PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết cua đề tài:
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về
kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp. Mặt khác khi
nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nhiều quan hệ
kinh tế cũng mang những diện mạo sắc thái mới. Tương ứng với sự đa
dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh tế ngày càng
muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn. Để lựa chọn một hình thức giải
quyết tranh chấp phù hợp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia tố tụng đó là một vấn đề lớn đặt ra cho mỗi chủ thể trong
tranh chấp kinh doanh thương mại. Lựa chọn phương thức giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại hay tòa án đều có những ưu nhược
điểm riêng tuy nhiên khi lựa chọn phương thức giải quyết bằng trọng tài
thương mại thì khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thì tòa
án và trọng tài thương mại có mối quan hệ như thế nào với nhau trong
quá trình tố tụng đó là vấn đề lớn đặt ra. Làm thế nào để mối quan hệ
giữa trọng tài thương mại và tòa án ngày càng chặt chẽ nhằm đảm bảo
công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng
án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương
sự. Do vậy, việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh tế,
thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm. Đồng thời việc giải
quyết tranh chấp này còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đương
sự, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia.
Chính vì những lý do trên, em xin chọn đề tài: “ Mối quan hệ
giữa tòa án và trọng tài thương mại trong tố tụng trọng tài – Thực
trạng và giải pháp”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp duy vạt biện chứng
- so sánh, đối chiếu…
1.6. bố cục của đề tài
ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài gồm có hai chương
chương 1: Lý luận về mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài thương
mại trong tố tụng trọng tài
chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài thương
mại trong tố tụng trọng tài
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÒA ÁN VÀ
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
1.1. một số khái niệm
1.1.1.
Toà án:
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử
nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục
nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh
chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng
sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Ở các nước khác nhau,có thể có sự khác nhau trong việc xác
định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa án.
Một số nước (mỹ, Nhật, Hà lan…) trao thẩm quyền xét xử mọi
tranh chấp,trong đó có các tranh chấp trong thương mại cho tòa án
thường (tòa án dân sự). một số nước khác lại trao quyền xét xử các
huyện,gồm có:
Tranh chấp tại các điểm a, b, c, d, e, g, h và i khoản 1 điều 29 bộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 mà có đương sự hoặc tài sản ở nước
ngoài, cho tòa án nước ngoài.
Tranh chấp về vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng
không, dường biển, mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
khác ; đàu tư tài chính, ngaanhangf; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giqax cong ty và các thành vienne của công ty, giữa
các thành viên cong ty với nhau liên quan đến thành lập hoạt động,
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
cong ty/
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật quy
định.
Thẩm quyền giải quyết kinh doanh tương mại của tòa án nhân dân
cấp tỉnh thuộc về tòa kinh tế và ủy ban nhân dân thẩm phán tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
Tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm tất cả
cấc tranh chấp về kinh doanh, thương mại, trừ tranh chấp thuộc thẩm
quyền của tòa án nhân dân cấp huyện.
Khi cần thiết , tòa kinh tế tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên đẻ
giải quyêt theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp thuộc thẩm quyền
của tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 2 điều 34 bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004)
Ngoài thẩm quyền sơ thẩm, tòa án kinh tế tòa án nhân dân cấp tlực
ỉnh còn có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp
đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu tòa
án nơi cư trú, làm việc cua nguyên đơn (nếu nguyên dơn là cá
nhân) hoặc nơi có trụ sở cua nguyên đơn(nếu nguyên đơn llaf cơ
quan tổ chức) giải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thqoqng
mại. nội dung pháp lý này là một diểm mới của bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 mà trước đó, các văn bản pháp luật của việt nam chưa
có quy định. Trước khi bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chưa có
hiệu lực pháp luật, pháp luật của việt nam không cho phép các
đương sự có quyền thỏa thuận chọn tòa án nơi cư trú, làm việc
hoặc nơi dăng ký trú sợ của nguyên đơn giải quyết vụ tranh chấp.
thẩm quyền của tòa đã dược pháp luật phân định theo những tiêu
chí nhất định mà các dương sự không dược quyền thỏa thuận chọn
tòa án, chỉ có nguyên đơn mới có quyền được chọn tòa án trong
những trường hợp được pháp luật quy định. Việc cho phép các
đương sự được thỏa thuận chọn tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc
nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết vụ tranh chấp là xuất phát
từ quan điểm tôn trọng quyền đinh đoạt của các đương sự và tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho các bên trong qua trìh giải quyết tranh
chấp.
1.1.1.3. thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Để thuận lợi nhất cho nguyên đơn trong việc giải quyết vụ tranh
chấp cũng như xác định thẩm quyền của tòa án cụ thể, pháp luật
dành cho nguyên đơn được quyền chọn tòa án để giải quyết vụ
tranh chấp. theo điều 36 bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, nguyên
đơn được chọn tòa án dể giải quyết vụ tranh chấp về kinh doanh
thương mại trong những trường hợp sau đây:
Nếu không biết nơi cư trú, trụ sở,làm việc của bị đơn thì nguyên
đơn có thể yêu cầu cầu tóa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở
người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan
- Xét xử công khai tạo đều kiện cho người dân giám sát
Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh nước
CHXHCN Việt Nam quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử
theo trình tự Tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật Tố
tụng dân sự đương nhiên là phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố
tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án được
tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án
của Hội đồng xét xử .
Do là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa
án có tính cưỡng chế cao. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng
chế, do đó khi đã đưa ra tòa án thì quyền lợi của người thắng
kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi
hành án.
Tuy nhiên, việc đưa vụ việc ra Tòa án thực sự là giải pháp
cuối cùng, như các cụ ta thường nói “vô phúc đáo tụng đình”
mà các bên phải cân nhắc khi biết những phức tạp thực tế từ
việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án; như là thủ tục kéo dài
với nhiều cấp xét xử, sự công khai trong quá trình xét xử
công khai và tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho các bên.
Đồng thời khi đó, quan hệ giao thương giữa các đối tác khó
có thể gắn kết lại như lúc ban đầu.
1.1.2. Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mai là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong
hệ thống cơ quan nhà nước. các trung tâm trọng tài dược thành
lạp theo sáng kiến của các trọng tài viên sau khi được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải được thành
đổi trọng tài viên; hỗ trợ trong việc xem xét lai quyết định của
hội đồng trọng tài;hỗ trợ trong việc quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời ; hỗ trợ trong việc hủy hoặc không hủy
quyết định trọng tài; hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành quyết
định trọng tài.
Các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân tồn tại độc lập
với nhau. Trung tâm trọng tài là tổ chức thỏa mãn đầy đủ các
điều kiện pháp nhân, bao gồm: được thành lập hợp pháp; có cơ
cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức
khác và tự chịu trách nhiệm về tài sản đó; nhân danh mình tham
gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập (điều 84 bộ luật Dân
sự - 2005).
Mỗi trung tâm trọng tài là một pháp nhân, tồn tại độc lập và
bình đẳng với các trung tâm trọng tài khác. Ngoài sự độc lập,
bình đảng và quan hệ hợp tác (nếu có), giữa các trung tâm trọng
tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới như hệ
thống các cơ quan tài phán nhà nước. sự khác biệt này về tổ
chức của trọng tài(cơ quan tài phán tư) so với với hệ thống tổ
chức của toa án (cơ quan tài phán công) dẫn đến tính đặc thù
của tố tụng trọng tài trong việc áp dụng nguyên tắc xét xử một
lần.
Tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản,
gọn nhẹ. Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm ban diều hành
của các trọng viên cua trung tâm. Ban điều hành của trung tâm trọng
tài gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và
có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng
tài cử. Bên cạnh bân điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng
Hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các
trọng tài viên của trung tâm. Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách
riêng về trọng tài viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng
tài viên tham gia hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất để
giải quyết vụ tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng tài
viên của trung tâm trọng tài. Vì vậy, hoạt động xét xử của trung tâm
trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung
tâm.
• Ưu và nhược điểm: Ưu, nhược điểm của giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài so với giải quyết tại toà án
Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại có những ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp
tại toà án. Những ưu điểm đó là:
- Đề cao ý chỉ tự do thoả thuận của các bên tranh chấp;
- Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không
có nhiều công đoạn tố tụng, nhanh, gọn, linh hoạt đáp ứng
đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên có liên quan;
- Nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín,
đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó,
có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh;
- Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách
thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính
dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng;
- Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp, có
chuyên môn sâu và kinh nghiệm giải quyết đối với lĩnh vực
của vụ tranh chấp;
- Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu
khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong thương
cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản
tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển
dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản
tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ;
phong toả tài khoản tại ngân hàng.
- Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan
trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều
kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạt cảm. Trong
khi đó, toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc
hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không
có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc,
không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”.
Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế qua con đường trọng tài cũng
có những nhược điểm so với tranh chấp tại toà án kinh tế. Đó
là:
- Cơ quan trọng tài kinh tế không có quyền ra lệnh kê biên
khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp.
Việc kê biên chỉ được thực hiện thông qua toà án trên cơ sở
yêu cầu của trọng tài. Quá trình kê biên theo trình tự này có
thể kéo dài, không đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời để
phòng ngừa việc tẩu tán tài sản;
- Phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm, nhưng bên bị
đơn có thể yêu cầu toà án xem xét lại. Như vậy, phán quyết
của trọng tài nhiều lúc làm cho bên “thắng kiện” không yên
tâm.
1.1.3.
Tố tụng trọng tài:
với vụ tranh chấp do hội đồng trọng tài được các bên thành lập
giải quyết thì theo yêu cầu cua nguyên đơn, chánh án tòa án cấp
tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một thẩm phán xem
xet quyết định.
- Tòa án cod thể xem xét lại quyết định về thẩm quyền của hội đồng
trọng tài: Thẩm quyền giải quyết một vụ tranh chấp cụt hể của hội
đồng trọng tài là do thoả thuận trọng tài của các bên xác định.
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu các bên có đơn
khiếu nại của một bên về việc hội đồng trọng tài không có thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp, vụ tranh chấp không có thỏa thuận
hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, hội đồng trọng tài phải xem xét
quyết định xem vụ tranh chấp có thuộc thẩm quyền của mình hay
không. Nếu các bên không đồng ý với quyết định này cua trọng tài
thì có quyền yêu cầu tòa án cấp tỉnh, nơi hội đồng trọng tài đã ra
quyết định, xem xét lại quyết định của hội đồng trọng tài. Trong
trường hợp, tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm
quyền của hội đòng trọng tài, vụ tranh chấp không có thỏa thuận
trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì hội đồng rọng tài
phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp. Các bên co
quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa án.
- Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời: Trong quá
trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi
ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị
xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến tòa án cấp tỉnh nơi hội
đồng trọng tài thụ lý giải quyết vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một
hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau: Bảo đảm cấp chứng
cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị
tiêu hủy; kê biên taifsanr tranh chấp; cấm chuyển dịch tài sản tranh
quyền lực tư pháp nên rất thích hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu
tố nước ngoài.
Từ những nhạn xét trên ta có thể rút ra những dăc diểm sau trong mối
quan hệ giã tòa án và trọng tài thương mại trong tố tụng trọng tài
như sau:
- Tòa án là cơ quan công quyền, trọng tài thì không phải
- Tòa án ra bản án còn trọng tài ra quyết định
-Ttòa án được áp dụng ngay các biện pháp khẩn cấp tạm thời còn
trọng tài không được mà phải nhờ tòa án thực hiện
- Được lựa chọn trọng tài, còn tòa án thì không được lựa chọn mà
phải theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết bằng trọng tài nhanh, thuận tiện, bí mật hơn Tòa án
nhưng giải quyết bằng Tòa án đảm bảo thi hành nhanh và hiệu quả
hơn trọng tài.
1.2.2. Quy định trong luật pháp:
- Quy định trong luật thương mại năm 2005.
- Trong pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 và các văn bản hướng
dẫn thi hành nghị định so 25/2003/ND-CP ngày 15-1-2004 của chính
phủ quy định thi hành một số quy định của pháp lệnh trọng tài thương
mại.
Việc thành lập hội đồng trọng tài được quy định tại điều 26 pháp lệnh
trọng tài 2003: khoản 1:“trong trường hợp các bên không có thỏa thuận
khác thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nguyên đơn giử đơn kiện cho
bị đơn, bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết
trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông
báo cho nguyên đơn trọng tài viên mà mình chọn, thì nguyên đơn có
quyền yêu cầu tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi bị đơn
có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn