LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế với đề tài “Một số
biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển chi nhánh Đông Hải phòng” - Mã đề tài 60340410 khóa 2014-2016
(đợtI) tác giả viết dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Mai Khắc Thành - Trường
Đại học Hàng Hải Việt Nam. Luận văn này được viết trên cơ sở vận dụng lý luận
chung về huy động vốn trong các ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng phát
triển hoạt động huy động vốn tại BIDV Đông Hải phòng để từ đó đề xuất một số
biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển chi nhánh Đông Hải phòng.
Khi viết bản luận văn này, tác giả có tham khảo và kế thừa một số lý luận
chung về huy động vốn và sử dụng những thông tin số liệu từ các sách, tạp chí,
giáo trình, các báo cáo của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Đông Hải
phòng … theo danh mục tham khảo.
Tác giả cam đoan không có sự sao chép nguyên văn từ bất kỳ luận văn nào
hay nhờ người khác viết. Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan của
mình và chấp nhận mọi hình thức kỷ luật theo quy định của Trường Đại học Hàng
Hải Việt Nam.
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Hải phòng”, được hoàn thành
với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy Cô Viện đào tạo sau Đại học
trường Đại học Hàng Hải Hải phòng, thầy giáo hướng dẫn TS. Mai Khắc Thành,
Ban Giám đốc, các bạn đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển chi
nhánh Đông Hải phòng .
Xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS.Mai Khắc Thành, người đã dành nhiều
thời gian, công sức và lòng nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
Tên bảng
Tổng các khoản thu từ dịch vụ
Tình hình phát triển khách hàng mới
Tình hình kết quả kinh doanh từ 2012 – 2015
Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
Cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế
Cơ cấu huy động theo loại tiền tệ
Quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Huy động vốn và sử dụng vốn cho vay theo kỳ hạn tại
BIDV Đồng Hải Phòng
Huy động vốn và sử dụng vốn cho vay theo loại tiền tệ
tại BIDV Đông Hải Phòng
iv
Trang
36
37
37
46
49
52
53
54
Trang
31
33
33
34
35
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào trong đó nhu cầu về vốn là nhu cầu tiên quyết để duy trì và phát
triển sản xuất, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh
doanh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các doanh nghiệp đều mong muốn đầu
tư mở rộng sản xuất, đa dạng hóa dịch vụ nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
Là 1 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thì nhu cầu về
vốn đối với Ngân hàng thương mại lại càng quan trọng bởi không có vốn, ngân
hàng sẽ không thể tồn tại. Trong nền kinh tế, ngành Ngân hàng được coi là huyết
mạch, là kênh huy động vốn có tầm quan trọng đặc biệt, hoạt động tín dụng ngân
hàng đã góp phần không nhỏ trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp hoạt
động. Để đáp ứng đủ nhu cầu vốn của thị trường, Ngân hàng thương mại phải huy
động vốn từ bên ngoài, nói cách khác Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì việc
huy động vốn đóng một vai trò then chốt.
Không nằm ngoài quy luật chung đó, đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam (BIDV) nói chung và Chi Nhánh BIDV Đông Hải Phòng nói
riêng vấn đề Vốn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu. BIDV Đông Hải Phòng đã
không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng với tiêu chí
“Nhanh chóng, chính xác, thuận tiện” cùng với việc mở rộng mạng lưới giao dịch,
trên cơ sở đó mở đường và tạo mặt bằng vốn tăng trưởng vững chắc. Tuy nhiên,
2
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải có một tổ chức kinh
doanh đặc biệt – chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ trong quan hệ vay mượn
– đó là NHTM, một trung gian tài chính được hình thành lâu đời nhất. Có thể hiểu
NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các nội dung chính là:
Nhận tiền gửi và chi trả hộ cho khách hàng.
Sử dụng số tiền của khách hàng gửi để cho vay.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, ngân hàng đã thực hiện thêm những dịch vụ như: chiết khấu thương
phiếu; tài trợ các hoạt động của Chính phủ; cung cấp các dịch vụ tài khoản tiền
gửi; cung cấp các dịch vụ khác như: thanh toán quốc tế, dịch vụ thuê thiết bị; môi
giới đầu tư; dịch vụ ngân hàng điện tử; dịch vụ ngân hàng tự động…
Như vậy, NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ và cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hoạt động của
NHTM ngày càng đa dạng hơn. Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối
với nền kinh tế, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ
hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các yếu tố trên đang
không ngừng thay đổi cùng với đời sống kinh tế, chính trị xã hội. Chính vì vậy
cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện các
dịch vụ mà chúng cung cấp như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,
tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
chủ sở hữu có một lượng tiền tiết kiệm được sau khi đã
chinăng
tiêu cho
Chứccác
năng
Chức
môi giới
thanh toán
các nhu cầu cần thiết hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định
họ sẽ nghĩ đến việc bảo quản nóChức
nhưnăng
thế nào
an mặt
toàn khi đó giải pháp gửi tiền
quảncho
lý tiền
Chứchàng
năng ngân
vào ngân
sẽ được chọn vì mục đích cất trữ.
Chức năng
tiết kiệm
hàng đầu tư và
Tùy
bảotheo
lãnhlượng tiền nhàn rỗi, tùy kế hoạch sử dụng mà họ sẽ tính toán xem
ngân hàng tập hợp được một số tiền tạm thời chưa sử dụng của các chủ sở hữu để rồi
sử dụng lượng tiền đó đem tài trợ lại cho nền kinh tế.
1.1.2.2. Tài trợ
Là các hoạt động mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn đã huy động được để
cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu với những điều kiện do hai bên thỏa thuận.
Hoạt động này bao gồm:
Cho vay (Tín dụng):
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch giữa ngân hàng chuyển giao
tiền cho các chủ thể khác được sử dụng trong một thời gian nhất định và bên nhận
tiền phải cam kết hoàn trả theo thời hạn thỏa thuận.
Đây là hoạt động giữ vị trí đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng vì hoạt động này tạo ra cho NHTM khoản thu
nhập chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau người ta có thể chia thành các loại cho vay
khác nhau:
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Cho vay bất động sản, cho vay công
nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay xây dựng,…
+ Căn cứ vào thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn, Cho vay trung và dài hạn
+ Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: Cho vay trả góp, cho vay hoàn trả theo
yêu cầu,…
+ Căn cứ vào thành phần kinh tế: Cho vay quốc doanh và ngoài quốc doanh.
Thông qua hoạt động tín dụng các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã
5
hội của mình, góp phần làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở
rộng và từ đó đời sống dân chúng được cải thiện.
Đầu tư:
NHTM có thể sử dụng nguồn vốn để đầu tư như đầu tư vốn trực tiếp vào các
chiếm một tỷ lệ lớn về tổng thu trong kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời góp
phần làm tăng tốc độ chu chuyển nguồn vốn, tiết kiệm thời gian, làm giảm khối
lượng tiền tệ lưu thông, tiết kiệm chi phí in ấn, kiểm đếm tiền,… Ngân hàng thực
hiện tốt công tác thanh toán sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao
dịch từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác huy động vốn và cho vay của
ngân hàng.
+ Dịch vụ bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có
quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghiệp vụ tài chính thay cho khách
hàng (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh. Thông thường các
NHTM áp dụng các hình thức bảo lãnh như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu,
bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,…
+ Bảo quản vật có giá:
Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất được các NHTM thực hiện. Có
hai hình thức bảo quản vật có giá là két sắt bảo quản ký thác và bảo quản an toàn
vật có giá.
Két sắt bảo quản ký thác được lập ra để cho khách hàng thuê, khách hàng có
quyền kiểm tra tài sản có giá của họ bất kỳ thời điểm nào. Ngân hàng chỉ cung cấp
kho bảo quản, két sắt và điều kiện an toàn.
Bảo quản an toàn vật có giá là nhiệm vụ trông nom, quản lý giấy tờ có giá
như là một đại lý đối với khách hàng.
+ Các dịch vụ khác:
Ngoài những nghiệp vụ chủ yếu nêu trên ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ
khác như mua bán, trao đổi ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, quản lý tiền mặt,…
Các hoạt động của NHTM đều có mối quan hệ mật thiết hữu cơ, làm tiền đề,
điều kiện cho nhau vì vậy NHTM phải thực hiện tốt đồng bộ tất cả các hoạt động.
1.1.3. Vai trò của các NHTM trong nền kinh tế
7
trình sản xuất kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người chủ sở hữu gửi vào ngân
hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền sở hữu còn quyền sử dụng vốn
tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải trả cho họ một
khoản thu nhập. Như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân
phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục
vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động
đó lại quyết định đến việc tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động của NHTM
Nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết
sức quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh
của mỗi ngân hàng. Vốn là yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, khả năng cạnh
tranh cũng như khả năng phòng chống rủi ro của ngân hàng.
- Vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Đối với bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh thì đều phải có vốn, muốn mở rộng sản xuất cũng cần phải có vốn vì thế
tăng vốn luôn là mục tiêu của các doanh nghiệp vì quy mô vốn thể hiện năng lực của
doanh nghiệp. Riêng với hoạt động của các ngân hàng thương mại với đặc thù kinh
doanh tiền tệ thì vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành tất cả các nghiệp vụ kinh
doanh của mình bởi đối với ngân hàng vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà
còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng muốn mở rộng kinh doanh, thu
được lợi nhuận, tăng uy tín thì ngoài vốn ban đầu thì cần phải thường xuyên quan
tâm tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng.
- Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
9
dụng, thông thường so với những ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các
khoản mục đầu tư kém đa dạng, khối lượng và phạm vi tín dụng nhỏ hơn. Trong
khi các ngân hàng lớn có nhiều vốn đầu tư cho vay được cả thị trường trong nước
Với xu hướng ngân hàng đa năng như hiện nay, hoạt động ngân hàng không
chỉ đơn giản như hoạt động của ngân hàng truyền thống, mà còn vươn tới nhiều
lĩnh vực khác như mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, hoạt động thuê mua,
bảo lãnh, mua bán nợ, kinh doanh trên thị trường chứng khoán,… Hình thức kinh
doanh đa năng giúp ngân hàng phân tán được rủi ro, tạo thêm vốn, cơ hội thuận lợi
cho ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Tóm lại, vốn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với
từng ngân hàng thương mại nói riêng chính vì vậy huy động vốn luôn là hoạt động
được ưu tiên hàng đầu. Nguồn vốn không chỉ giúp ngân hàng thương mại tồn tại,
hoạt động được mà nó còn cho phép NHTM mở rộng quy mô hoạt động, vươn tới
nhiều lĩnh vực mới giúp ngân hàng có đủ uy tín và sức mạnh để tồn tại và phát
triển trên thương trường.
1.2.3. Nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại có thể phân chia theo nhiều cách khác
nhau: theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), theo loại tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ), theo đặc
điểm của nguồn (nợ, tiền vay). Tiếp cận theo cách phân chia trên bảng tổng kết tài
sản nguồn vốn của ngân hàng thương mại được chia thành:
1.2.3.1. Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng [3]
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh
doanh thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao,
NHTM không phải hoàn lại, nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt
động mở rộng quy mô của mình như liên doanh, liên kết, mở rộng mạng lưới,…
Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau:
Vốn tự có ban đầu:
Vốn này được hình thành từ ban đầu khi mới thành lập ngân hàng. Tùy theo
từng loại hình ngân hàng (quốc doanh hay cổ phần) mà vốn này có thể do ngân
sách Nhà nước cấp hay do các cổ đông góp vốn. Vốn này là một trong những điều
kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng.
này là rất thấp nên chi phí huy động vốn của loại tiền gửi này là rất thấp đây chính là
ưu điểm của nguồn vốn này. Tuy nhiên, tính ổn định của nguồn vốn này là thấp nhất
12
vì mục đích của món tiền gửi này là dùng để thanh toán nên khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào mà ngân hàng không được phép từ chối. Biến động của tiền gửi thanh
toán phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ, hoặc địa bàn hoạt động của
ngân hàng. Để đo độ biến động phức tạp của nguồn vốn này, ta có thể đo tần suất
biến động hoặc số vòng quay, hoặc dựa vào các con số thống kê trong lịch sử mà
ngân hàng đưa ra kết luận. Khi sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán ngân hàng
phải thận trọng nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều này có thể làm giảm uy tín
của ngân hàng, hoặc phải tốn chi phí để đi vay.
Ở Mỹ tiền gửi giao dịch không hưởng lãi chiếm khoảng 30% tiền gửi ngân
hàng mặc dù theo một đạo luật Liên bang Mỹ từ năm 1933 ngân hàng không được
thanh toán lãi suất trên tiền gửi giao dịch nhưng nhiều ngân hàng chấp nhận trả chi
phí giao dịch qua bưu điện hay cung cấp các dịch vụ miễn phí khác do đó vẫn thu
hút được một lượng lớn tiền gửi thanh toán.
Để huy động được nguồn tiền gửi thanh toán ngân hàng cần phải khuyến
khích các cá nhân và tổ chức kinh tế mở tài khoản thanh toán đồng thời cũng cần
phải nâng cấp các tiện ích và dịch vụ do ngân hàng cung cấp kèm theo như: dịch
vụ thẻ, dịch vụ thanh toán,…
Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách
hàng về thời hạn gửi tiền trong khoảng thời gian này ngân hàng có quyền chủ động
sử dụng số tiền đó, khi khách hàng muốn rút tiền trước thời hạn cần phải báo trước
và phải được sự chấp thuận của ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm
thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh do các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tạo ra từ các quỹ như quỹ khấu hao, quỹ đầu tư, từ
các nguồn thu nhập của doanh nghiệp,… khi họ biết trước được thời điểm sử dụng
thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền
tiết kiệm. Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy
tiết kiệm, các loại hình huy động đa dạng, các dịch vụ đa dạng,…đều ảnh hưởng
tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền. Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và
tính ổn định của nguồn tiền. Vào dịp tết, nguồn tiết kiệm cũng như tiền gửi của
doanh nghiệp có xu hướng giảm sút đặc biệt là trong điều kiện tình trạng thanh
toán bằng tiền mặt vẫn là hình thức phổ biến nhất trong các giao dịch kinh tế ở
14
nước ta hiện nay. Tại những thành phố lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân cư có
thu nhập cao, hình thành người gửi tiền lớn, thu nhập gia tăng là điều kiện để các
gia đình tăng quy mô và kỳ hạn của các khoản tiền gửi. Như vậy, ngân hàng cần
phải nghiên cứu đặc điểm thị trường nguồn tiền để có biện pháp quản lý và sử
dụng thích ứng tuy nhiên ngân hàng thường rất khó dự tính được chính xác việc
thay đổi quy mô và kết cấu của tiền gửi
Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và
chứng chỉ tiền gửi với đặc điểm có kỳ hạn và khoản lãi được hưởng thường là hấp
dẫn. Hình thức huy động này được thực hiện với mục đích sử dụng vốn cụ thể với
số lượng và thời gian phát hành nhất định khi cần thiết. Đặc điểm của khoản nợ
này có tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác. Hiện nay, ở
Việt Nam có một số giấy tờ có giá có thể được mua bán trên thị trường, trong khi
đó ở các nước có thị trường tài chính phát triển thì việc mua bán các công cụ nợ
diễn ra khá phổ biến và sôi động. Hiện nay, nhu cầu vốn trung và dài hạn còn rất
lớn chính vì vậy việc phát hành giấy tờ có giá kỳ hạn dài đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo và gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng. Huy động
vốn bằng việc phát hành giấy tờ có giá thường có lãi suất hấp dẫn hơn các loại tiền
gửi có cùng kỳ hạn do vậy chi phí huy động nguồn vốn này cao tuy nhiên loại vốn
này lại có tính ổn định và tính “lỏng” vì có thể đưa ra mua bán trên thị trường vốn.
hàng thương mại thường nắm giữ một lượng giấy tờ có giá, khi cần tiền mặt, ngân
hàng thương mại đưa lượng giấy tờ này cầm cố tại ngân hàng trung ương, thông
qua lãi suất chiết khấu mà ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh được cung tiền
tệ cũng như cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại còn có thể vay từ các nguồn ngắn hạn như vay để bù
đắp dự trữ thiếu hụt, nâng cao khả năng thanh toán, nâng cao khả năng thanh
khoản. Các khoản vay này thường là trong thời gian rất ngắn. Trong những trường
hợp đặc biệt NHTM vẫn có thể vay NHNN để cho vay lại nền kinh tế theo kế
hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi nhưng khoản vay này thường bị
hạn chế về số lượng đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt.
Vay ngân hàng trung ương để cho vay các dự án mà Chính phủ chỉ định
Lãi suất vay từ ngân hàng trung ương thường là ưu đãi nhưng để vay được
nguồn vốn này lại phụ thuộc vào chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
16
- Vay từ các tổ chức tín dụng khác:
Khi thị trường tiền tệ liên ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại có thể
vay từ các tổ chức tín dụng khác. Nghiệp vụ này sẽ tạo ra thị trường liên ngân hàng
trong nước và quốc tế. Lãi suất đi vay thường cao hơn vay từ ngân hàng trung
ương, quy mô món vay phụ thuộc vào thị trường, về kỳ hạn có thể co giãn, hoặc là
rất ngắn hoặc có thể tới 3-5 năm.
Nguồn tiền đi vay không phải dự trữ bắt buộc, không cần bảo hiểm tiền gửi
đồng thời ngân hàng cũng chủ động được thời gian hoàn lại nhưng lãi suất lại cao.
Ngân hàng có thể đi vay bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như phát
hành các trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, hiện nay hình thức vay
từ việc phát hành các giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với tổng
lượng tiền đi vay của các ngân hàng. Bởi hình thức phát hành giấy tờ có giá là một
phần của chiến lược huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng, lãi suất của các giấy tờ
nhiên do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho
tiền gửi với cùng kì hạn. Các khoản vay Ngân hàng Nhà nước và vay ngân hàng
khác tuy lãi suất thấp song thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán
tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao. Vay Ngân hàng Nhà
nước phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Việc vay mượn
các ngân hàng khác trên cùng địa bàn cũng gặp khó khăn khi nhiều ngân hàng
đang thiếu phương tiện thanh toán. Muốn mở rộng quy mô vay mượn trên thị
trường liên ngân hàng, một ngân hàng cần vươn tới thị trường liên ngân hàng quốc
tế với khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái.
Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định cao cho ngân hàng.
Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự án, tài trợ cho trang thiết
bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các nhân tố ảnh hưởng
quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn định vĩ mô, sau đến là các kỹ thuật
nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện
đối với người cho vay. Mặc dù lãi suất thường cao hơn các nguồn khác, song ngân
hàng vẫn phải sử dụng phát hành giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp
ứng được yêu cầu như ổn định, quy mô đủ lớn trong khoảng thời gian xác định.
18
1.2.3.4. Nguồn khác
NHTM còn có thể tạo lập vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện
một số nghiệp vụ như: làm trung gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý, … Qua đó
NHTM có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình
thu hộ hoặc chi hộ khách hàng. Các khoản vay này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm
bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung, dài hạn;
là giải pháp tình thế trong hoàn cảnh khó khăn cho NHTM.
Các nguồn khác này thường không lớn, việc gia tăng các nguồn này nằm
Vốn huy động loại i
Tỷ lệ loại vốn huy động i =
x 100%
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh từng loại vốn huy động so với
tổng vốn huy động. Qua đó, đánh giá tính ổn định của từng loại nguồn vốn huy
động cũng như khả năng tạo được nền vốn lâu dài và ổn định.
Tỷ trọng nguồn vốn huy động có thể phân chia theo một số tiêu thức sau:
+ Theo kỳ hạn huy động: ngắn hạn, dài hạn.
+ Theo loại tiền tệ: nội tệ, ngoại tệ.
+ Theo nguồn hình thành: huy động dân cư, tiền gửi TCKT, tiền gửi tổ chức
tài chính.
c. Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn
Cơ cấu hợp lý không có tình trạng bất hợp lý giữa nguồn vốn huy động với
nhu cầu sử dụng vốn và có thể đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng vốn.
Tổng nguồn vốn huy động/ tổng dư nợ cho vay và đầu tư: Chỉ tiêu này đánh
giá khả năng huy động vốn của chi nhánh để phục vụ cho vay, chỉ tiêu này còn
đánh giá ngân hàng có sử dụng hiệu quả vốn huy động để cho vay hay không.
Chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn, là một
thước đo thường được các ngân hàng chú trọng nhiều nhất. Chỉ tiêu nên được duy
trì ở mức hợp lý tùy thuộc vào tiềm lực của ngân hàng. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này
tăng mạnh cho thấy ngân hàng có lượng vốn dự phòng ít hơn để tài trợ cho sự tăng
trưởng của ngân hàng và để bảo vệ nó trước sự biến động của nguồn vốn huy động,
đặc biệt đối với một ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn tiền gửi của khách hàng để
tài trợ cho tăng trưởng tín dụng.
20