BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------
NGUYỄN THỊ TĨNH
PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành
Mã số
: Triết học
: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS
ĐẶNG HỮU TOÀN
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ triết học với đề tài: “Phạm trù
Lễ trong Nho giáo sơ kỳ và ý nghĩa của nó với việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Hữu Toàn.
Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc cách đây khoảng 2500 năm, là hệ tư
tưởng thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Với tư cách một học
thuyết đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ
giữa con người với con người. Những phạm trù đạo đức cơ bản mà Nho giáo
xây dựng là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Hiếu, Tín... Đây được coi là những
phạm trù trung tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội.
Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Nho giáo. Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác
nhau, có nội dung biến đổi cùng với sự biến đổi, phát triển của Nho giáo. Song,
dù được hiểu theo khía cạnh nào thì Lễ cũng có một vị trí và ý nghĩa quan
trọng trong hệ thống những phạm trù đạo đức của Nho giáo với mục đích bình
ổn xã hội.
Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, tư tưởng của Nho giáo từ chỗ
đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần đã hòa nhập vào đời sống cộng
đồng, biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa. Tư tưởng Nho giáo, trong
đó có tư tưởng về Lễ, đã sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nền giáo
dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ Lễ trong nền
giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều
biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào, Lễ cũng có giá trị cần phải được bảo
tồn và phát huy.
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã có bước chuyển
quan trọng và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình đó
cũng đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Là nguồn lực
quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, sinh viên Việt Nam hiện nay,
1
bên cạnh những mặt tích cực, những giá trị đạt được từ nền giáo dục, từ việc
kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc thì một bộ phận không nhỏ cũng đang
- “Tứ thư” chọn bộ 4 tập (Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử)
do Đoàn Trung Còn dịch, NXB Thuận Hóa - Huế năm 2000. Bộ Tứ Thư là
một bộ sách, tuy là của Trung Quốc, nhưng các cụ ta xưa đã dùng để dạy học.
Tất cả học sinh đều học qua, kẻ ít người nhiều. Những tư tưởng, kiến thức dạy
cho học sinh học để làm người về mọi lĩnh vực. Từ việc nhỏ nhặt đến việc lớn
như việc trị nước, việc bình trị thiên hạ cũng đều có trong bộ sách này.
- Cuốn “Nho giáo xưa và nay” của tác giả Vũ Khiêu, NXB Khoa học
xã hội bao gồm một số bài viết của một số tác giả đề cập tới nhiều vấn đề của
Nho giáo từ phương hướng, phương pháp tiếp cận đến quan hệ của Nho giáo
với kinh tế, lịch sử, văn hoá.
- Cuốn sách “Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa
- 1995, tác giả đã nghiên cứu, trình bày khái quát về con người, cuộc sống
của Khổng Tử, cùng hệ thống tư tưởng cơ bản của Khổng Tử về chính trị,
đạo làm người…
Hướng thứ hai, là những nghiên cứu về ảnh hưởng và vai trò của Nho
giáo đối văn hóa xã hội, với đạo đức con người Việt Nam.
- Cuốn sách “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sĩ Thắng, NXB Khoa học
xã hội Hà Nội - 1994. Trong cuốn sách này tác giả trình bày về một số nội
dung cơ bản của Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới xã hội Việt Nam ở một
số lĩnh vực như: truyền thống đạo đức, văn hoá dân tộc, giáo dục khoa bảng...
- “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam” của tác giả Vũ Khiêu, NXB
Khoa học xã hội 1997. Trong đó tác giả đã có những đánh gia khá sâu sắc và
khách quan về vai trò và sự ảnh hưởng của môt số nội dung tư tưởng trong
Nho giáo đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay.
3
- Trong cuốn sách “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh
hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), tác giả
- Ngoài ra còn phải kể đến một số bài viết như: “Quan niệm về Lễ của
Nho giáo và những bài học cho chúng ta ngày nay” đăng trên Tạp chí Triết
học số 4 năm 2000 của tác giả Nguyễn Văn Bình; “Tư tưởng về Lễ và chính
danh của Nho giáo” tác giả Minh Anh - Tạp chí Triết học; “Quan niệm Nho
giáo về đạo làm người” của tác giả Nguyễn Thị Thọ - Tạp chí Triết học…
Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận theo một hướng khác
nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được coi là có cái nhìn toàn
diện về phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ, hoặc trình bày một cách có hệ
thống nội dung của Lễ, đánh giá hết những giá trị, hạn chế của tư tưởng về Lễ
cũng như đề ra phương pháp vận dụng những bài học lịch sử đó vào việc giáo
dục đạo đức sinh viên hiện nay.
Như vậy, vấn đề Nho giáo đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu qua
các thời kỳ và dưới nhiều góc độ khác nhau. Song, vấn đề nghiên cứu chuyên
sâu về phạm trù Lễ trong Nho giáo và sự vận dụng phạm trù này trong việc
giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay, có thể nói chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống.
Với thái độ trân trọng trước những thành tựu nghiên cứu của các học
giả đi trước với tư cách nguồn cung cấp những kiến thức về Nho giáo và
phạm trù Lễ, chúng tôi đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc và trung thực với
nguồn tư liệu quý báu đó trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Về vấn đề thực trạng đạo đức của sinh viên Việt Nam hiện nay, để có
cái nhìn toàn diện về đạo đức, lối sống của sinh viên Việt Nam hiện nay, trên
cơ sở nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của Đảng, tác giả có tham khảo, kế
thừa những công trình khảo sát, thống kê, nghiên cứu về thanh niên, sinh viên
về đạo đức, lối sống của sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy triết học và đạo đức học trong các trường đại học, cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp… ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Luận văn sử dụng các phương pháp như lịch sử - lôgíc, phân tích,
tổng hợp, quy nạp, diễn dịch.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 2 chương, 6 tiết.
Chương 1. Phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ
Chương 2. Phạm trù Lễ ở Việt Nam và ý nghĩa của nó với việc giáo
dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
7
Chương 1
PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ
1.1. Cơ sở hình thành phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội cho sự ra đời và phát triển
Lễ trong Nho giáo sơ kỳ
Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một
thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ “Nho” gồm từ “Nhân” (người)
đứng gần chữ “Nhu”. Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách
thánh hiền được thiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo
lý. Nhìn chung “Nho” là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, thời
Tư tưởng chính trị, ở thời Chu đã được tôn giáo hoá một cách toàn
diện. Mọi chính sách của nhà Chu đều được giải thích là “vâng mệnh trời”.
Bên cạch đó, tư tưởng “trị dân” cũng là một tư tưởng chính trị quan trọng.
Về đạo đức, cơ sở để hình thành những quy tắc đạo đức trong thời kỳ
này chính là mối quan hệ giữa thiên tử và muôn dân, từ đó sinh ra mối quan
hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người dân. Vì vậy, tư tưởng đạo đức của
thời Tây Chu luôn lấy hai chữ Hiếu và Đức làm nòng cốt. Quan niệm đạo
đức này nhằm củng cố địa vị của giai cấp quý tộc, thị tộc, bảo vệ nhà
nước chuyên chính thị tộc.
Nho giáo được coi là ra đời từ thời Tây Chu nhưng phát triển với nhiều
nhà nho tiêu biểu thì phải nói tới thời Đông Chu hay còn gọi là thời Xuân Thu
- Chiến Quốc (770 - 221 TCN).
Về kinh tế, thời Đông Chu đồ sắt đã được sử dụng phổ biến. Công cụ
bằng sắt tham gia vào sản xuất đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế
nông nghiệp và thương nghiệp.
9
Về chính trị, sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế đã tác động lớn
tới hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp trong trật tự xã hội cũ. Trong
xã hội xuất hiện một tầng lớp địa chủ mới lên, họ ngày càng giàu có và lấn át
quý tộc, thị tộc cũ. Họ đòi được quyền bình đẳng với tầng lớp quý tộc nhà Chu.
Sự phân biệt sang hèn dựa trên cơ sở huyết thống của nhà Chu tỏ ra không còn
phù hợp nữa mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở về giá trị tài sản. Quyền sở hữu tối
cao của vua nhà Chu bị tầng lớp địa chủ mới lên lấn át và chiếm lĩnh, địa vị
chính trị, ngôi thiên tử của nhà Chu đang dần chỉ còn là hình thức. Khi nhà Chu
đang giữ ngôi thiên tử đã chia thiên hạ ra làm hơn 70 nước chư hầu. Thời kỳ
nhà Chu còn thịnh vượng, những nước chư hầu đều có quyền tự chủ và hàng
năm phải cống nộp cho thiên tử nhà Chu. Nhưng ở giai đoạn Đông Chu trật tự
Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử (551 - 479 TCN), thọ 73 tuổi, tên thật là Khâu, tự là Trọng
Ni, sinh ở Khúc Phục nước Lỗ trong một gia đình quý tộc nhỏ đã sa sút. Quê
hương nước Lỗ của Khổng Tử là nơi bảo tồn được nhiều văn hóa cũ của nhà
Chu. Sử sách còn ghi: Thủa nhỏ Khổng Tử hay chơi trò bày đồ cúng tế, ham
học, thích nghiên cứu Thi, Thư, Lễ, Nhạc đời trước. Điều này biểu hiện bản
tính của Khổng Tử luôn coi trọng những điều lễ nghĩa.
Năm Khổng Tử lên 3 tuổi thì cha mất. Ông sống với mẹ trong cảnh nhà
nghèo. Khi lớn lên, mẹ cho đi học. Ông thích bày cúng tế khi chơi với trẻ
hàng xóm. Năm 15 tuổi, ông đã lập chí học tập. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ, vợ
của ông là con của họ thượng quan nước Tống và sanh được một người con,
đặt tên là Lý Tự. Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất
cứ việc gì, ông cũng để ý xem xét rất kĩ lưỡng để biết cho tận cùng mới thôi.
Tính ông ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận,
đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào thiên mệnh. Năm 21 tuổi, Khổng Tử được cử
làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân
đo và gạt lúa. Sau đó qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật
11
dùng trong việc tế tự. Năm 25 tuổi thì mẹ ông mất. Ông bắt đầu học đàn với
Sư Tương, ở nước Lỗ. Do chủ chương chính trị không hợp, ông bỏ nước Lỗ đi
chu du qua nhiều nước Vệ, Tống, Trần, Thái… Khổng Tử chỉ muốn đem cái
đạo của mình để giúp đời mà mãi không thành công được. Học thuyết của
Khổng Tử là học thuyết của những người học Nho cốt ở hành đạo, ai có tài,
có trí thì phải ra ứng dụng ở đời để làm những điều lợi ích cho nhân chúng,
chứ không phải chỉ cầu lấy sự an nhàn và vui thú trong vòng tư tưởng, học
thuyết ấy tất là phản đối với quyền lợi của các vua chư hầu và các quan đại
phu, cho nên ông đi đến đâu các nước vì danh nghĩa mà trọng đãi nhưng kỳ
thời Tống - Nguyên gắn với Trình Hạo, Trình Di…
Cuộc đời và sự nghiệp của Mạnh Tử
Phái đạo đức của Tăng Tử ở nước Lỗ, truyền đến cuối thế kỷ thứ IV
(TCN) thì một số nhà hiền triết đem nho giáo làm cho sáng rõ hơn trước. Đó
chính là Mạnh Tử.
Mạnh Tử (372 - 289 TCN), là người đất Trâu nay thuộc huyện Trâu
thuộc tỉnh Sơn Dương. Năm ông lên ba tuổi thì cha mất, nhờ có mẹ dạy dỗ.
Khi lớn lên, Mạnh Tử theo học với thầy Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội
của Đức Khổng Tử. Mạnh Tử học với Tử Tư hiểu được cái đạo của Đức
Khổng Tử, lại có tài hùng biện và sở trường về khoa nói thí dụ. Lời nói của
ông chắc chắn và mạnh mẽ, có sức thuyết phục. Mạnh Tử làm điều gì cũng
lấy Đức Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Mạnh Tử nói Đức Khổng Tử là bậc Thánh
về thời, nghĩa là Đức Khổng Tử có gồm hết các đức tốt của các bậc Thánh
khác và ở vào thời nào cũng đều ứng dụng được cả.
Mạnh Tử ở vào thời Chiến Quốc, loạn lạc khắp nơi. Mạnh Tử cũng
muốn đem tài học ra cứu đời. Ông muốn bắt chước Đức Khổng Tử định đi
chu du các nước chư Hầu để đem cái đạo của Thánh nhân ra ứng dụng. Thời
Chiến Quốc, thiên tử nhà Chu quá nhu nhược, không thể điều khiển được các
13
vua chư Hầu. Mạnh Tử đành phải giúp vua chư Hầu, những nước nhỏ bé quá
thì không thể làm gì được, nên ông lưu ý đến hai nước lớn là Tề và Lương.
Những nước lớn này lại không chịu theo Vương đạo, mà chỉ muốn theo Bá
đạo muốn làm bá chủ thôn tính các nước khác, nên họ cho lời nói của Mạnh
Tử là viễn vông, không thiết thực. Mạnh Tử cực lực bài xích các học thuyết
cực đoan này để làm sáng tỏ Đạo của Khổng Tử.
Mạnh Tử học rộng, lý luận rất chặt chẽ, muốn đem cái sở đắc ra hành
đạo nhưng không gặp thời. Ông có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ Đạo
được bổ sung và hoàn thiện.
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Trung Quốc, ban đầu, Lễ
theo nghĩa đen hoàn toàn chỉ có ý nghĩa cúng tế thần linh - một lễ nghi tô
tem giáo của người xưa. Nó thể hiện mối quan hệ giữa con người với trời
đất, quỷ thần.
Theo “Từ điển thuyết văn giải tự” thì Lễ chính là “Kính thần cầu
phúc”. Nó chỉ cách thức cúng tế, thờ thần cho được phúc - thể hiện nghi lễ tô
tem giáo của người xưa. Nho giáo thể hiện sự tin tưởng vào trời đất, thiên
mệnh, quỷ thần, coi quỷ thần như cái khí thiêng của trời đất. Vì vậy mà con
người phải kính cẩn thờ phụng, thờ trời đất, quỷ thần phải thể hiện sự “thành”
và “kính”. Lễ bái là việc mang ý nghĩa tôn giáo nhưng nó không chỉ là những
nghi thức có tính hình thức. Với Khổng Tử khi tế lễ phải kính cẩn, nghiêm
túc. Trong chương Thuận Nhi - Luận ngữ Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến
nghi thức cũng như thái độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên
tai… Khổng Tử yêu cầu: “trong việc ăn uống thì đạm bạc, nhưng lễ vật dâng
cúng quỷ thần thì trọng hậu, y phục thường mặc thì xấu mà áo mũ trang sức
trong dịp tế lễ thì đẹp đẽ” [9, tr.130]. Khổng Tử không chỉ quan tâm tới nghi
thức mà còn quan tâm tới cả nghĩa vụ, bổn phận của mỗi người khi tế lễ. Khi
tế lễ phải đúng danh phận của mình, đúng những nghi thức, quy định đã đặt
ra, không được vi phạm, nếu vi phạm sẽ là người thất lễ, tiếm lễ. Khổng Tử
16
không những khuyên mọi người mà còn tự mình nêu gương trong việc thực
hành Lễ. Để tỏ lòng kính cẩn, theo ông khi lễ quỷ thần phải coi như quỷ thần
ngồi tại đó. Trường hợp vào chầu vua, ông quy định rất chi tiết từ dáng đi đến
nét mặt cho đến tiếng nói và hơi thở.
Khi thực hiện Lễ, Khổng Tử cũng đòi hỏi Lễ phải gắn với “Nhân”, nếu
không đó chỉ là những nghi thức giả dối, phiền toái mà thôi: “Người ta mà
1.2.2. Lễ là trật tự xã hội, là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia
Sau này, vì mục đích bảo vệ chế độ “tông pháp” của nhà Chu và ổn
định trật tự xã hội mà Khổng Tử tuyên bố “Ngô tòng Chu”. Dần dần trong
quá trình nhận thức ông đã nhận ra ý nghĩa đặc biệt và vai trò của Lễ. Lễ được
coi là tiêu chuẩn để đánh giá con người, Lễ là gốc của Nhân, biểu hiện thái độ
của Lễ là ở kính, ở lòng chí thành. Lễ đã trở thành những quy phạm bắt buộc,
là tiêu chuẩn phổ biến của xã hội để điều chỉnh hành vi của con người. Nó
không chỉ còn là phong tục, tập quán của lễ giáo cổ đơn thuần mà còn là pháp
luật, là nếp sống, mang ý nghĩa đạo đức, văn hoá rộng lớn.
Phạm trù Lễ được dùng về phương diện phân tôn ti, trật tự, tức là phép
tắc để tổ chức luân lý ở trong gia đình, xã hội và quốc gia. Trong xã hội mối
quan hệ giữa con người với con người rất phức tạp. Vì muốn thiết lập lại trật
tự xã hội, Nho giáo quy định rạch ròi các mối quan hệ trong xã hội. Trong
năm mối quan hệ cơ bản (Ngũ luân) mà Nho giáo phân định, thì mối quan:
vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (Tam cương) được đặc biệt đề cao. Tuy nhiên,
thời đại của Khổng Tử là thời đại mà theo ông “Lễ nhạc hư hỏng”: Vua không
giữ đúng đạo vua, tôi không giữ đúng đạo tôi, cha không giữ đúng đạo cha,
con không giữ đúng đạo con… nên thiên hạ “vô đạo”. Để lập lại kỷ cương xã
hội, khôi phục cương thường, Lễ chế của nhà Chu. Khổng Tử chủ trương quy
định ranh phận cho từng người (Chính danh). Và Lễ chính là phương tiện, là
công cụ để quy định danh phận của từng người trong xã hội theo đúng địa vị,
18
ngôi thứ của mình. Từ đó, Nho giáo đề ra những quy định, yêu cầu về Lễ
trong thực hiện các mối quan hệ xã hội, như:
- Lễ đối với vua
- Lễ đối với cha mẹ
- Lễ với bậc trưởng lão
cố long lễ do lễ, vị chi hữu phương chi sĩ. Bất long lễ, bất do lễ, vị chi vô
phương chi dân. Kính nhượng chi đạo dã, cố dĩ phụng tông miếu tắc kính; dĩ
nhập triều đình, tắc quý tiện hữu vị; dĩ xứ thất gia, tắc phụ tử thân, huynh đệ
hoà; dĩ xứ hương lý, tắc trưởng ấu hữu tự. Khổng Tử viết: “An thượng trị dân,
mạc thiện vu lễ”, nghĩa là Lễ là đạo kính nhường nhau. Khi tế lễ tông miếu
phải thành kính, trên triều đình trăm quan phải có tôn ti trật tự; trong đời sống
gia đình thì cha con yêu thương nhau, anh em hoà mục, gặp nhau trong thôn
xóm thì già trẻ có tôn ti. Khổng Tử nói: “Kẻ trên mà yên với việc ở ngôi trên
trị vì trăm họ thì chẳng có ai không biết tuân thủ lễ phép nữa”. [29]
Với Mạnh Tử, mục đích giáo dục của ông cũng chính là việc khiến cho
mọi người đều biết về Lễ, dựa vào Lễ mà thực hiện đúng các mối quan hệ với
nhau trong xã hội: “Cha con phải có tình thương yêu nhau, vua tôi phải có
nghĩa, vợ chồng phải kính nể nhau, già trẻ phải có thứ bậc trên dưới, bạn bè
phải có tín” [9, tr.168].
Tuân Tử cũng coi Lễ chính là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức xã hội.
Nói về nguồn gốc của “Lễ” ông nói: “Vì ghét loạn và mong muốn nền bình trị
mà tiên vương chế ra lễ để phân biệt trên dưới, khiến cho sang hèn có đẳng
cấp, già trẻ có sự sai biệt, trí ngu, tài giỏi, kém cỏi đều có phân vi khác nhau
để không tranh nhau, không tiếm vượt” [6, tr.308]. Tuân Tử còn cho rằng:
“Người sinh ra mà có lòng muốn, muốn mà không được thì không thể tìm,
tìm mà không có chừng mực giới hạn thì không thể không tranh. Tranh thì
loạn, loạn thì khốn cùng. Tiên vương ghét cái loạn, nên chế lễ nghĩa để phân
biệt trật tự, để nuôi cái muốn của người ta, cấp cái tìm của người ta, khiến cái
20