt
động doanh nghiệp.
Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn
thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều khía cạnh như: Kết cấu nguồn
vốn, những điểm lợi, bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí sử dụng
mỗi nguồn vốn…
Thứ ba, sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản
thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
SV: Quách Sỹ Thao
phân tích tình hình tài chính định kỳ mà doanh nghiệp biết được hiệu quả sử
dụng vốn, điểm mạnh - điểm yếu trong quản lý, dự báo tình hình tài chính
tương lai để đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh
và tài chính của doanh nghiệp trong kỳ tới.
Thứ sáu, thực hiện kế hoạch hóa tài chính
SV: Quách Sỹ Thao
15
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông
qua việc lập kế hoạch tài chính. Có kế hoạch tài chính tốt thì mới có thể đưa
ra các quyết định tài chính đúng đắn để thực hiện mục tiêu doanh nghiệp. quá
trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra các giải
pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động.
1.1.2.2 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận và là nội dung quan
trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ tới tất cả
các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt là hiện nay khi mà nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về sản
xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời phải đương đầu với nhiều thách thức
do cạnh tranh khốc liệt và sự biến động khôn lường của thị trường thì vai trò
của quản trị tài chính doanh nghiệp lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
chọn hình thức và các phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu
vốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí sử dụng vốn, góp phần
tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Mặt khác, với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh
doanh có thể giúp doanh nghiệp tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng
vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay, từ đó giảm được tiền trả lãi vay,
góp phần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Ba là, kiềm tra, giám sát một cách toàn diện các mặt hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận
động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Vì vậy thông qua việc xem xét
tình hình thu, chi tiền tệ hằng ngày và đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp mà các nhà quản trị tài chính có thể kiểm soát kịp thời và toàn diện các
mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những tồn tại và tiềm năng chưa
được khai thác nhằm đưa ra các quyết định thích hợp, điều chỉnh các hoạt
động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì công tác quản trị tài chính doanh nghiệp
cũng không giống nhau. Đó là vì giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt về
SV: Quách Sỹ Thao
17
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố
định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến
tốc độ luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất
chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ,
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh liên tục…).
Môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh nhất
định. Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên trong và
bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp: Môi trường kinh tế Tài chính, môi trường chính trị, môi trường luật pháp, môi trường công nghệ,
môi trường văn hóa – xã hội,…Dưới đây, xem xét tác động của môi trường
kinh tế tài chính đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Nếu cơ sở hạ tầng phát triển thì sẽ giảm bớt
được nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh.
- Tình trạng nền kinh tế: Một nền kinh tế đang trong quá trình tăng trưởng thì
có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh
nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu
đầu tư. Ngược lại, nền kinh tế đang trong trình trạng suy thoái thì doanh
nghiệp khó có thể tìm được cơ hội để đầu tư.
- Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, đến chi
phí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp. Mặt khác lãi suất
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm đánh gia thực trạng tài chính doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập và
phân tích các thông tin tài chính, tính toán các chỉ số, để đối chiếu xem hoạt
động cảu doanh nghiệp có đạt được mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn
lực (chi phí) bỏ ra hay không. Thông thường, đáng giá thực trạng tài chính
nhằm phân tích sự phù hợp, tính hiệu quả của tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá thực trạng tài chính là một khâu rất quan trọng, nó ảnh hưởng
rất lớn đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những kết
quả đánh giá thực trạng tài chính, các nhà quản trị sẽ căn cứ vào đó mà đưa ra
các quyết định tài chính cho phù hợp. Đánh giá đúng thực trạng tài chính là
căn cứ quan trọng để đưa ra các quyết định phù hợp. Việc đánh giá thực trạng
tài chính cần được phải tiến hành thường xuyên và có hệ thống.
SV: Quách Sỹ Thao
20
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.2. Mục tiêu của đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, ngoài
chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp, người lao động, còn có
nhiều đối tượng bên ngoài quan tâm đến tài chính của doanh nghiệp như các
Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp đối với người cho vay là xác
định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng để có chính sách cho vay thích hợp.
Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm
ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công, đảm nhiệm.
Do đó, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được
dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh
nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp từng đối tượng lựa
chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.2.2 Nội dung đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp
Đánh giá tình hình huy động vốn thông qua sự biến động của nguồn vốn
và cơ cấu nguồn vốn.
Đánh giá sự biến động của nguồn vốn được thực hiện thông qua so sánh
cả tổng số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác
định chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng
loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn.
Đánh giá cơ cấu nguồn vốn bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng
loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ.
Đồng thời so sánh tỷ trọng từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ từ đó
đánh giá được cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn của doanh
nghiệp trong kỳ.
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức:
Tỷ trọng từng loại nguồn
vốn
SV: Quách Sỹ Thao
Tổng số nợ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ số nợ ngắn hạn và dài
hạn. Tổng nguồn vốn bao gồm các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng.
Thông thường các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ vừa phải vì tỷ lệ này càng
thấp thì khoản nợ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản.
Trong khi đó, các chủ sở hữu lại ưu thích tỷ lệ nợ cao vì họ nắm trong tay một
lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng vốn nhỏ và các nhà tài chính sử
dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên nếu hệ
số nợ quá cao, doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Đánh giá hoạt động tài trợ thông qua mô hình tài trợ
- Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên (Tài sản
thường xuyên) được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm
thời (Tài sản tạm thời) được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
- Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần của
TSLĐ tạm thời được đảm bảo rằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần
TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
- Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được
đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và
toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời.
1.2.2.2 Đánh giá tình hình đầu tư và sử dụng vốn của doanh nghiệp
SV: Quách Sỹ Thao
23
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp thì số
vốn đầu tư cho loại hình đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu phần trăm, đồng
thời phản ánh quy mô, cơ cấu đầu tư tài chính trong tổng số vốn hiện có của
doanh nghiệp.
- Tỷ suất đầu tư bất động sản
BĐS đầu tư
x
100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tham gia thị trường BĐS của doanh
Tỷ suất đầu tư BĐS
=
nghiệp ở từng thời kỳ.
SV: Quách Sỹ Thao
24
Lớp: CQ48/11.19
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, ta tiến hành so sánh giữa cuối kỳ và đầu kỳ
1.2.2.3 Đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn bằng tiền
SV: Quách Sỹ Thao
25
Lớp: CQ48/11.19