Bài tập lớn chế định chủ tịch nước - Pdf 34

bài tập lớn chế định chủ tịch nước
Mục Lục
A - Phần Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
5. Kết cấu của đề tài
B - Nội Dung
Chương I: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập
hiến Việt Nam
1.1 Khái quát chung về chế định chủ tịch nước
1.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong lich sử lập hiến Việt Nam
1.2.1 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
1.2.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1959
1.2.3 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1980
1.2.4 Vai trò chế định chủ tich nước trong hiến pháp năm 1992
Chương II: Các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt
Nam
1.1: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
1.2: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1959
1.3: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1980
1.4: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1992
1.5: Quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
C - Kết Luận
D - Tài liệu tham khảo
A – Phần Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Chế định của chủ tịch nước là mảng đề tài được rất nhiều người qua
tâm và nghiên cứu. Là một sinh viên luật tôi thấy đây là một vấn đề đòi
hỏi các sinh viên trong ngành cần phải trang bị.

nguyên tắc thống nhất kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp
kết hợp logic và lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp xã
hội học và luật học so sánh để phuc vụ cho nghiên cứu.


4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: tìm hiểu các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến
Việt Nam
Nhiệm vụ: để thực hiện được mục đích đó, bài tiểu luận trình bày những
vấn đề sau:
- Trình bày cơ sở lý luận của các chế định chủ tịch nước qua đó phân
tích chứng minh nó có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn.
- Trình bày các chế định chủ tịch nước thông qua các bản hiến pháp của
nước Việt Nam và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà
nước khác trong bộ máy nhà nước Việt Nam.
5. Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận gồm có 4 phần:
A - Phần mở đầu
B - Nội dung: gồm 2 chương
* Chương I: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử
lập hiến Việt Nam
*Chương II: Các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt
Nam
C - Kết Luận
D - Tài liệu tham khảo
B – Nội Dung


Chương 1: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập
hiến Việt Nam

nhất và cùng cơ quan này thực hiện các chức năng nguyên thủ. Sự hiện
diện các biểu hiện “nguyên thủ quốc gia” trong cơ chế nhà nước XHCN
phần nhiều là do thông lệ quốc tế - để thuận lợi trong việc thực hiện một
số hoạt động nhà nước có tính chất long trọng, hình thức và chừng mực
nhất định, để phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ chế nhà
nước. Vị trí thứ hai này của “nguyên thủ quốc gia” xã hội chủ nghĩa khá
khác nhau, tùy thuộc vào từng nước.
Trong cơ chế nhà nước ta như đã đinhnói ở trên, thiết chế nguyên thủ
quốc gia được tổ chức khác nhau qua các bản Hiến pháp. Ở Hiến pháp
năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước. Đến Hiến pháp năm 1980 là Hội
đồng nhà nước, và hiện nay, tại Hiến pháp năm 1992 trở lại hình thức
Chủ tịch nước. Vị trí, tính chất, chức năng quyền hạn và mối quan hệ
của thiết chế này đối với các cơ quan khác cũng khác nhau theo từng
giai đoạn phát triển của tổ chức nhà nước. Trong từng hiến pháp có sự
kế thừa và phát triển những nguyên tắc căn bản của tổ chức bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói
riêng.
1.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong lich sử lập hiến Việt Nam
1.2.1 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
Sau cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời
là nhà nước dân chủ nhân dân. Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc
Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời
đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường
mới. Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ,
giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.Với
bản Hiến pháp 1946, bộ máy Nhà nước đã bước đầu được tổ chức theo
nguyên tắc tập quyền song vẫn còn mang nhiều cách tổ chức theo kiểu
đại nghị, thể hiện ở Nghị viện nhân dân và chính phủ liên hiệp với sự
đoàn kết rộng rãi ở các lực lượng, giai cấp, đảng phái.
Sự ra đời của chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp 1946 có thể nói

tập thể của nhân dân lao động” mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã
xác định.
Cuộc tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội
thống nhất, Quốc hội khoá VI. Và ngày 18/12/1980 tại kỳ họp thứ 7
Quốc hội khóa VI đã chính thức thông qua Hiến pháp mới đó là Hiến
pháp 1980. Chủ tịch nước, theo quy định của Hiến pháp năm 1980, nằm
trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước ở trung ương với tên gọi là


Hội đồng Nhà nước. Hiến pháp năm1980 đã “sát nhập” hai chức năng
của Ủy ban thường vụ quốc hội với chức năng của Chủ tịch nước là cá
nhân trong Hiến pháp 1959 vào một cơ quan duy nhất là Hội đồng Nhà
nước.
1.2.4 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1992
Chế định Hội đồng Nhà nước (nguyên thủ quốc gia tập thể) ngày càng
bộ lộ rõ những hạn chế trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, trên thế
giới diễn ra rất nhiều biến động lớn, mà tiêu biểu là hệ thống Xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã. Đất nước ta bước vào thời kỉ khủng
hoảng trầm trọng bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp và phổ
biến quan điểm giáo điều, giản đơn về CNXH. Một yêu cầu bức thiết
được đặt ra, đó là phải đổi mới, đổi mới trong bộ máy Nhà nước và
trong đời sống xã hội. Hiến pháp năm 1980 đã tỏ ra không còn phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước.
Ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII đã
thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980, đó là Hiến pháp năm
1992. Tổ chức bộ máy Nhà nước có nhiều thay đổi căn bản so với bộ
máy Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 1980, trong đó có chế
định Chủ tịch nước.
Thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các Hiến
pháp. Ở Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 là Chủ tịch nước, đến Hiến

Cộng hoà không những là người đứng đầu Nhà nước mà còn là người
trực tiếp điều hành bộ máy hành pháp. Điểm d, Điều 49, Hiến pháp năm
1946 quy định: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà có quyền chủ
toạ Hội đồng Chính phủ. Nhưng lại khác với chính thể Cộng hoà Tổng
thống ở chỗ: Chủ tịch nước không do nhân dân trực tiếp bầu ra hay gián
tiếp bầu ra mà do Nghị viện bầu và phải là thành viên của Nghị viện.
Một điểm khác với Chính thể Cộng hoà Tổng thống nữa, đó là bên cạnh
người đứng đầu bộ máy hành pháp còn có một bộ máy có tính Hiến
định, bảo đảm việc thực thi quyền lực hành pháp ở Nội các, bao gồm
Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thứ trưởng. Điều 47 Hiến pháp 1946 quy
định: "Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa
ra Nghị viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tưóng chọn
các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể
danh sách. Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thư tướng đề
cử ra hội đồng Chính phủ duyệt, nhân viên ban thường vụ Nghị viện
không được tham gia vào Chính phủ".
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống Tổng thống Mỹ ở chỗ


được quyền phủ quyết các dự án luật đã được Nghị viện thông qua,
nhưng lại khác với quyền phủ quyết của Tổng thống Mỹ ở chỗ Nghị
viện chỉ cần biểu quyết lại, không cần phải biểu quyết mạnh mẽ hơn là
2/3 như ở Mỹ, thì Chủ tịch nước buộc phải công bố thành luật có hiệu
lực thi hành.
Nếu như ở Chính thể Cộng hoà Tổng thống, Tổng thống phải chịu trách
nhiệm về mọi hành vi của mình, có thể bị Nghị viện luận tội theo thủ tục
đàn hạch, thì Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống như
nguyên thủ quốc gia của mô hình Cộng hoà đại nghị là không phải chịu
trách nhiệm nào, trừ khi phản bội Tổ quốc.
Tuy Chủ tịch nước được quy định thực hiện các quyền hạn lớn hơn cả về

hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch nước chủ yếu thực hiện
các công việc có tính đại diện cá nhân và tham gia nhất định vào các
hoạt động của Nhà nước như lập pháp, thành lập các cơ quan Nhà nước,
tặng thưởng huân chương, tuyên bố chiến tranh… nhưng đều dựa trên
quy định của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trật tự hình thành của Chủ tịch nước theo Hiến pháp được quy định
trong Điều 62 Hiến pháp năm 1959: "Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bầu ra. Công
dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ ba mươi lăm tuổi trở lên có
quyền ứng cử Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhiệm kỳ
của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo nhiệm kỳ của Quốc
hội".
2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch nước chỉ đảm nhiệm
chức năng nguyên thủ quốc gia trong lĩnh vực đối nội, đối ngoại. Quyền
lực có nhiều thay đổi so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp
1946 với mục đích đề cao vai trò tập thể nên đã chuyển một số quyền
hạn của Chủ tịch nước được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1946 sang cho
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bên cạnh đó lại quy định những quyền hạn
khác của Chủ tịch nước mang tính chất thủ tục.
Chức năng của Chủ tịch nước được thể hiện rõ ở những nhiệm vụ và
quyền hạn sau: (được quy định từ Điều 63 đến Điều 67 Hiến pháp năm
1959).
* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay
mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại
Tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; cử,
triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.


(Điều 64)

quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang bằng quyền thống lĩnh các lực
lượng vũ trang. Thay quyền ban bố luật bằng quyền công bố luật, không


còn quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận lại luật, không còn quyền bổ
nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trong cơ quan Hành chính và chuyên
môn, đồng thời Chủ tịch nước không còn quyền triệu tập, chủ toạ các
phiên họp của Hội đồng Chính phủ trừ trường hợp cần thiết. Bên cạnh
đó Chủ tịch nước còn phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Trước đây Chủ tịch nước chủ yếu sử dụng sắc lệnh, bây giờ phải dùng
luật để điều hành đất nước.
2.2.3 Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu, (chọn trong công dân) với nhiệm kì theo
nhiệm kì của Quốc hội (4 năm). Và khác với Hiến pháp năm 1946, Chủ
tịch nước phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Điều đó cho thấy ở
Hiến pháp năm 1959, vị trí của Chủ tịch nước gắn bó với Quốc hội hơn
so với Hiến pháp năm 1946, và điều này phù hợp hơn với nguyên tắc tổ
chức bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
*Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ
Chủ tịch nước vẫn có vai trò khá lớn đối với Hội đồng Chính phủ. Chủ
tịch nước đề nghị Thủ tướng để Quốc hội quyết định, căn cứ vào quyết
định của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ mà bổ nhiệm, bãi miễn Thủ
tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ;
khi cần thiết có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng
Chính phủ. Đây là những điểm kế thừa vị trí của Chủ tịch nước đối với
Chính phủ ở Hiến pháp trước.
* Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án, Viện kiểm sát
Cũng như Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 chưa có quy định
rõ ràng về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án, cũng như quan

2.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước được quy định tại Điều
100 Hiến pháp năm 1980, gồm những thẩm quyền sau:
"1- Tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
2- Triệu tập các kỳ họp của Quốc hội.
3- Công bố luật.
4- Ra pháp lệnh.
5- Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh.
6- Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân.
7- Giám sát công tác của Hội đồng bộ trưởng, của Toà án nhân dân tối
cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


8- Đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị
định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và
pháp lệnh.
9- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp,
nhằm phát huy chức năng cơ quan đại biểu nhân dân của Hội đồng nhân
dân.
10- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của các Hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương
đương; giải tán các Hội đồng nói trên trong trường hợp các Hội đồng đó
làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân.
11- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc thành lập hoặc
bãi bỏ các bộ, các Uỷ ban Nhà nước.
12- Trong thời gian Quốc hội không họp, cử và bãi miễn các Phó Chủ
tịch Hội đồng bộ trưởng, các bộ trưởng, các chủ nhiệm Uỷ ban Nhà
nước.
13- Cử và bãi miễn các Phó Chánh án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân
của Toà án nhân dân tối cao; cử và bãi miễn các Phó Viện trưởng và

chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê
chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội
quyết định" (Điểm 10 Điều 103 Hiến pháp năm 1992).
Chủ tịch nước quyết định việc kí kết điều ước với danh nghĩa Nhà nước
và những điều ước quốc tế có điều khoản trái với Luật hoặc Pháp lệnh.
Chủ tịch nước trực tiếp đàm phán, kí kết hoặc uỷ quyền trưởng đoàn
đàm phán kí kết. Chủ tịch nước phê chuẩn các điều ước thuộc quyền
quyết định của Chủ tịch nước về điều ước Quốc tế có điều khoản quy
định việc phê chuẩn. Việc xin phê chuẩn điều ước Quốc tế do cơ quan
đề xuất việc kí kết phối hợp với Bộ ngoại giao đề nghị Chính phủ trình
Chủ tịch nước, Chủ tịch nước xét và tiến hành phê chuẩn hoặc trình
Quốc hội phê chuẩn.
Và ở Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, quy định này
được bổ sung thêm đó là: Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn các
điều ước Quốc tế đã trực tiếp kí.
- Chủ tịch nước "Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi
quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam" (Điểm 11 Điều 103
Hiến pháp năm 1992).
- Chủ tịch nước "Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ
chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh" (Điểm 2 Điều 103
Hiến pháp năm 1992).
Ở đây có điểm khác Hiến pháp năm 1946. Điều 49 Hiến pháp năm 1946
quy định Chủ tịch nước "giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc..." ;
từ "thống lĩnh" đã được dùng trong các Hiến pháp năm 1959 và 1980;
"thống lĩnh" khác "tổng chỉ huy" ở chỗ "thống lĩnh" không phải là trực
tiếp chỉ huy mà là phụ trách chung. Hội đồng Quốc phòng giúp Chủ tịch
nước trong việc thống lĩnh. Chủ tịch nước thành lập Hội đồng Quốc
phòng và trình Quốc hội phê chuẩn.
- Chủ tịch nước "Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các


như quyền phủ quyết của nguyên thủ quốc gia một số nước. Tuy nhiên,
về bản chất không hẳn là như vậy. Quyền phủ quyết thường nảy sinh
trong cơ chế Nhà nước có sự kiềm chế và đối trọng quyền lực (cơ chế
phân quyền), còn ở nước ta giữa Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
và Chủ tịch nước là thống nhất không có sự đối trọng nên không có vấn
đề phủ quyết lẫn nhau ở đây. Thực chất vấn đề là ở chỗ, do Hiến pháp
quy định cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành pháp lệnh một loại văn bản có tính chất luật - lẽ ra phải do Quốc hội ban hành dưới
hình thức luật nên cần phải thận trọng. Sự tham gia của Chủ tịch nước
nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề quan trọng đó một cách chính xác
nhất.
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ


tịch nước còn công bố Nghị quyết của Quốc hội tương tự như đối với
Luật, công bố hoặc đề nghị xem xét lại Nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội tương tự như đối với Pháp lệnh.
Ở đây có một điểm đáng chú ý nữa: Hiến pháp năm 1946 dùng từ "ban
bố", các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 dùng từ "công bố". "Ban
bố" thường được hiểu là điều kiện bắt buộc phải có để một văn bản đã
được thông qua có hiệu lực pháp lí. Còn "công bố" chỉ có ý nghĩa là để
nhân dân biết, còn văn bản đó có hiệu lực pháp luật từ ngày được thông
qua nếu văn bản không có quy định khác, như đã phân tích ở trên.
Trong lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước tham gia thành lập Chính phủ,
giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng
và thành viên khác của Chính phủ, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (căn cứ vào
Nghị quyết của Quốc hội) (Điểm 4 Điều 103 Hiến pháp năm 1992); Ban
bố tình trạng khẩn cấp khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp
được; trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định tạm đình chỉ công
tác của Phó Thủ tưóng, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề

bổ nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án các cấp.
Nay Luật tổ chức Toà án nhân dân 2002 đã bãi bỏ điểm này, giao về cho
Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện. Chủ tịch nước xem xét và
quyết định việc ân xá (giảm án tử hình). Chánh án Toà án nhân dân tối
cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội
và Chủ tịch nước.
Để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hiến pháp quy
định Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội. Khi xét thấy cần thiết có quyền tham dự các phiên họp của
Chính phủ (Điều 105 Hiến pháp 1992).
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình (Điều 106 Hiến pháp năm 1992).
III. kết luận
Chế định chủ tịch nước là một trong những chế định quan trọng trong tổ
chức bộ máy nhà nước ta. Trong các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980,
1992 qua từng giai đoạn phát triển chế định chủ tịch nước lại có nhiều sự
khác nhau phù hợp với từng điều kiện của tổ chức bộ máy nhà nước ở
mỗi giai đoạn đó. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển của tổ
chức nhà nước ta là một quá trình thống nhất, nhất quán cho nên sự đổi
mới, phát triển đều dựa trên những nguyên tắc, ưu điểm của thiết chế
trước đó. Đó là sự kế thừa và phát triển của chế định chủ tịch nước qua
các bản hiến pháp


Chúng ta có thể đưa ra một số đánh giá nhận xét như sau:
Thứ nhất, trong hiến pháp 1946 chế định chủ tịch nước được xây dựng
một cách độc đáo, vừa đảm bảo quyền lực nhà nước thống nhất và cơ
quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, vừa tăng

một số pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn


đề quy định tại các điểm 8, 9 của điều 91 Hiến pháp 1992…Sự đổi mới
đó quán triệt nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền hành pháp, tư pháp, lập pháp.
Từ sự phân tích trên ta có thể nhận thấy chế định Chủ tịch nước ta hiện
nay nghiêng về cơ quan lập pháp hơn hành pháp, điều này thể hiện ở
chỗ: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội,
có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc
hội và chính thức hóa hoạt động của Quốc hội… Nhiều thẩm quyền
mang tính hành pháp được giao cho ngành lập pháp còn chủ tịch nước
chỉ như là người chính thức hóa, ví dụ như: Căn cứ vào nghị quyết của
Quốc hội công bố quyết định tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên cục bộ,
công bố tình trạng khẩn cấp…Như vậy chủ tịch nước theo Hiến pháp
hiện hành – Hiến pháp năm 1992 là một thiết chế riêng song vẫn
nghiêng về phía Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với Quốc hội chứ không gắn
với Chính phủ như ở Hiến pháp 1946 và 1959 hoặc thuộc về hành pháp
như nguyên thủ quốc gia ở đa số các nước tư bản cũng không chỉ mang
tính hình thức như ở các nước theo chính thể quân chủ:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. "Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam", Trường đại học luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2007
2. "Tìm hiểu về hiến pháp và pháp luật Luật hiến pháp nước ngoài",
PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Đồng Nai, 1997
3. "Tìm hiểu các bản Hiến pháp Việt Nam", PGS.TS Nguyễn Đăng
Dung, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2007


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status