LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ - Pdf 34

QUỐC HỘI
---------Luật số: 21/2012/QH13

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------------------Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2012

LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý
thuế số 78/2006/QH11.
Điều 1
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:
1. Bổ sung các khoản 4, 5 và 6 vào Điều 4 như sau:
“4. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế:
a) Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu
thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí
quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp
dụng các biện pháp quản lý thuế;
b) Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ
để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa
chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ
khác trong quản lý thuế.
5. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:
a) Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục;
b) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;
c) Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử;

chủng loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.”
4. Bổ sung khoản 10 vào Điều 7 như sau:
“10. Trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ
sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với
cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật
về giao dịch điện tử.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”
5. Khoản 2 và khoản 3 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các
thủ tục về thuế tại trụ sở, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế và trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
3. Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giải thích, cung cấp thông tin liên
quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; cơ quan thuế có trách
nhiệm công khai mức thuế phải nộp của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa
bàn xã, phường, thị trấn; cơ quan hải quan có trách nhiệm xác định trước mã số,
trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trước khi
làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ.”
6. Bổ sung khoản 9 vào Điều 9 như sau:


“9. Cơ quan thuế áp dụng cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác
định giá tính thuế với người nộp thuế, với cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ
mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn
lậu thuế đối với thuế thu nhập.”
7. Bổ sung khoản 3 vào Điều 30 như sau:
“3. Việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá
tính thuế được thực hiện trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và sự thống nhất
giữa cơ quan thuế và người nộp thuế theo thỏa thuận đơn phương, song phương
và đa phương giữa cơ quan thuế, người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng
lãnh thổ có liên quan.

3. Chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế đối
với loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế.
Đối với các khoản thu từ đất đai, lệ phí trước bạ thì thời hạn nộp hồ sơ
khai thuế theo quy định của Chính phủ và pháp luật có liên quan.”
“6. Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế được quy định như sau:
a) Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp;
b) Trường hợp nộp hồ sơ khai thuế theo cơ chế một cửa liên thông thì địa
điểm nộp hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của cơ chế đó;
c) Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
thực hiện theo quy định của Luật hải quan;
d) Chính phủ quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với các trường
hợp: người nộp thuế có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh; người nộp thuế
thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều địa bàn; người nộp thuế có
phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh;
người nộp thuế có phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các khoản thu từ đất đai;
người nộp thuế thực hiện khai thuế thông qua giao dịch điện tử và các trường
hợp cần thiết khác.”
10. Khoản 2 và khoản 4 Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Thời gian gia hạn không quá ba mươi ngày đối với việc nộp hồ sơ
khai thuế tháng, khai thuế quý, khai thuế năm, khai thuế tạm tính, khai thuế theo
từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế; sáu mươi ngày đối với việc nộp hồ sơ khai
quyết toán thuế, kể từ ngày hết thời hạn phải nộp hồ sơ khai thuế.”
“4. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề
nghị gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, cơ quan thuế phải trả lời bằng văn bản cho
người nộp thuế về việc chấp nhận hay không chấp nhận việc gia hạn nộp hồ sơ
khai thuế.”
11. Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 42. Thời hạn nộp thuế
1. Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là
ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.

c) Hàng hóa không thuộc điểm a và điểm b khoản này thì phải nộp thuế
trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa.
Trường hợp được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp thì được
thông quan hoặc giải phóng hàng hóa nhưng phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày
được thông quan hoặc giải phóng hàng hóa đến ngày nộp thuế theo quy định tại
Điều 106 của Luật này. Thời hạn bảo lãnh tối đa là ba mươi ngày, kể từ ngày
đăng ký tờ khai hải quan;
d) Các trường hợp đã được tổ chức tín dụng bảo lãnh nhưng hết thời hạn
bảo lãnh mà người nộp thuế chưa nộp thuế và tiền chậm nộp (nếu có), thì tổ
chức nhận bảo lãnh có trách nhiệm nộp đủ thuế và tiền chậm nộp thay cho người
nộp thuế.”
12. Điều 45 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 45. Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt
Trường hợp người nộp thuế vừa có số tiền thuế nợ, tiền thuế truy thu, tiền
thuế phát sinh, tiền chậm nộp, tiền phạt thì việc thanh toán được thực hiện theo
thứ tự sau đây:
1. Đối với các loại thuế do cơ quan thuế quản lý:
a) Tiền thuế nợ;
b) Tiền thuế truy thu;


c) Tiền chậm nộp;
d) Tiền thuế phát sinh;
đ) Tiền phạt;
2. Đối với các loại thuế do cơ quan hải quan quản lý:
a) Tiền thuế nợ quá hạn thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng
chế;
b) Tiền chậm nộp thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế;
c) Tiền thuế nợ quá hạn chưa thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp
cưỡng chế;

d) Không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác
theo quy định của Chính phủ.”
15. Điều 50 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 50. Thẩm quyền gia hạn nộp thuế
1. Chính phủ gia hạn nộp thuế trong trường hợp việc gia hạn nộp thuế
không dẫn đến điều chỉnh dự toán thu ngân sách nhà nước đã được Quốc hội
quyết định.
2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp căn cứ hồ sơ gia hạn
nộp thuế để quyết định số tiền thuế được gia hạn nộp, thời gian gia hạn nộp
thuế.”
16. Khoản 1 Điều 54 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp doanh nghiệp
giải thể được thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, tổ chức tín
dụng, kinh doanh bảo hiểm và pháp luật khác có liên quan.”
17. Điều 58 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 58. Hồ sơ hoàn thuế
1. Hồ sơ hoàn thuế bao gồm:
a) Văn bản yêu cầu hoàn thuế;
b) Các tài liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế.
2. Hồ sơ hoàn thuế được nộp một bộ tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp
hoặc tại cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế.”
18. Điều 60 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 60. Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ
sơ hoàn thuế
1. Việc phân loại hồ sơ hoàn thuế được quy định như sau:
a) Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau là hồ sơ của người nộp
thuế có quá trình chấp hành tốt pháp luật về thuế và các giao dịch được thanh
toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;
b) Các trường hợp thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau:
- Hoàn thuế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ

kinh doanh thương mại, dịch vụ;
- Cơ sở kinh doanh thay đổi trụ sở từ hai lần trở lên trong vòng mười hai
tháng, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước;
- Cơ sở kinh doanh có sự thay đổi bất thường giữa doanh thu tính thuế và
số thuế được hoàn trong giai đoạn mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định
hoàn thuế trở về trước;
b) Đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này, việc
kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong thời
hạn mười năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.
4. Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là
bốn mươi ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế
phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý
do không hoàn thuế.
5. Quá thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này, nếu việc chậm
ra quyết định hoàn thuế do lỗi của cơ quan quản lý thuế thì ngoài số tiền thuế
phải hoàn, cơ quan quản lý thuế còn phải trả tiền lãi theo quy định của Chính
phủ.”
19. Khoản 2 Điều 64 được sửa đổi, bổ sung như sau:


“2. Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ miễn
thuế, giảm thuế thì trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ
quan quản lý thuế có trách nhiệm ra quyết định miễn thuế, giảm thuế hoặc thông
báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý do không được miễn thuế, giảm thuế.”
20. Bổ sung khoản 3 vào Điều 65 như sau:
“3. Các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà cơ quan
quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật này và các khoản nợ tiền thuế,
tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế,

ký kết giữa Việt Nam và các nước liên quan đến lĩnh vực thuế, hải quan để sử
dụng trong công tác quản lý thuế.”
24. Điều 78 được sửa đổi như sau:
“Điều 78. Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
1. Các trường hợp kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế:
a) Các trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản 3 Điều 77 của
Luật này;
b) Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế
hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm
tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi
phạm pháp luật về thuế.
Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận
thuế thì Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục hải quan, Chi
cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan có thẩm quyền quyết định áp dụng
các biện pháp quy định tại Mục 4 Chương X của Luật này;
c) Các trường hợp xác định đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá rủi
ro về thuế qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế;
kiểm tra đối với trường hợp có phát sinh dấu hiệu vi phạm pháp luật và các
trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề kiểm tra do thủ trưởng cơ
quan quản lý thuế cấp trên quyết định. Đối với các trường hợp nêu tại điểm này,
cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế không quá một
lần trong một năm.
2. Quyết định kiểm tra thuế phải được gửi cho người nộp thuế trong thời
hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày ký. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được quyết định kiểm tra thuế mà người nộp thuế chứng minh được
số thuế đã khai là đúng hoặc nộp đủ số tiền thuế phải nộp thì cơ quan quản lý
thuế bãi bỏ quyết định kiểm tra thuế.
3. Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế được quy định như sau:
a) Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế;
b) Đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo

d) Thông báo hoá đơn không còn giá trị sử dụng;
đ) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật;
e) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định
hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;
g) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.”
“3. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này
thực hiện theo quy định tại các điều 97, 98, 98a, 99, 100, 101 và 102 của Luật
này và quy định khác của các văn bản pháp luật có liên quan. Trong trường hợp
người nộp thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản thì người có thẩm quyền ra
quyết định cưỡng chế quy định tại Điều 94 của Luật này quyết định việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để đảm bảo thu hồi nợ thuế kịp thời cho
ngân sách nhà nước.”
27. Bổ sung Điều 98a vào sau Điều 98 như sau:
“Điều 98a. Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá
trị sử dụng
1. Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử
dụng được thực hiện khi cơ quan quản lý thuế không áp dụng được hoặc đã áp
dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 93
của Luật này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt.


2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm thông báo cho đối
tượng bị cưỡng chế biết trong thời hạn ba ngày làm việc trước khi thông báo hóa
đơn không còn giá trị sử dụng.
3. Khi thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Điều này, cơ quan
quản lý thuế phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.”
28. Khoản 1 Điều 99 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên được áp dụng
khi cơ quan quản lý thuế không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp


“Điều 102. Cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và
hoạt động, giấy phép hành nghề
1. Biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép
hành nghề được thực hiện khi cơ quan quản lý thuế không áp dụng được hoặc đã
áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1
Điều 93 của Luật này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền
phạt.
2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thu hồi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt
động, giấy phép hành nghề.
3. Khi thực hiện biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều này, cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền phải thông báo công khai trên phương tiện
thông tin đại chúng.”
32. Điều 106 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 106. Xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế
1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn
gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời
hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và
tiền chậm nộp theo mức luỹ tiến 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối
với số ngày chậm nộp không quá chín mươi ngày; 0,07%/ngày tính trên số tiền
thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn chín mươi ngày.
2. Người nộp thuế khai sai dẫn đến làm thiếu số tiền phải nộp nếu tự giác
khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước khi cơ quan có
thẩm quyền phát hiện thì phải nộp tiền chậm nộp, nhưng không bị xử phạt vi
phạm thủ tục hành chính thuế, thiếu thuế, trốn thuế.
Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, nếu người nộp thuế khai bổ sung

thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng
không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 108 của Luật
này thì ngoài việc nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp theo quy định, người nộp
thuế còn bị xử phạt như sau:
a) Phạt 10% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn
cao hơn đối với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổ sung quá thời
hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai nhưng trước khi cơ quan hải
quan kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế theo quy định tại khoản 2
Điều 34 của Luật này;
b) Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn
cao hơn đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này.”
34. Khoản 6 và khoản 9 Điều 108 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“6. Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ
sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan;”
“9. Sử dụng hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét
miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi
mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.”
35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế
1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể
từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.


2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn,
thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế
không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số
tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười
năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Sinh Hùng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status