Tích hợp giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh lớp 12, địa bàn miền núi qua dạy học tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính
trọng tới Ban giám hiệu, cùng các thầy, cô và cán bộ các phòng- ban Trường
Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân
thành nhất tới PGS.TS Trần Khánh Thành đã định hướng, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu và đội
ngũ giáo viên Trường THPT Ba Vì, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Hà
Nội đã tạo điều kiện giúp đã tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Tác giả cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận
tình giúp đỡ động viên tác giả hoàn thành khóa học và luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi thiếu xót,
tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô, các bạn đồng
nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn

Quách Đình Lợi

i


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BGD&ĐT

Bộ Giáo dục và Đào tạo


Sở Giáo dục và Đào tạo

ii


MỤC LỤC
Mùa xuân thường mang lại cho con người hi vọng, ước mơ, là mùa lễ hội, vui chơi, mùa
của tình yêu. Hàng năm khi hoa đào, hoa mận nở trắng rừng cũng là lúc người dân tộc
H’mông bắt đầu đón tết. Tết H’mông rơi vào cuối tháng một, đầu tháng Chạp âm lịch
(30/11 âm lịch). Tết thường kéo dài trong nhiều ngày với nhiều sinh hoạt cộng đồng mang
đậm nét văn hóa dân tộc H’mông. Cho nên cái tết năm ấy đến Hồng Ngài giữa lúc "gió và
rét rất dữ dội" nhưng cũng không ngăn được niềm vui đang trỗi dậy trong tâm hồn những
người dân ở đây, đặc biệt là ở những đôi trai gái yêu nhau. Tô Hoài đã đặc tả không khí
ngày tết với những từ ngữ giàu chất tạo hình, qua đó hiện lên bức tranh ngày tết miền núi
tràn ngập màu sắc và âm thanh: "Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã
đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ [...] Đám trẻ đợi tết, chơi quay,
cười ầm trên sân chơi trước nhà" [39, tr.7]............................................................................54

iii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra nhanh cuối giờ học trường THPT Ba Vì.............................98
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra nhanh cuối giờ học trường Phổ thông Dân tộc...................99
Nội trú Hà Nội.....................................................................................................................99

iv


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

quan trọng cho phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang
hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [61].
1.2. Thực trạng hiện nay, trước ảnh hưởng của thời kì hội nhập và xu
thế toàn cầu hóa một bộ phận người Việt Nam nhất là thế hệ trẻ đã dần mai
một đi những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Do vậy, việc tuyên
truyền, vận động, giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một vấn

1


đề mang tính thời sự và cấp thiết đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của
nước ta.
Việc giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có thể thông qua
nhiều cách, nhiều hình thức, nhiều kênh khác nhau, trong đó thông qua việc
dạy học các tác phẩm văn chương trong nhà trường là một trong những cách
giáo dục hữu dụng. Bởi văn học là một bộ phận không thể tách rời văn hóa.
Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Một tác phẩm
văn học hay được đề cao và lưu truyền lại cho thế hệ sau phải là một tác phẩm
trong đó tác giả không những thành công về nội dung mà đòi hỏi cả ở mặt
nghệ thuật vận dụng của các giá trị văn hóa như thế nào. Do vậy, khi dạy học,
nếu giáo viên biết vận dụng linh hoạt các tín hiệu văn hóa có trong tác phẩm
thì có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục cho các em học sinh ý thức giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc.
1.3. Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT, Vợ chồng A phủ (1952)
in trong tập truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài là một tác phẩm hay, đặc
sắc, tiêu biểu của nhà văn về đề tài miền núi và cũng là tác phẩm đặc sắc của
văn xuôi Việt Nam giai đoạn (1945- 1975). Thông qua dạy học tác phẩm này,
giáo viên Ngữ văn, đặc biệt là giáo viên giảng dạy ở địa bàn miền núi có thể
kết hợp, tích hợp giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bởi đây là

kết nối trong dạy học Ngữ văn [13], Tích hợp trong dạy học Ngữ văn [16],
Dạy Ngữ văn theo hướng tích hợp [7].
2.1.3. Bên cạnh đó, một số luận văn, luận án cũng đã quan tâm lựa
chọn và vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn như: Luận án Hệ
thống đề kiểm tra nhằm đánh giá năng lực Ngữ văn THCS theo yêu cầu tích
hợp của Nguyễn Thị Hồng Vân. Dạy học ca dao trong ngữ văn 10 theo
hướng tích cực và tích hợp [8]. Tích hợp kỹ năng sống, tích hợp giáo dục môi
trường, tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh…
2.2. Về tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài
Vợ chồng A phủ in trong tập Truyện Tây Bắc (1953) cùng với Cứu đất cứu
mường, Mường Giơn và là các tác phẩm xuất sắc nhất, tác phẩm đã được tặng
giải nhất giải thưởng văn học của Hội văn nghệ Việt Nam năm (1954 - 1955).
Đây là một tác phẩm được trích giảng trong chương trình lớp 12 phổ
thông. Vợ chồng A phủ nhận được rất nhiều ý kiến của các nhà phê bình,

3


nghiên cứu, các nhà giáo và đông đảo bạn đọc là đối tượng học sinh, sinh
viên. Tác phẩm được sự đánh giá chung là một tác phẩm hay và xuất sắc của
Tô Hoài khi viết về đồng bào dân tộc ở miền núi Tây Bắc.
Đỗ Kim Hồi trong cuốn Giảng văn học Việt Nam, đã đánh giá rất cao về
tác phẩm này: “Sức chinh phục của Vợ chồng A phủ phải chăng là ở chỗ nhà
văn đã đứng về phía khát vọng được sống, được yêu để tố cáo xã hội đã giam
hãm, trói buộc tuổi xuân và sinh lực, ở chỗ nhà văn tin tưởng vào sức sống bất
diệt của con người để cảm thông với nguyện vọng đau đáu, thiết tha muốn
được vươn lên sống làm người, muốn phản kháng lại thực tại đen tối để tìm
đến tình yêu, tự do và hạnh phúc và sự chinh phục của thiên truyện còn ở cái
nhìn thật biện chứng của tác giả vào thế giới nội tâm của nhân vật” [22, tr 273].
Tác giả Nguyễn Văn Long khi viết về Vợ chồng A phủ đã nhấn mạnh ý

đó bám rất sát chuẩn kiến thức của Bộ giáo dục đề ra. Chủ yếu hướng học
sinh đi sâu vào tìm hiểu các khía cạnh của giá trị tác phẩm Vợ chồng A phủ.
Đây là những tài liệu rất đáng tin cậy để giáo viên và học sinh tham khảo
trong quá trình dạy học tác phẩm này.
Rõ ràng, tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài được rất nhiều người
quan tâm và đánh giá cao. Nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập cụ thể tới việc tích hợp giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc cho học sinh lớp 12 THPT nói chung và ở địa bàn miền núi nói riêng
qua dạy học tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài. Chính vì vậy chúng tôi
mạnh dạn đi vào nghiên cứu vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.1 Mục đích
Đưa ra phương hướng tiếp cận tác phẩm Vợ chồng A Phủ dựa trên
những tín hiệu văn hóa và trên cơ sở đó lồng ghép giáo dục ý thức giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc cho học sinh.
3.1.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu khái niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc; Bản sắc văn
hóa của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.
Lý thuyết về dạy học theo hướng tích hợp.

5


Tìm hiểu thực trạng về dạy học tích hợp và vận dụng tích hợp giáo dục
ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa qua dạy học Vợ chồng A phủ của Tô Hoài ở
một số trường trên địa bàn miền núi khu vực Hà Nội.
Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc cho học sinh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân
loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và
khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để
hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó
có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông
cũng như ở phương Tây. Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La
tinh: Cuture, có nghĩa là vun trồng, chăm bón, cải thiện tạo ra những sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung
Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị
dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con
người. Văn là là cái tốt, cái đẹp; hóa là cảm hóa, giáo dục. Nghĩa là giáo dục
con người bằng cái tốt, cái đẹp và hiện thực hóa cái tốt đẹp đó trong cuộc
sống. Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội
văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của
mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.
Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách
tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa
khác nhau về văn hóa. Theo định nghĩa của cựu Tổng giám đốc UNESCO
Federico Mayor "Văn hóa là tổng thể các hoạt động sáng tạo của cá nhân và
các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo
đã hình thành lên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu,
những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc (...). Văn hóa nhất định
sẽ ghi dấu của mình lên hoạt động kinh tế của con người" [54, tr.23].

7


UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã
hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là


người sáng tạo ra”. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các
thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản,
phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản
phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.
Như vậy với những định nghĩa giá trị về văn hóa nói trên, chúng ta có
thể sử dụng để nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử của một dân tộc,
một cồng đồng người.
1.1.2. Khái niệm bản sắc
"Bản sắc" là một khái niệm phức tạp, liên quan đến cả cái chung và cái
riêng, bao gồm cả yếu tố nội dung và yếu tố hình thức. Theo Từ điển tiếng
Việt [47], thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành
phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù
riêng của sự vật đó. Thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái
rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới
khách quan. Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù,
cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật.
"Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận
khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là
cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu
hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Cách tiếp cận này được
nhận thức trên hai bình diện: mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên
ngoài và giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, mặt
bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất
định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự
vật để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác.
Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc.
Nói đến dân tộc là nói đến văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói
đến dân tộc, bản sắc dân tộc.


khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân
tộc. Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông
qua văn hóa. Vì vậy, có thể coi: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải
bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi
những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với
một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [52, tr.13].

11


Từ nhận định trên có thể thấy yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất
của một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc là cái "hồn", là sức sống nội
sinh, là cái “thẻ căn cước” của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân
tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình
trong quá trình giao lưu và hội nhập. Bản sắc văn hóa dân tộc là dấu hiệu cơ
bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này
với quốc gia khác. Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tập trung trong truyền
thống văn hóa dân tộc. Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử truyền
lại, được các thế hệ sau kế thừa gìn giữ và phát huy trong thời đại của mình,
tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa.
Nói đến tính độc đáo, đặc sắc của văn hóa Việt Nam là nói đến những
tinh hoa, những giá trị bền vững được hun đúc, vun đắp trong suốt chiều dài
lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những
giá trị ấy, những tinh hoa ấy đã tạo nên những nét đặc sắc, riêng có ở cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, trong con người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc, chính là bản sắc riêng của dân tộc
ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc. Bởi
bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn
hóa. Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại của
một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy.

dị trong lối sống”. Bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở để liên kết xã hội và liên
kết các thế hệ, tạo nên sức mạnh tinh thần của dân tộc. Vì vậy, bảo vệ và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành yêu cầu khách quan và là mục tiêu của
sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay.
Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó
không phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới
được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn
hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển phụ
thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử tự nhiên, môi trường cư trú,
thể chế chính trị cũng như sự giao lưu với nền văn hóa khác. Nói đến văn

13


hóa là nói đến dân tộc đã sáng tạo ra, đã vun trồng nền văn hóa đó, bản sắc
dân tộc của văn hóa cũng chính là bản sắc văn hóa của dân tộc ấy.
Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét,
màu sắc, kiểu lựa chọn… giúp cho mỗi dân tộc giữ vững được tính duy
nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của dân tộc mình trong quá trình phát
triển. Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, sức mạnh nội tại của dân tộc. Nó là
hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này
qua đời khác. Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc dù biểu hiện có thay đổi
nhưng giá trị bản sắc văn hoá vẫn duy trì: “Một dân tộc qua các biến cố lịch
sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó có thể mất độc lập, bị người ngoài
đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được
vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của
mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng,
chìa khóa của tự do, độc lập” [10, tr. 48].
Bản sắc văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, được lưu truyền

1.1.5. Bản sắc văn hóa các tộc người Việt Nam
Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là một
quốc gia đa dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (85,7%) còn lại 53
dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 14,3%. 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hoá tạo
nên nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc
được phân bố ở các vùng miền của Tổ quốc và có giá trị truyền thống, sắc
thái văn hoá riêng. Nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân
tộc, ý thức về việc gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa, tôn vinh những
nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền trong 54 dân tộc anh em,
Nhà nước đã quyết định lấy ngày 19-4 hằng năm làm "Ngày Văn hóa các dân
tộc Việt Nam". Từ đó, làm cho các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam, vốn
gần gũi, càng gần gũi, sát cánh bên nhau thành một khối đại đoàn kết không
gì lay chuyển nổi để chung lòng, chung sức bảo vệ và xây dựng đất nước
ngày càng giàu, đẹp. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của tất cả các dân
tộc anh em sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc Việt
Nam, tạo nên sự phong phú đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa
Việt Nam.

15


Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng
như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ
của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán
riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó. Ở các quốc gia đa
dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét
chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa
đều có những giá trị riêng của nó. Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân
tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong
cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động

vào đời sống xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh
đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy cơ phai
mờ, biến dạng bản sắc dân tộc. Do vậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các
dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục
thực hiện thường xuyên và lâu dài.
Chính sách giáo dục còn chưa quan tâm đầy đủ và chưa có những chính
sách, biện pháp hữu hiệu trong việc dạy và học chữ, học tiếng đối với học
sinh các dân tộc thiểu số, mà đây chính là vấn đề cực kỳ quan trọng, then chốt
trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc; Di sản văn hoá các
dân tộc thiểu số Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, chưa giải quyết
tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.
“Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số chưa
được nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học. Nghệ thuật diễn
xướng Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái; Kho sách cổ của dân tộc
Dao…, hàng nghìn làng, bản, buôn… truyền thống với các giá trị văn hóa
tiêu biểu của các dân tộc (kiến trúc, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và
các món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng
trước nguy cơ biến mất theo xu hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá hoặc do tác
động mặt trái của cơ chế thị trường rất cần phải nhanh chóng được hướng
dẫn, hỗ trợ để bảo tồn, phát huy trong cuộc sống đương đại” [56].
Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trước những đòi hỏi của
thực tế, yêu cầu của xu hướng phát triển, trên cơ sở kế thừa, tích luỹ những
bài học về bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc thiểu số giai đoạn trước, ngày

17


27 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1270/ QĐTTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt
Nam đến năm 2020”. Đề án có đối tượng là “các dân tộc thiểu số Việt Nam,
tập trung ưu tiên cho phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số rất ít người, các

phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ
thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống
ấy. Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là những hành động liên kết
các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài
lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [27]. Còn theo Từ điển
tiếng Việt “Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, hài hòa, sự kết hợp” [47].
Theo quan điểm Giáo dục học, Nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập quan niệm
“Dạy học tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học
này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học
tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học” [33].
Tháng 9-1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã
được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna
(Bungari),với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị nêu ra hai vấn đề là “vì sao
phải dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì”. Tại hội nghị, vấn đề
dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các
khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của
tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các
lĩnh vực khoa học khác nhau” [15]. Định nghĩa của UNESCO, cho thấy quá
trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết
cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống.
Khoa sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy cách phát huy sáng tạo và cách
vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau, được định nghĩa như sau:
“Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn
thể quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng,
có dự tính trước, những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các
quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao
động” [59, tr.24].

19


giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học cũng như của các môn

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status