Dạy học tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài cho học học sinh vùng cao theo hướng đối thoại văn hóa - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI là thế kỷ cá tính sáng tạo của con người được phát huy tới
mức cao nhất. Nền giáo dục của bất kỳ một quốc gia nào cũng phải hướng
vào những công dân trẻ, phát huy được hết những nội lực của nó để thích ứng
với hội nhập khu vực và quốc tế.
Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã chỉ ra rằng: “Cần phải đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người ” Tr43[51]. Tiếp tục
tinh thần đó, tại văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX, khi nói về giáo
dục và đào tạo, Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh: “ Đổi mới nội dung
phương pháp dạy và học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của
học sinh, sinh viên; đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay
nghề”.Tr 108,109 [52]. Bên cạnh đó, trong báo cáo chính trị của Ban chấp
hành Trung ương Đảng tại Đại hội toàn quốc lần IV cũng chỉ ra rằng: “Chính
sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa
các dân tộc, tạo điều kiện cần thiết xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ
kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc Ýt người và dân tộc đông người; đưa miền
núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân
tộc đều có cuộc sống Êm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau
cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Tr46[53]
Việc hiện đại hoá nhà trường phải được tiến hành một cách đồng bộ
giữa cơ sở vật chất và chương trình cũng như các bộ môn. Môn văn trong nhà
trường từ cải cách giáo dục đã trải qua nhiều lần cách tân về nội dung,
chương trình, sách giáo khoa, phương pháp Đặc biệt đối với nhà trường
miền núi lại là mối quan tâm lớn nhất.
1
Xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Văn hiện nay,
nhiều phương pháp mới có ý tưởng phá vỡ ràng buộc của phương pháp dạy
học cũ, nhằm đổi mới dạy học theo hướng dân chủ hoá và nhân văn hoá.

một cách đơn thuần nh miền xuôi; thậm chí còn áp đặt những quan niệm văn
hoá của người Kinh bắt học sinh hiểu về văn hoá của một dân tộc mà giáo
viên chưa có điều kiện hiểu sâu sắc. Học sinh còn hiểu và cảm thụ tác phẩm
một cách thụ động, đơn giản, hời hợt dẫn đến hiệu quả tiếp nhận tác phẩm
chưa cao.
Nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương dựa trên những hiểu biết về
văn hoá, bằng văn hóa và từ văn hoá, thông qua hình thức đối thoại để tiếp
cận tác phẩm là con đường cần thiết và đúng đắn để giúp người đọc đối thoại
với tác giả, tác phẩm , trở về với môi trường mà tác phẩm nảy sinh, đồng
thời vẫn tôn trọng đặc trưng văn học của tác phẩm.
Với tâm thế là người con của mảnh đất vùng cao Yên Bái, được dạy và
tiếp xúc với nhiều học sinh dân tộc Ýt người trong đó có dân tộc H'mông.
Người viết chọn đề tài "Dạy học tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" cho học sinh
vùng cao theo hướng đối thoại văn hóa" với mong muốn đưa đến cho các
em học sinh một cái nhìn mới mẻ, dựa vào chính nền văn hóa dân tộc mình
để tìm hiểu về tác phẩm, bằng văn hoá, từ văn hoá, với văn hoá qua hoạt
động đối thoại để đạt mục đích tiếp nhận tác phẩm. Đồng thời góp phần vào
nỗ lực chung nhằm gìn giữ bản sắc văn hoá dân téc nói chung và văn hóa dân
tộc H'mông nói riêng.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về lí luận, đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào trực tiếp nghiên cứu
vấn đề đối thoại văn hoá trong dạy học tác phẩm văn chương. Song ở các
khía cạnh của vấn đề này có thể thấy được các thành tựu nh sau:
2.1. Những vấn đề về văn hóa, văn học.
3
Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói rằng văn hóa với văn học có
mối quan hệ gắn kết không thể tách rời. nghiên cứu vấn đề này nhà mỹ học,
nhà lý luận văn học M. Bakhtine nhấn mạnh: '' nghiên cứu văn học cần gắn
bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa. Văn học là một bộ phận không thể tách rời
văn hóa”.[2]

bậc đại học, bởi vì ở bậc học này - theo tác giả - đối thoại không chỉ bằng tri
thức đang có trong mỗi người mà còn phải đối thoại từ nguồn tri thức cung
cấp cho người học, từ mối quan hệ tri thức với cuộc sống… Tạo ra đối thoại
để bên trong mỗi người học là sự tiếp nhận tri thức thức không đơn giản dễ
dãi mà phải có chiều sâu.
Tại hội nghị toàn quốc về đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở
trường sư phạm tháng 5 - 2002, tiến sĩ Đỗ Huy Quang có bài viết: ''Dạy học
đối thoại trong môn văn ''. Tác giả khẳng định, dạy học đối thoại trong giờ
văn, người giáo viên vẫn thực hiện mọi yêu cầu của dạy học tích cực, sử
dụng câu hỏi nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm, lớp, giao
việc cho học sinh…Và cũng tác giả này,với đề tài cấp bộ: ''Tính đối thoại của
tác phẩm văn học và tổ chức hình thức đối thoại trong dạy học tác phẩm ở
trường phổ thông'', ông đã phát triển ý tưởng, quan niệm dạy học đối thoại để
từ đó mở ra một hướng nhìn mới về tác phẩm và dạy tác phẩm, làm phong
phú thêm cách hiểu và cách dạy tác phẩm.
Và kiểu giờ học đối thoại - cụ thể hơn là ''Đối thoại trong tác phẩm tự
sự” đã được học viên Huỳnh Thị Liên Chi đề cập đến trong luận văn tốt
nghiệp của mình. Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra những quan điểm
mới về đối thoại, tìm hiểu về bản chất của đối thoại trong tác phẩm văn
chương khẳng định tác phẩm văn chương là những văn bản nghệ thuật đa
nghĩa, sự đa nghĩa này tạo nên sự tiếp nhận khác nhau ở người đọc, tạo nên
nhu cầu đối thoại, kích thích sự trao đổi… ở người đọc. Bên cạnh đó, tác
5
phẩm văn chương là một hệ thống mở, sự tiếp nhận cùng một tác phẩm có sự
khác nhau giữa các thế hệ, hoàn cảnh và quan điểm sống…Và cùng với đó
chính bạn đọc đã hoàn thiện vòng đời tác phẩm trong sù giao lưu đối thoại
với nhà văn. Tác giả đã đưa ra tiền đề, yêu cầu chung cũng như những áp
dụng thực tế để tổ chức giờ học đối thoại trong tác phẩm tự sự.
Tiếp bước trên con đường tìm tòi những hình thức dạy học hữu hiệu
nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học văn trong nhà trường, đề tài ''

một cách cô đọng nhưng sinh động quá trình trưởng thành con đường đi đến
cách mạng của nhân dân lao động miền núi, của các dân tộc thiểu số anh em.
Đây cũng chính là con đường tất yếu cách mạng mà dân tộc ta đã trải qua
mấy mươi năm qua. Con đường đó càng làm sáng tỏ chân lý của thời đại: Chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới thoát khỏi ách nô lệ.[26]
Còn rất nhiều những nghiên cứu khá sâu sắc và liên tục về tác phẩm
“Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài của các học giả, bạn đọc để từ đây chúng ta có
thể khẳng định rằng: “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài có một giá trị tương đối
lâu bền, có bề dày chiều sâu, có sức gợi lớn. Đến nay tác phẩm vẫn tiếp tục
tồn tại một khả năng mở ngỏ, tạo hứng thú, thôi thúc về một sự tìm kiếm để
hiểu biết, để khám phá và sáng tạo. Chính vì thế người viết hy vọng với đề tài
này sẽ đem đến cho tác phẩm hướng tìm hiểu và tiếp cận mới mẻ, kích thích
tâm hồn văn chương tiềm Èn trong mỗi cá nhân học sinh.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
3.1. Mục đích.
Đề tài nghiên cứu không nằm ngoài mục đích đem lại hiệu quả trong
dạy và học, kích thích học sinh tư duy, sáng tạo trong học tập, say mê môn
học. Với mục đích từ văn hoá, bằng văn hóa trong tác phẩm văn chương kết
hợp hình thức dạy học đối thoại giúp các em thâm nhập tác phẩm bằng con
7
đường văn hoá, hiểu sâu sắc hơn về đời sống văn hóa dân tộc H'mông trong
quần thể các dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc.
3.2. Nhiệm vụ.
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố văn hóa trong tác phẩm “Vợ
chồng A Phủ ''. Mạnh dạn đưa ra một số phương pháp, biện pháp để hướng
dẫn học sinh vùng cao Yên Bái tiếp nhận thành công tác phẩm này từ văn
hoá, dựa vào văn hoá kết hợp sử dụng hình thức đối thoại trong giờ học.
Cách thực hiện:
- Tổng hợp các nghiên cứu lý luận làm cơ sở cho đề tài.

tiếp nhận thành công tác phẩm văn chương.
Đề tài nghiên cứu, khảo sát việc dạy và học văn ở nhà trường vùng cao
Yên Bái, đưa ra những biện pháp cụ thể phù hợp với đối tượng học sinh vùng
miền, nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học văn, đáp ứng những yêu cầu của đổi
mới phương pháp dạy học trong thời kỳ hiện nay.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được chia làm ba chương:
Chương I. Vị trí của “Vợ chồng A Phủ” trong nhà trường phổ
thông vùng cao nói chung và Yên Bái nói riêng.
Chương II. Khảo sát thực tế dạy và học tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ”. Con đường hướng đến những giải pháp thích hợp.
Chương III. Thực nghiệm sư phạm.
9
Chương I
VỊ TRÍ CỦA “VỢ CHỒNG A PHỦ” TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ
THÔNG VÙNG CAO NÓI CHUNG VÀ YÊN BÁI NÓI RIÊNG
1. Dạy - học tác phẩm văn chương trong nhà trường vùng cao
Văn học nhà trường nói chung bao giờ cũng là mối quan tâm thường
xuyên của toàn xã hội. Thậm chí, những năm gần đây nó đã trở thành một
vấn đề thời sự nóng bỏng thu hút sự quan tâm của rất nhiều những người
trong ngành. Sở dĩ có tình trạng này vì những lý do: sù sa sút về chất lượng
học văn ở học sinh, những điều bất cập trong chương trình và sách giáo khoa,
nạn quá tải học đường, phương pháp dạy học cũ kĩ, lối kiểm tra, đánh giá còn
bảo thủ, lạc hậu Giáo sư Phan Trọng Luận trong bài viết “Văn học nhà
trường- Èn số và đáp số” đã thẳng thắn đưa ra vấn đề: "Thực trạng đáng lo
ngại của việc dạy học văn trong nhà trường hay là khủng hoảng về nội dung,
chất lượng và phương pháp".[27]
Với một tốc độ biến đổi như vũ bão, xã hội ngày nay nếu chúng ta
chỉ “ngủ quên” một chút thôi tỉnh dậy đã chẳng còn dễ dàng nhận ra những

là tiếp nhận tác phẩm văn chương để hiểu được giá trị nội dung và giá trị
nghệ thuật của chúng như thế nào. Nếu giáo viên và học sinh miền xuôi khi
gặp những vấn đề khó hiểu hoặc cần tìm hiểu sâu hơn thì chỉ cần lên mạng là
mọi thứ đã hiện ra trước mắt. Ngược lại, rất nhiều nội dung trong các tác
phẩm được đưa vào nhà trường học sinh vùng cao chưa bao giờ được tìm
hiểu, ví dụ khi dạy về bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống
AIDS ” hầu như lần đầu tiên các em biết tác giả của bài viết này từng giữ
chức tổng thư ký LHQ và là người rất nổi tiếng trên trường chính trị thế giới.
Cã em không phân biệt được tầu với thuyền thì làm sao hiểu được ý nghĩa
nghệ thuật của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) v.v
11
Tiếp đến là do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, việc trang bị
sách giáo khoa và đồ dùng học tập cho con em còn chưa được quan tâm dẫn
đến rất nhiều học sinh học chay, học không có sách giáo khoa. Học văn mà
không đọc thì làm sao tiếp cận tác phẩm được. Bên cạnh đó là điều kiện về
cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học thiếu thốn, nơi ăn chốn ở còn
quá tạm bợ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy của giáo
viên vùng cao
Một điều không thể không nói đến đó chính là việc đổi mới phương
pháp dạy học còn rất hời hợt mặc dù có vẻ nh nã đang được triển khai khá
rầm rộ. Điều này cũng không hoàn toàn là do phía giáo viên, bởi vì với điều
kiện tiếp nhận còn rất nhiều hạn chế của học sinh dân tộc thiểu số thì việc
thay đổi không thể là một sớm một chiều. Với một tác phẩm văn chương giáo
viên chủ yếu cho các em hiểu nó viết về điều gì, nội dung gì và cách viết nh
thế nào. Chứ hầu như không có chuyện học sinh tự tìm hiểu, tự đưa ra ý kiến
của mình để đối thoại với giáo viên, với các bạn ở trên lớp. Đặc biệt còn tồn
tại nhiều tình trạng học sinh lên lớp mà không đúng với lực học của mình,
hay còn gọi là “ngồi sai lớp”.
2. Dạy và học tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài ở
nhà trường vùng cao Yên Bái.

Người ta cũng dễ nhận thấy ở nhà văn này tài quan sát sắc sảo, tài mô tả
phong tục rất hấp dẫn và khuynh hướng hồi ký, tự truyện. Ông cũng được coi
là một cây bút có vốn ngôn ngữ phong phú, đầy góc cạnh. Ông được nhà
nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I (1996).
Một số tác phẩm chính:
- Tiểu thuyết: Quê người, (1942) Mười năm, (1957) Miền Tây, (1967),
Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Quê nhà (1981), Chiều Chiều (1999).
13
- Hồi ký: Cỏ dại (1944), Cát bụi chân ai (1992).
- Truyện ngắn, truyện vừa: Giăng thề (1943), Nhà nghèo, Xóm giếng
ngày xưa (1944), Núi Cứu Quốc (1948), Truyện Tây Bắc (1953)
- Truyện thiếu nhi: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Đảo hoang (1967).
2.1.2. VÒ đề tài vùng cao.
Tô Hoài là một hiện tượng văn học độc đáo trong nền văn học hiện đại
Việt Nam. Tên tuổi của ông được khẳng định từ khi tập truyện đồng thoại
“Dế mèn phiêu lưu kí” ra đời (năm 1941) và sau này trở thành tác phẩm thành
công vang dội nhất. Ông là một trong sè Ýt nhà văn được giới nghiên cứu
phê bình quan tâm đặc biệt và dành nhiều trang viết. Có nhiều ý kiến khác
nhau, song các nhà phê bình đều thống nhất ở một nhận định chung: Tô Hoài
là một nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam, ở ông là một bút pháp
văn chương độc đáo, những mảng đề tài mà ông theo đuổi không nhiều song
ông dành sự ưu ái cho cuộc sống nơi thôn dã xung quanh mình, những miền
quê sát gần thành thị đã không còn mấy sự yên lành, thơ mộng.
Trong cuộc đời cầm bút của mình, có một đề tài mà Tô Hoài đặc biệt
theo đuổi và tâm huyết đó là cuộc sống, chiến đấu, lao động và phong tục tập
quán của những người dân vùng cao. In đậm dấu Ên ở đề tài này phải kể đến
tập “Truyện Tây Bắc”(1953) gồm 3 truyện mà truyện ngắn “Vợ chồng A
Phủ” là truyện ngắn thành công nhất, (hai truyện kia là “Cứu đất cứu
mường” và “Mường Giơn”). Quá trình hoài thai để cho ra đời tác phẩm này là
cả một quãng thời gian dài nhà văn đi thực tế. Đó là vào năm 1952, Tô Hoài

người vùng cao Tất cả đã khắc hoạ khá đầy đủ và chi tiết về phong tục, tập
quán, văn hoá và con người vùng cao.
Đề tài vùng cao Tô Hoài vẫn còn tiếp tục sau Miền Tây, với Tuổi trẻ
Hoàng Văn Thô (1971) rồi Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhí Mai Châu
15
(1988). Rõ ràng là nhà văn vẫn theo đuổi nó với một kiên nhẫn và hứng thú
không nản mỏi; trong khi nhiều cây bút người Kinh khác đã bỏ cuộc, và
nhiều cây bút dân tộc khác lớp lớp đã trưởng thành. Dường nh vẫn khắc
khoải trong ông niềm mong muốn giải đáp những bí Èn nào đó nơi mảnh đất
biên cương dẫu xa xôi mà vẫn gắn sâu với cộng đồng dân tộc.
2.2. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” - thể hiện chân thực cuộc sống
của người dân tộc thiểu số vùng cao tràn đầy vẻ đẹp văn hoá H'mông.
“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn hay xuất sắc của Tô Hoài nằm
trong tập Truyện Tây Bắc (1953) với đề tài viết về miền núi.
Đọc “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài từng dòng chữ, từng trang sách
nh tự nó gợi lên cho chóng ta hiện thực cuộc sống lớn lao và con người miền
Tây Bắc trong những năm tháng đáng ghi nhớ của lịch sử dân tộc. Viết
truyện “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài dựa vào một câu chuyện có thật. Chính
tác giả đã tâm sự rằng: “Đất nước và con người miền Tây đã để thương để
nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên [ ]. Hình ảnh Tây Bắc đau
thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người trong tâm trí tôi.
[ ] Ý tha thiết với đề tài là một lẽ quyết định. Vì thế tôi viết Truyện Tây
Bắc”[17]. Có thể nói lời tâm sự tha thiết của Tô Hoài đã khẳng định: ông viết
“Vợ chồng A Phủ” từ suối nguồn tình cảm yêu nước, yêu con người, đồng
bào Tây Bắc sâu nặng. Cốt truyện của truyện ngắn này xoay quanh một lõi
của sự việc, đó là cuộc đời của đôi vợ chồng người H'mông: Mị và A Phủ. Từ
chỗ là kẻ nô lệ đau khổ trong nhà thống lí Pá Tra, rồi giúp nhau thoát ra được
đến khi gặp cán bộ cách mạng và trở thành quần chúng trung kiên, những đội
viên du kích tích cực.
Truyện “Vợ chồng A Phủ” thể hiện rõ nét số phận đau khổ của người

vợ, hình ảnh thống lí Pá Tra trong ngày sử kiện ).
17
Bằng cái duyên, cái tình với mảnh đất và con người Tây Bắc, Tô Hoài
đã thu hút độc giả vào thiên truyện với cảnh và người dường như rất xa lạ
nhưng gần gũi biết bao. Bởi dù rằng ở đó là một phong tục khác, cách nghĩ
khác, cảnh vật khác thì họ - những con người hiện lên trong tác phẩm kia vẫn
là một phần không thể tách rời của các dân tộc anh em trên mảnh đất hình
chữ S này.
2.3. Những thuận lợi và khó khăn đối với học sinh vùng cao Yên
Bái khi tiếp nhận tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.
2.3.1. Thuận lợi:
- Có thể dễ dàng nhân thấy rằng, các em học sinh đa số là dân tộc Ýt
người hoặc Ýt nhiều được tiếp xúc, được gần gũi với môi trường văn hoá mà
tác phẩm ra đời. Cho nên nhìn ở khía cạnh nào đó thì các em được giao lưu,
tiếp cận với con người nơi đây, những người dân thuần phác, thật thà. Vì thế,
các em học sinh vùng cao nói chung không qúa xa lạ, bỡ ngỡ khi tiếp cận tác
phẩm này.
- Đồng thời các phong tục tập quán, cách sống, cách nghĩ của con
người mà tác giả miêu tả trong tác phẩm ngày nay vẫn tồn tại dù không phải
hoàn toàn nguyên si song phần nào cũng vẫn quen thuộc với các em. Các em
sẽ dễ hiểu và dễ tiếp nhận hơn.
- Cùng với sự quan tâm của toàn xã hội dành cho giáo dục, học sinh
vùng cao, con em dân tộc thiểu số đã được hưởng nhiều những ưu đãi để có thể
đến trường tích cực và đầy đủ hơn, không còn hoặc rất Ýt tình trạng bỏ học giữa
chừng, giúp nâng cao hơn hiệu quả giáo dục ở những vùng miền khó khăn.
2.3.2. Khó khăn:
Trước hết cần phải nhìn thấy một thực tế, đó là hoàn cảnh sống có tác
động rất lớn đến quá trình học tập của học sinh, các em gặp rất nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận với những phương tiện dạy - học hiện đại cho nên
không có điều kiện trau dồi vốn kiến thức, vốn sống của mình.

tích cực hơn thì học thuộc bài đã chép trên lớp. Cả giáo vên và học sinh đều
chưa có hứng thú thực sự trong dạy và học. Một môn học đặc thù mang cả
màu sắc khoa học và nghệ thuật nh môn văn mà không có hứng thú khi tìm
hiểu thì việc dạy và học không có chất lượng là điều khó tránh khỏi.
“Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc của một nhà văn lão thành
đáng lẽ phải nhận được nhiều sự chú ý hơn nữa. Nhưng lại hoàn toàn ngược
lại. Nguyên nhân thì có nhiều song trong đó có một nguyên nhân đó là khi
tiếp cận tác phẩm, giáo viên và học sinh chưa chú ý đến những dấu vết,
những nét văn hoá tương quan giữa các dân tộc trong lịch sử. Đồng thời giữa
giáo viên và học sinh chưa tìm được tiếng nói chung, chưa có những cuộc đối
thoại dân chủ, thoải mái để cùng đi đến những thống nhất trong việc tiếp cận
tác phẩm này. Thậm chí giáo viên người Kinh đã áp đặt cả những quan niệm
văn hoá của dân tộc mình để bắt học sinh hiểu theo một cách máy móc. Dẫn
đến cả thầy và trò khi học xong tác phẩm vẫn thấy có gì đó khó hiểu, mà đã
không hiểu cặn kẽ thì sẽ không còn hứng thú để học.
Từ những căn cứ trên, việc người viết đề cập đến một vấn đề, một cách
tiếp cận tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” bằng đối thoại văn hoá. Bằng văn hoá,
từ văn hoá, với văn hoá, qua hoạt động đối thoại để đạt mục đích tiếp nhận
tác phẩm này.
3.1. Văn học và văn hoá trong tác phẩm văn chương.
Tính chất văn hoá trong tác phẩm văn chương là một tính chất đặc thù
gắn liền với mỗi tác phẩm văn học, nó cho thấy tác phẩm văn học không chỉ
toát lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng sử và cách
tiếp nhận, xử lí cuộc sống của một dân tộc hay một cộng đồng người nhất
định. Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong nó tính đặc trưng của dân tộc,
của đất nước mà nơi đó tác phẩm được sinh ra. Không có tác phẩm văn
chương nào mà lại không mang trong nã Ýt nhất một đặc trưng văn hoá của
dân tộc mình Tính văn hoá trong tác phẩm văn chương cho phép hiểu rộng
20
hơn giá trị của tác phẩm qua hệ thống hình tượng, hình ảnh, tạo ra những suy

và về mặt biểu tượng, nó làm cho cộng đồng Êy là một chỉnh thể đặc thù
riêng biệt” [48]. Như vậy, với một thời đại toàn cầu hoá, mọi dân tộc, mọi
quốc gia dường như đang cùng chung tay xây dựng một thế giới không phân
biệt sắc tộc, mầu da, ngôn ngữ Chính vì thế, điều giữ lại và làm cho mỗi dân
tộc này không giống với dân tộc khác có lẽ lâu dài và rõ nét nhất chính là bản
sắc văn hoá của riêng từng dân tộc.
Nh trên đã nói nói, văn hoá (Culture) là một khái niệm rộng, phức tạp,
có nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng dù là định nghĩa ở góc độ nào thì cũng
đều không thể phủ nhận: Văn hoá là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con
người mới có. Văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm
cả kỹ thuật, kinh tế để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một
thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là vai
trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chẩn mực, những
giá trị, những biểu tượng, những quan niệm tạo nên phong cách diễn tả tri
thức và nghệ thuật của con người. Như vậy thì phải xuất phát từ những diều
kiện tự nhiên (con người vốn là sản phẩm của tự nhiên, là một phần của tự
nhiên, đứng đối diện với tự nhiên mà tạo thành văn hoá), rồi sau đó từ những
điều kiện lịch sử (mà con người lại là sản phẩm của lịch sử do chính mình tạo
ra) để nhìn nhận về cội nguồn và bản sắc của nền văn hoá dân tộc mình.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Văn hoá (Culture) là những giá trị vật chất,
tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử nền văn hoá của các dân
tộc, là đời sống tinh thần của con người phát triển kinh tế văn hoá, là tri thức
khoa học, trình độ học vấn, trình độ văn hoá. Văn hoá là lối sống, cách ứng
xử có trình độ cao[37]
Khái niệm văn hoá của UNESCO: Văn hoá (Culture) là một tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính
22
cách của một xã hội hay mét nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm
nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ thống, các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn

là những nét rất đặc trưng của mỗi dân tộc.
Nh ta thấy, văn hoá bao giờ cũng có trước và là tiền đề cho văn học
phát triển. Tuy nhiên, văn học không chỉ thụ động chịu sự chi phối, quy định
của văn hoá mà nó còn tích cực chủ động trong việc lựa chọn các giá trị văn
hoá. Các giá trị văn hoá được đề cập đến trong văn học bao giờ cũng là
những giá trị tiêu biểu và đặc sắc nhất, văn học lựa chọn những giá trị văn
hoá đó để đề cao văn hoá của dân tộc và tô đẹp thêm truyền thống của đất
nước. Một tác phẩm văn học hay được đề cao và lưu truyền lại cho các thế hệ
sau phải là một tác phẩm trong đó tác giả không những thành công về mặt nội
dung mà còn đòi hỏi cả nghệ thuật vận dụng các giá trị văn hoá trong tác
phẩm đó như thế nào. Vì thế mà việc giảng dạy tác phẩm văn chương trong
nhà trường phổ thông hiện nay không những chỉ tập trung khai thác về mặt
văn học mà còn phải tập trung vào khai thác cả mặt văn hoá của tác phẩm.
3. 2. Những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc H'mông trong tác
phẩm “Vợ chồng A Phủ”.
3.1. 1. Đặc điểm chung về văn hoá các dân tộc vùng cao Tây Bắc.
Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền
đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy
tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu.
"Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy Thủ đô Hà Nội làm
điểm chuẩn, bao gồm vùng đất từ bờ phải sông Hồng đến lưu vực sông Đà,
sông Mã, gồm địa bàn các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La và một phần của Hoà Bình. Tên cũ là Khu Tự Trị Thái Mèo, đến năm
1955 thì đổi tên thành Khu Tự Trị Tây Bắc vì tên cũ không phản ánh hết tên
24
của gần hai chục dân tộc sinh sống ở đây. Chỉ kể đến các dân tộc tương đối
đông đã có dân tộc Thái (với Thái đen, Thái trắng, Thái đỏ); H'mông (với các
ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa, Lềnh ); Dao (với các ngành Quấn chẹt, Nga
Hoàng, Dao đỏ); Mường, Khơmú, Laha, Tày, Xinhmun " [45]. Ngoài ra còn
có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status