LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, đất nước đang
trên đà hội nhập, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là vũ khí lý
luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã
hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó Phật giáo đã in sâu vào tư tưởng,
tình cảm của một bộ phận lớn dân cư Việt Nam bởi Phật giáo Việt Nam đã
cùng với dân tộc Việt Nam tiếp tục giải quyết cái khổ luân hồi sinh, lão, bệnh,
tử, tham, sân, si… nhưng vấn đề khó khăn hơn đó là giúp cho con người chiến
thắng được tham sân si vốn là mặt trái của thị trường, đó là chiến thắng ma
lực của đồng tiền, của lợi nhuận, là những cái bẫy đưa con người vào chỗ mất
nhân tính mù quáng, làm xã hội phân chia giàu nghèo và băng hoại nền đạo
đức nhân bản. Với đạo lý hướng nội, Phật tại tâm của Phật giáo góp phần kìm
hãm bớt từ mỗi người những tiêu cực của kinh tế thị trường và chia sẻ những
phần lợi nhuận cho những người bất hạnh trên tinh thần “Vô ngã vị tha”,
thương người như thể thương thân của dân tộc ta; bởi những gì mà Phật giáo
đã mang lại cho cuộc đời này không chỉ trong giáo lý, tư tưởng đề cao lòng từ
bi, nhân ái mà còn thông qua những hoạt động từ thiện cao cả của mình để
giúp đời.
Phật giáo được đánh giá cao, cấp lãnh đạo TW cho rằng “Phật giáo có
nhiều mảng nhưng cái mảng TỪ BI – TRÍ TUỆ thì không Tôn giáo nào qua
đạo Phật”.
Khi Phật giáo vào Việt Nam, tinh thần vì chúng sinh của Phật giáo
nhanh chóng hòa quyện cùng những triết lý sống của người dân: “Lá lành
đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”, “Một miếng khi đói bằng
một gói khi no”,… Sự tương đồng này là một trong những cơ sở quan trọng,
là cơ duyên để Phật giáo tồn tại, phát triển, đồng hành cùng với dân tộc Việt
Nam qua những thăng trầm của lịch sử. Chính vì vậy mà có nhận định:
“Trong giai đoạn Phật giáo là hệ tư tưởng thống trị, nó đã góp phần đưa lại
cho giai cấp cầm quyền một đường lối trị quốc có nhiều điểm tiến bộ. Đó là
thái độ khoan dung, độ lượng, chia sẻ và cảm thông chung, có thái độ sống
hướng đến tha nhân, vì tha nhân”.
ở khắp mọi miền của Tổ quốc mà còn thông qua đó tìm ra một phương cách
để hướng đạo, khơi dậy từ tâm trong mỗi người, tinh thần tương thân tương ái
để từ đó biết hành động sao cho đúng, cho cuộc đời này thêm những niềm
vui.
2
Nội dung bài tiểu luận của em gồm có
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT CÓ LIÊN QUAN
TỚI HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO
CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO TRƯỚC
NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1. Quá trình du nhập và phát triển của phật giáo vào Việt Nam
1.1. Giai đoạn du nhập vào Việt Nam (Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X)
* Thời kỳ đầu tiên (trước thể kỷ V)
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, có ý kiến cho rằng ngay từ
thế kỷ III trước công nguyên. Đầu công nguyên, khi miền Nam Trung Quốc
chưa biết đến Phật giáo, ở Việt Nam đã có một trung tâm Phật giáo và là trung
tâm Phật học phát triển đó là trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thuộc Thuận Thành Bắc Ninh ngày nay).
Thời kỳ đầu, Phật giáo thông qua các nhà sư Ấn Độ theo đường biển và
cùng với các thương nhân người Ấn Độ đến Việt Nam buôn bán.
Từ thế kỷ II - thế kỷ V, quá trình truyền giáo vào Việt Nam gắn với tên
tuổi của các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc. Cụ thể như:
Thế kỷ II: Ma-Ha-Kỳ-Vực, Khưu-đà-la, Mâu-bác-cư-sĩ (người Ấn Độ,
vào năm 188).
Thế kỷ III: Khương-Tăng-Hội (người Ấn Độ, vào năm 200-247)
1.2. Phật giáo thời kỳ Lý - Trần (từ thế kỷ XI đến XV)
Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam và cũng là hai triều
đại phong kiến bền vững và hưng thịnh nhất trong lịch sử các triều đại phong
kiến nước ta. Phật giáo đóng vai trò là hệ tư tưởng xã hôi, chính trị và đạo
đức… trong xã hội.
Các vua nhà Lý, nhà Trần được đào tạo và trưởng thành từ nhà chùa
như Lý Công Uẩn. Nhiều bậc đế vương có công nghiên cứu truyền bá Phật
giáo và trở thành sư tổ của nhiều môn phái. Lý Thái Tôn (1028-1054) là sư tổ
đời thứ 12 của thiền Vô ngôn thông. Lý Thánh Tông là sư tổ thứ 12 của thiền
Thảo Đường. Trần Nhân Tông là sư tổ (1054-1072) của phái thiền Trúc Lâm
Việt Nam (Trúc Lâm Yên Tử).
Các nhà sư thời Lý - Trần không chỉ có công lao với đạo pháp, mà còn
có những đóng góp lớn với đất nước. Họ đã tham gia triều chính, góp phần
xây dựng nhà nước đương thời và cùng nhân dân ta thành công trong công
4
cuộc thắng Tống, bình Nguyên. Vạn Hạnh quốc sư đã có công lớn trong việc
rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Viên Chiếu, Thông Biện, Pháp Loa, Tuệ
Trung thương sĩ, Huyền Quang và nhiều nhà sư tiêu biểu khác không chỉ có
công lao trong công cuộc giữ nước, họ còn là những nhà văn hóa góp công
tạo dựng nền văn hóa Việt Nam với những thành tựu về văn học, nghệ thuật,
kiến trúc, điêu khắc có giá trị lớn, đồng thời họ còn tham gia đào tạo nhân tài
cho đất nước.
Lý - Trần là hai triều đại đã lập được nhiều thành tựu võ công văn trị
thật là hiển hách trong đó có phần đóng góp của Phật giáo.
1.3. Phật giáo thời kỳ Hậu Lê và nhà Nguyễn
Từ thế kỷ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo làm
cơ sở về chính trị, tư tưởng và đạo đức cho xã hội, Phật giáo không còn là
nhiều nhà chùa là cơ sở che giấu, hội họp cho cán bộ kháng chiến tổ chức “ Phật
giáo cứu nước ” thu hút phần lớn tăng ni, Phật tử đấu tranh chống Pháp.
1.5. Phật giáo trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc
được giải phóng, năm 1958, “ Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam ” được thành lập,
quy tụ giới Phật giáo miền Bắc thành một tổ chức thống nhất vừa hoạt động tôn
giáo vừa góp phần vào công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước
nhà.
Ở miền Nam, Phật giáo phức tạp hơn, các giáo phái hoạt động theo những
chiều hướng khác nhau. Năm 1964, “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ”
được thành lập, nó tập hợp các hệ phái lại một cách lỏng lẻo, sau bị phân hóa, phái
Quốc tự chủ trương theo đường hướng dân tộc, phái Ấn Quang bị Đế quốc Mỹ thao
túng. Sau giải phóng phái Ấn Quang còn tiếp tục một thời gian gây rối ở miền
Trung nhờ sự tiếp tay của bọn phản động.
Xu hướng “ hiện đại hóa ” chi phối rất lớn đến Phật giáo miền Nam. Họ đẩy
nhanh việc triển khai lực lượng, mở trường đào tạo, xây dựng chùa tháp, xây dựng
các cơ sở kinh tế văn hóa để tạo thế cân bằng với Thiên chúa giáo.
Đại đa số Phật tử giữ được truyền thống tốt đời, đẹp đạo gắn bó với dân tộc,
ủng hộ và tham gia cách mạng. Vào những năm 60, Phật giáo đã đấu tranh quyết
liệt với chế độ độc tài Ngô Đình Diêm, nhà sư Thích Quảng Đức đã tự thiêu năm
1963 để phản đối Mỹ Ngụy.
1.6. Phật giáo giai đoạn từ khi thống nhất đến nay
Tháng 11 năm 1981, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra
ở Hà Nội. Hơn 200 đại biểu của các hệ phái Phật giáo toàn quốc về dự và đã thành
lập “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam ”. Trong đó đã bầu được hai cơ quan cao nhất
lãnh đạo giáo hội là “ Hội đồng trị sự ” và “ Hội đồng chứng minh ”. Đây là lần đầu
tiên, đại hội được tiến hành trong hoàn cảnh dân tộc độc lập và nước nhà hoàn toàn
thống nhất, điều kiện thuận lợi cho Phật giáo phát huy vai trò của mình.
6
yếu chú ý đến hành động và mục đích cứu độ chúng sinh của Phật giáo nên sự phân
biệt giữa các môn phái không rõ nét. Nhiều nhà nghiên cứu, kể cả một số nhà sư có
khi cho rằng Phật giáo Việt Nam chỉ là một, họ còn đồng nhất một cách đơn giản
giữa Phật giáo với phái thiền tông. Các Phật tử thì chỉ tuyên bố quy Phật chứ không
quan tâm đến phái nào.
7
Tuy nhiên Phật giáo không thuần nhất. Mỗi giai đoạn lịch sử với những khu
vực, miền, địa phương khác nhau Phật giáo mang những nét riêng, đặc thù rất đa
dạng.
Đặc điểm thứ ba: Phật giáo Việt Nam là tôn giáo nhập thế. Phật giáo ở Ấn
Độ và Trung Quốc chủ trương xuất thế, ở Việt Nam, nhiều nhà sư, nhiều bậc cao
tăng đồng thời cũng là cũng là những trí thức xã hội, những bậc mưu sĩ. Hoạt động
Phật giáo ở Việt Nam không tách rời quá trình giữ nước của dân tộc Việt Nam.
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT CÓ LIÊN QUAN
TỚI HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO
Giáo lý
Giáo lý nhà Phật gồm tam tạng kinh điển (Kinh-Luật-Luận), là cả một gia
tài đồ sộ. Kinh là những lời dạy của Đức Phật thuyết giảng hoặc do các đệ tử
của Ngài tuyên thuyết và được Ngài ấn chứng. Luật là những cấm giới do
Đức Phật chế ra để ngăn dứt điều ác, phát triển nghiệp lành. Thời kỳ Đức Phật
còn tại thế chưa có chữ viết chỉ truyền khẩu, nên dần dần không thể không có
những điều sai lạc. Đến nay một số giáo điều do người sau đặt ra nhưng lại
ngụy tạo lời Phật dạy; hoặc ngược lại, có người chủ trương sai lầm cho rằng
kinh điển Đại thừa không phải do Đức Phật thuyết giảng. Điều này làm nhiều
Phật tử hoang mang không biết tin vào đâu, thậm chí rơi vào tà kiến mê tín.
Vì thế, nhà Phật có một thước đo để phân định pháp nào là đúng chánh pháp.
Thước đo ấy gọi là Pháp ấn.
Hai đặc tính của Niết bàn là thanh tịnh và thường tri, tức tĩnh lặng mà hằng rõ
biết. Niết bàn không phải là một cõi giới bên ngoài, có thể đạt đến khi nhắm
mắt lìa đời, mà là tự tánh bổn tịch bổn tri của chính mình. Khi nhận ra và
thẩm thấu chân lý vô thường vô ngã của muôn pháp, người tu thoát ly mọi
khổ não, xoay lại soi sáng chính mình, trở về Niết bàn tịch tịnh tự tâm.
* Nhất pháp ấn
Khi nhận thấy trình độ tâm linh của chư đệ tử đã có thể lãnh hội chân lý tối
thượng, Đức Phật mới thuyết giảng về Nhất tâm chân như, thuộc Trung đạo
Đệ nhất nghĩa đế, chỉ rõ con người chân thật thường hằng ở mọi chúng sanh.
Con người chân thật ấy không có hình dáng nên không hề sanh diệt, không có
tên nên được đặt rất nhiều tên: Chân như, Phật tánh, Pháp thân, Bản lai diện
mục… Trở về hằng sống với con người chân thật là mục đích cuối cùng của
người tu, và cũng là bản hoài chư Phật khi thị hiện nơi đời.
* Tứ diệu đế: là giáo lý cơ bản, xuyên suốt trong toàn bộ kinh điển Phật giáo.
Tùy vào căn cơ của chúng sinh mà Đức Phật thuyết pháp theo từng mức độ
khác nhau, nhưng tựu trung lại cũng đều bắt nguồn từ pháp môn Tứ đế, đó là
4 chân lý chân thực, chắc chắn:
- Khổ đế (Duhkka – satya):
9
Trong Tứ diệu đế đạo Phật chỉ ra đầu tiên là sự khổ. Theo giáo lý nhà
Phật, con người ai cũng gặp phải những điều đau khổ, chỉ khác là nỗi khổ đau
ở mỗi con người không giống nhau.
Nói như thế không có nghĩa đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là
khổ, và những người tu Phật lúc nào cũng bi quan, yếm thế. Thực tế đạo Phật
nhìn nhận cuộc đời một cách khách quan, không ru cho người ta vào trong
một giấc mơ tốt đẹp để rồi xa lạ với cuộc sống thực tại của chính mình. Với
thái độ lạc quan, giáo lý Phật giáo đã chỉ cho ta con đường thoát ly ra khỏi nỗi
ngay trong cuộc sống thực tại. Theo đức Phật, muốn diệt trừ khổ trước hết
không tạo nghiêp ác. Khi vọng niệm không còn khởi lên, tâm luôn an trụ
trong cảnh vắng lặng, đó là cảnh giới Niết Bàn. Diệt đế là chân lý chắc chắn
mà chúng sinh sẽ đạt được khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và những
nguyên nhân của đau khổ.
- Đạo đế (Nirodha Gamadukkha): là con đường, là phương tiện mà Đức
Phật hướng dẫn cho chúng sinh đạt đến được quả vị, giải thoát khỏi luân hồi
sinh tử hay nói cách khác là phương pháp tu hành để diệt khổ, được vui. Đây
là pháp môn thực tiễn để tu hành, thuộc Đạo đức luận của Phật giáo.
Đức Phật đã tùy căn cơ của chúng sinh để nói ra 37 phẩm chia làm 7
loại để mỗi người có thể tự chọn cho mình những pháp môn thích hợp tu hành
đó là:
- Tứ niệm xứ (4 điều mà người tu hành thường xuyên nghĩ đến)
- Tứ chánh cần (4 phép siêng năng, chân chính để tinh tấn tu hành, diệt
trừ tội ác, phát huy điều thiện)
- Từ như ý túc (4 phép thiền định về việc tu hành được phát sinh, phát
triển)
- Ngũ căn (5 điều căn bản giúp người tu hành đạt Thánh quả)
- Ngũ lực (5 năng lực để cùng ngũ căn giúp người tu hành đạt Thánh
quả)
- Thất bồ đề phần (7 pháp tu tập giúp người tu hành thành tựu đạo quả
đại giác)
Bát chính đạo (8 con đường công bằng, chân chính hợp với chân lý Tứ
đế để tiến tới đạo Niết bàn, thoát khỏi khổ đau). Trong 37 nội dung trợ đạo
như đã nói ở trên, Bát chính đạo được coi là pháp môn chính quan trọng nhất
giúp người tu hành tu dưỡng thân tâm, cải thiện hoàn cảnh, thoát khỏi khổ
đau, phhiền não, bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại.
Bát chính đạo gồm có:
+ Chính kiến (Samyag – drsti): Nhìn nhận sự việc một cách khách quan, công
bằng, tin vào sự giải thoát và nhân quả.
đó Phật giáo không công nhận một linh hồn vĩnh cửu, tách rời sắc thân, khi
sắc thân chết để chuyển từ kiếp này sang kiếp khác.
Con người được sinh ra là do nhiều nhân, nhiều duyên hòa hợp. Đó là
một chuỗi 12 nhân duyên là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong vòng
sinh tử luân hồi, đó là:
12
1- Vô minh (Avijjà): sự mê mờ, cuồng si của tâm thức ; hay nói cách khác là
sự không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô thường và không có
một tự thể độc lập, bất biến.
2- Hành (Sankhàra): động lực, ý chí hành động tạo tác (ý hành) của thân,
miệng và ý.
3- Thức (Vinnana): tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan
chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức), mũi (tỉ thức), lưỡi (thiệt thức),
thân (thân thức) và ý (ý thức).
4- Danh sắc (Nàma - rùpa): sắc là phần vật lý và sinh lý, danh là phần tâm lý.
Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các giác quan và chức năng của chúng ;
danh là các tâm phụ thuộc (tâm sở), như xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.
5- Lục nhập (Chabbithàna): có nơi gọi là sáu xứ, là sự tương tác giữa 6 căn (=
6 nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là 6 trần (= 6
ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - pháp).
6- Xúc (Phassa): sự gặp gỡ, tiếp xúc, giao thoa giữa các căn (chủ thể) và trần
(đối tượng). Nói rõ hơn, xúc chính là sự tiếp xúc giữa con người và thế giới
thông qua 6 cơ quan tri giác. Lưu ý là, khi có thức phát sinh do mắt tiếp xúc
với hình thể (sắc trần), thì sự nhận biết đó mới gọi là nhãn thức... Vậy, xúc là
sự gặp gỡ, giao thoa giữa căn, trần và thức.
7- Thọ (Vedanà): sự cảm thọ. Nói khác đi là các phản ứng tâm lý phát sinh
khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai tiếp xúc với âm thanh... ý tiếp xúc với ý
+ Về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
+ Về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không thêu
dệt.
+ Về ý: Không tham lam, không giận dữ, không tà kiến.
- Ngoài những quy định trên, người tu hành còn phải thực hiện một số
điều cấm khác. Các vị sư từ Đại đức trở lên phải theo giới luật nghiêm hơn:
+ Hàng Tỳ kheo: nam 250 giới, Tì kheo nữ 348 giới.
+ Hàng Sa di: phải thực hiện 10 giới: không sát sinh, không trộm cắp, không
dâm dục, không nói điều sai, không uống rượu, không trang điểm, không nằm
14
giường nệm, không xem ca hát, không giữ vàng bạc, không ăn quá giờ quy
định).
3. Tổ chức của đạo Phật:
- Tổ chức Phật giáo không chặt chẽ. Phật giáo không có giáo quyền,
không thống nhất cách tu hành, có nhiều tông phái và sơn môn.
- Người theo đạo Phật được chia làm hai loại:
+ Người tu hành: phải thoát ly gia đình và các sinh hoạt xã hội, đi tu ở chùa
theo quy định. Nam tu sĩ gọi là Tăng, nữ tu sĩ gọi là Ni.
+ Người tu tại gia: thờ Phật, lễ Phật tại nhà và tuân theo Ngũ giới và Thập thiện.
- Về hệ thống chức sắc và các nhà tu hành:
+ Đối với Tăng:
* Hòa thượng: có 40 năm tu, 60 năm tuổi đời và từ Thượng tọa được tấn
phong lên.
* Thượng tọa: có 30 năm tu, 50 năm tuổi đời và từ Đại đức được tấn phong lên.
* Đại đức: là hàng Tỳ kheo, được thọ giới sau khi xuất gia khoảng 10 năm trở lên.
* Sa di: được thọ giới từ Tiểu lên.
* Tiểu: người xuất gia tu hành.
Bá tát) rồi cử một vị sư đọc tụng giới bản, còn tất cả ngồi nghe, ai nấy đều tự
phản tỉnh và nếu ai phạm vào điều luật nào thì phải ra trước đại chúng phát lộ
(tự bộc bạch) và xin sám hối.
- Nghi thức An cư: An cư còn gọi là “Vũ kỳ An cư” (Vansavasana)
diễn ra hàng năm trong khoảng thời gian 3 tháng. Phật giáo quan niệm rằng
mùa mưa là mùa côn trùng phát triển, việc đi lại nhiều sẽ ảnh hưởng tới sự
sống của các loài. Đây cũng là mùa mưa lũ dâng ngập, việc đi giáo hóa,
truyền đạo và khất thực của Tăng đoàn cũng gặp nhiều khó khăn nên các sư
tập trung vào một nơi thuận tiện để chuyên việc tu học giáo pháp, rèn luyện
giới luật, tu dưỡng thân tâm.
Thời gian tổ chức An cư thông thường từ ngày 16/4 – 15/7 âm lịch
hàng năm. Tuy nhiên tùy từng địa phương để tổ chức An cư cho phù hợp với
đời sống sinh hoạt và khí hậu của mình.
Trong thời gian An cư “đoàn thể Phật tử” đến nghe pháp và cúng dâng
các chư Tăng ni.
- Nghi thức Tự tứ: Tự tứ có nghĩa là tổng kết khóa An cư. Ở đây mỗi
người tự kiểm điểm lại bản thân mình, nếu ai vi phạm lỗi lầm gì thì phải bộc
bạch với những Tỳ kheo khác và tự sám hối. Sau lễ này các sư được công
nhận thêm một tuổi đạo (vì An cư thường được tổ chức trong dịp lễ Vu Lan
nên là ngày lễ rất lớn và linh thiêng trong năm của Phật giáo…
5. Tư tưởng nhân đạo trong Phật giáo:
16
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn
minh Ấn Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để san
bằng những ngăn cách xã hội giữa các đẳng cấp. Rồi từ những căn bản đó,
Phật giáo đã duỗi dài nguyên lý vào cuộc sống con người khắp mọi nơi.
Trong cội rễ sâu xa, ngay từ khởi thủy tư tưởng giáo dục của triết lý Phật giáo
cách hòa mục. Vị tha dạy con người sống vì người khác, bao dung độ lượng
đó là phương pháp giúp con người đạt được đức hạnh. Đây là động lực nảy
sinh mọi điều tốt lành.
6. Tổ chức Phật giáo Việt Nam:
Cho đến thời điểm Thống nhất Việt Nam năm 1975, tại miền Bắc và
miền Nam có nhiều tổ chức Phật giáo hoạt động. Với mục đích thống nhất các
tổ chức, hệ phái Phật giáo tại Việt Nam dưới một tổ chức duy nhất, cuộc Vận
động thống nhất Phật giáo được tiến hành. Năm 1980, Ban vận động thống
nhất Phật giáo ra đời, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm trưởng ban.
Năm 1981, Đại hội các tổ chức Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán
Sứ, Hà Nội. Một tổ chức mới ra đời, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
là hợp nhất của 9 tổ chức:
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam
Ban liên lạc Phật giáo Yêu nước
Giáo hội Thiên thai giáo Quán Tông
Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam
Hội đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ
- Tại cấp Tỉnh/thành, mỗi tỉnh/thành có Tỉnh/Thành hội Phật giáo, lãnh
đạo bởi Ban trị sự Tỉnh/Thành hội, người đứng đầu là Trưởng Ban trị sự.
- Tại cấp Quận/huyện/thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh, lãnh đạo bởi
Ban đại diện Phật giáo, đứng đầu là Chánh Ban đại diện Phật giáo quận,
huyện, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh).
Hiện nay, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Giáo hội là khoảng 17000 cơ
sở tôn giáo như các chùa, thiền viện, tự viện, tịnh xá, tịnh thất,..., và trên
50000 tăng ni tại tất cả các tỉnh trên toàn quốc.
6.2 Lãnh đạo
Người đại diện cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về mặt giới
luật (đạo pháp) là Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, thường gọi tắt là Pháp
19
chủ.Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam là người thay mặt
Giáo hội về mặt pháp lý Nhà nước trong mối quan hệ của Giáo hội ở trong
nước và ở nước ngoài. Từ khi thành lập, đã có ba vị Pháp chủ
- Đệ nhất Pháp chủ là Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận từ năm
1981 đến năm 1993;
- Đệ nhị Pháp chủ là Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch từ năm 1997
đến năm 2005;
- Đệ tam Pháp chủ là Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ từ năm 2007
đến nay.
Từ khi thành lập, có hai vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự
- Hòa thượng Thích Trí Thủ từ năm 1981 đến năm 1984
- Hòa thượng Thích Trí Tịnh từ năm 1984 đến nay.
6.3. Nội quy Ban từ thiện xã hội trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ
- Một Phó Ban Thường trực.
- Các Phó Ban (số lượng tùy theo nhu cầu).
- Ban Thư ký.
- Các Thủ quỹ.
- Các Ủy viên.
Điều 5: Trưởng ban Từ thiện Xã hội Trung ương do Hội đồng Trị sự Giáo hội
Phật giáo Việt Nam suy cử. Phó ban Thường trực, các Phó ban, Ban Thư ký,
Thủ quỹ và các Ủy viên do Trưởng ban tuyển chọn, đệ trình Ban Thường trực
Hội đồng Trị sự chuẩn y.
Điều 6: Để hỗ trợ cho các hoạt động chuyên môn về từ thiện xã hội theo tinh
thần Phật giáo, Ban TTXHTW có thể suy cử một Ban Cố vấn, gồm những vị
có thẩm quyền chuyên môn hoặc kinh nghiệm, đã dấn thân lâu năm trong các
lãnh vực lợi đạo ích đời.
Điều 7: Trưởng ban, Phó ban Thường trực, Phó ban, Ban Thư ký Ban Từ
thiện Xã hội Trung ương có thể mời thêm các vị trợ lý để phụ giúp cho các
hoạt đông chuyên môn. Các vị trợ lý có thể là thành viên hoặc không thành
viên của Ban.
3. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ
Điều 8: Trưởng ban Từ thiện Xã hội Trung ương chỉ đạo, điều hành và chịu
trách nhiệm tổng quát về các hoạt động của Ban.
21
Điều 9: Phó ban Thường trực thay mặt Trưởng ban điều hành, giải quyết chỉ
đạo trực tiếp các công tác hoạt động Từ thiện Xã hội do Trưởng ban ủy nhiệm
hoặc khi Trưởng ban vắng mặt.
Điều 10: Trưởng, Phó ban Thường trực chịu trách nhiệm trực tiếp đối với Ban
Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Điều 11: Chánh Thư ký chịu trách nhiệm chung về hoạt động văn phòng và
4. Phân ban Tài chánh, đối ngoại và quan hệ Quốc tế: Tổ chức hoạt động,
vận động tài chánh, quan hệ các cá nhân, tổ chức khác ở trong nước và nước
ngoài, nhằm thực hiện nhiệm vụ từ thiện xã hội.
5. Phân ban Cứu trợ: Cứu giúp kịp thời nạn nhân bị thiên tai, bão lụt, hỏa
hoạn, những nơi khó khăn, nghèo khổ.
6. Phân ban Xã hội: Thành lập và phát triển các trại chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS, nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật v.v…
7. Phân ban Huấn nghệ và phát triển cộng đồng: Xây dựng và phát triển
các lớp dạy nghề miễn phí cho người nghèo và những đối tượng cần giúp đỡ,
mở các quán cơm xã hội, nhân rộng mô hình xuất cơm từ thiện ở các bệnh
viện.
5. TÀI CHÁNH – TÀI SẢN
Điều 16: Ban Từ thiện Xã hội Trung ương được quyền tiếp nhận các nguồn
tài chánh và tài sản của các Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội trong nước, các tổ
chức chính phủ hoặc phi chính phủ, các tổ chức từ thiện, các hội đoàn hay các
đơn vị hoặc cá nhân hỷ cúng vô điều kiện.
Điều 17: Tài chánh của Ban TTXHTW gồm động sản, bất động sản do Ban tự
tạo một cách hợp pháp và các sự hỷ cúng hợp pháp của các tổ chức, đoàn thể
hoặc cá nhân trong và ngoài nước.
Điều 18: Tài chánh của Ban TTXHTW thuộc về tài sản của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Khi mãn nhiệm kỳ, tài chánh của Ban được bàn giao cho Ban
Thường trực nhiệm kỳ mới để tiếp tục hoạt động. Tài chánh và tài sản của
Ban chỉ được sử dụng vào các mục đích từ thiện xã hội của Ban, không được
sử dụng vào mục đích khác, trừ trường hợp khẩn thiết phải được 2/3 thành
viên Ban Từ thiện Xã hội Trung ương bỏ phiếu tán thành.
Điều 19: Thủ quỹ Ban TTXHTW có trách nhiệm quản lý tài chánh của Ban,
chi quỹ đúng quy định và theo duyệt chi của Trưởng ban hoặc Phó ban
Thường trực, Phó ban phụ trách tài chánh hoặc các vị có trách nhiệm liên hệ.
Chịu trách nhiệm báo cáo tài chánh theo quy định trong các buổi họp định kỳ
hoặc đột xuất của Ban.
đúng với giới luật Phật và luật pháp Nhà nước.
8. HỘI HỌP
Điều 28: Ban TTXHTW họp ít nhất một lần vào cuối năm, trước ngày hội
nghị thường niên Hội đồng Trị sự GHPGVN, để tổng kết và kiểm điểm công
tác hoạt động của Ban trong một năm.
Kỳ họp cuối năm, trước khi mãn nhiệm kỳ phải được diễn ra trước ngày Đại
hội Đại biểu GHPGVN, để tổng kết công tác của 5 năm qua và đề xuất
chương trình hoạt động của nhiệm kỳ mới.
24
Điều 29: Trước khi thực hiện các chương trình quan trọng, Ban TTXHTW sẽ
họp để phác thảo kế hoạch và phân công trách nhiệm. Sau khi hoàn tất các
chương trình này, Ban sẽ họp rút kinh nghiệm cho các Phật sự khác về sau.
Điều 30: Trong những trường hợp khẩn thiết và đột xuất, Thường trực Ban
TTXHTW sẽ họp bất thường để kịp thời giải quyết các vấn đề cấp bách.
9. SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG
Điều 31: Việc sửa đổi hoặc bổ sung các điều khoản trong bản nội quy này sẽ
do quá bán số thành viên của Ban TTXHTW quyết định và thực hiện dưới sự
phê chuẩn của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.
Điều 31: Bản Nội qui này gồm 9 Chương, 30 Điều, do Ban TTXHTW ban
hành và được Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
nhất trí thông qua phiên họp ngày 22 tháng 8 năm 2008. Bản nội quy này có
hiệu lực kể từ ngày Ban Thường trực Hội đồng Trị sự chuẩn y.
25