MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài nghiên cứu này lời đầu tiên nhóm chúng em xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến sự hướng dẫn tận tình của TS.Chu Thị Thu Hường. Cô đã giúp đỡ, tạo
động lực và theo sát chúng em trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu.
Nhóm chúng em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Khí TượngThủy Văn – Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã luôn ủng hộ, đưa
ra những góp ý bổ ích và tạo điểu kiện tốt nhất cho chúng em để hoàn thành bài nghiên
cứu.
Bên cạnh đó, không thể thiếu là lời cảm ơn đến các thầy cô phòng Khoa Học
Công Nghệ cùng với ban lãnh đạo trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường đã phát
động phong trào nghiên cứu khoa học tạo ra môi trường học tập, sáng tạo cho sinh
viên, giúp chúng em có thể phát huy được tinh thần tự học, tự nghiên cứu, tạo hứng
thú trong quá trình học tập.
Trong quá trình thực hiện, bài nghiên cứu của chúng em không tránh khỏi có
nhiều thiếu sót, vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các anh
chị để bài nghiên cứu có thể hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
1
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung
• Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của ENSO Modoki đến nhiệt độ và
lượng mưa ở Trung bộ và Tây Nguyên Việt Nam.
• Nhóm sinh viên thực hiện:
1) Phùng Thị Thùy Dung
2) Trần Thị Kim Dung
- Báo cáo tổng kết đề tài
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài
Những kết quả của đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo trong việc học tập, giảng
dạy và nghiên cứu khoa học ở Trường. Đây cũng là cơ sở trong việc xây dựng các bài
toán dự báo khí hậu trên các vùng Trung Bộ và Tây Nguyên.
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài
1. Phùng Thị Khim Dung, Trần Thị Kim Dung, Phạm Văn Đức, Nguyễn Khắc
Quân, Nguyễn Huy Anh (2015), Nghiên cứu ảnh hưởng cuả ENSO Modoki đến lượng
mưa trên khu vực ven biển Trung Bộ Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Nghiên cứu Khoa
học lần thứ 3, Trường Đại học Tài nguyên và Môi Trường Hà Nội, pp. 159-165,
1/2005.
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2015
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
Phùng Thị Thùy Dung
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài:
3
Tôi đồng ý cho nhóm sinh viên bảo vệ đề tài
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015
Xác nhận của trường đại học
Người hướng dẫn
TS. Chu Thị Thu Hường
Khoa: Khí tượng- Thủy văn và Tài nguyên
nước
Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích:
* Năm thứ 2:
Ngành học: Khí tượng học
Khoa: Khí tượng- Thủy văn và Tài nguyên nước
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích:
4
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2015
Xác nhận của trường đại học
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
(ký tên và đóng dấu)
thực hiện đề tài
Phùng Thị Thùy Dung
MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, không chỉ chịu ảnh hưởng bởi nhân tố bức xạ hay địa
khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương còn chịu tác động của một loại dị thường khác, đó
là hiện tượng ENSO Modoki.
ENSO Modoki (El Nino Modoki) là một hiện tượng xảy ra trong hệ thống đại
dương- khí quyển trên vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương. Nó là một dạng biến thể
từ El Nino- Dao động nam (El Nino - Southern Oscillation). Thông thường El Nino
được đặc trưng bởi sự nóng lên dị thường ở khu vực xích đạo miền đông Thái Bình
Dương và có xu hướng làm giảm số lượng bão ở Đại Tây Dương. Trong khi đó El
Nino Modoki có liên quan đến sự nóng lên dị thường ở khu vực xích đạo miền trung
Thái Bình Dương và có thể gây ra nhiều bão hơn thường lệ ở khu vực này. Điều đó đã
làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của khu vực chịu ảnh hưởng bởi loại
dị thường này.
Hiện tượng ENSO Modoki cũng xuất hiện trên khu vực nhiệt đới Thái Bình
Dương. Theo như dự báo của các nhà nghiên cứu về khí hậu trên thế giới, trong những
thập kỉ sắp tới, ENSO Modoki sẽ được nghiên cứu nhiều hơn và dần được thay thế
hiện tượng ENSO.
Có thể rằng, giữa ENSO và ENSO Modoki cũng có một mối quan hệ nào đó.
Hoạt động của ENSO Modoki có thể cũng đã làm ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu
trên các vùng khí hậu của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có
một công trình nghiên cứu nào về ENSO Modoki được công bố.
Trong khi đó, biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra có thể càng làm tăng những
biến đổi bất thường của thời tiết và khí hậu, đồng thời trạng thái cực đoan của khí
quyển và đại dương trên khu vực Thái Bình Dương cũng có thể sẽ gia tăng.
6
Vậy hoạt động của ENSO Modoki có làm ảnh hưởng đến nhiệt độ và lượng
mưa trên các vùng của Việt Nam hay không? Với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của
ENSO Modoki đến nhiệt độ và lượng mưa trên các vùng Trung Bộ và Tây Nguyên,
chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Nghiên cứu ảnh hưởng của ENSO
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ENSO
El Nino- Southern Oscillation
Hiện tượng El Nino- Dao động nam
EMI
El Nino Modoki
Chỉ số El Nino Modoki
SST
Sea Surface Temperature
Nhiệt độ mặt nước biển
SSTA
Sea Surface Temperature Anomaly
Dị thường nhiệt độ mặt nước biển
nước biển ở khu vực phía đông và trung tâm Thái Bình Dương thì hiện tượng El Nino
Modoki lại là đặc trưng bởi sự nóng lên dị thường nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực
trung tâm Thái Bình Dương và lạnh đi ở khu vực phía tây và đông Thái Bình Dương
(Hình 1). Tương tự, nhưng ngược lại với hiện tượng trên. Nếu La Nina là hiện tượng
lạnh đi dị thường ở khu vực phía đông Thái Bình Dương thì La Nina Modoki là sự
lạnh đi dị thường ở khu vực trung tâm Thái Bình Dương và nóng lên ở bờ đông và bờ
tây của Thái Bình Dương.
Hình 1. Đặc điểm hệ thống đại dương- khí quyển trong các pha của ENSO và ENSO
Modoki.
Nhiệt độ nước biển giảm theo độ sâu nên tại độ sâu khoảng vài trăm mét từ mặt
nước biển có một lớp nước chuyển tiếp giữa lớp nước bên trên nóng hơn với lớp nước
bên dưới lạnh hơn, được gọi là “nêm nhiệt”. Ở điều kiện bình thường, nêm
nhiệt ở bờ phía Tây sẽ sâu hơn bờ phía Đông do khu vực phía đông Thái Bình
Dương lạnh hơn và tín phong Đông Bắc Bắc Bán cầu cùng với tín phong Đông Nam
Nam Bán cầu đưa nước biển lạnh từ hai cực tới. Trong pha El Nino, gió tín phong
yếu, áp lực của gió Đông lên mặt biển giảm đi, kéo theo sự suy yếu của nước trồi và
dòng chảy hướng Tây, nước biển có nhiệt độ nóng hơn ở Tây Thái Bình Dương vận
chuyển về vùng trung tâm và Đông Thái Bình Dương, làm cho nước biển bề mặt ở
vùng này nóng lên dị thường. Kết quả làm chênh lệch nhiệt độ nước biển giữa vùng
phía Đông và phía Tây giảm đi, độ sâu của nêm nhiệt ở bờ phía Tây giảm đi, trong
10
khi ở bờ phía Đông tăng lên (Hình 1.1a). Khu vực biển phía đông Thái Bình Dương
nóng lên dị thường, nước trồi đại dương yếu, hình thành áp thấp, dòng thăng phát
triển tạo điều kiện hình thành đối lưu ở khu vực này. Còn trong pha La Nina thì
SSTA cao hơn bình thường thì ở phía đông và phía tây SSTA lại lạnh đi. Đặc điểm này
không giống với hiện tượng ENSO thông thường và nó vẫn tiếp tục tồn tại trong suốt
mùa đông. Dựa vào đặc điểm của hiện tượng ENSO và SSTA năm 2004, Ashok và cs
(2007) đã gọi hiện tượng bất thường đó là hiện tượng ENSO Modoki, các tác giả cũng
đã khẳng định rằng, ENSO và ENSO Modoki là hai hệ thống chính trong khu vực
nhiệt đới Thái Bình Dương. Hai hiện tượng này khác nhau cả về đặc điểm không gian
và thời gian, sự phân bố nhiệt độ mặt nước biển (SST) vùng vận chuyển ẩm lớn nhất
từ vùng nhiệt đới Thái Bình Dương đến vùng cận nhiệt đới và ngoại nhiệt đới [6].
Hơn nữa, Karumuri Ashok và cộng sự (2007) cũng chỉ ra rằng, ENSO Modoki
không phải là một phần phát triển của hiện tượng ENSO. Sự xuất hiện thường xuyên
và liên tục của hiện tượng ENSO Modoki trong những thập kỷ gần đây là do sự suy
yếu của đới gió Đông xích đạo gây ra các dị thường gradient nhiệt độ mặt nước biển
[6],[7].
Bên cạnh đó, khi phân tích tín hiệu của ENSO Modoki trong tầng bình lưu và
so sánh nó với ENSO, Zubiaurre và cộng sự (2012) chỉ ra rằng, dao động tựa 2 năm
(QBO – Quasi - Biennial Oscillation) cũng có tác động tới dị thường của đới gió trong
cả hai thời kì ENSO Modoki và ENSO [11].
Ngoài ra Weng và cs (2007) cũng đã nghiên cứu những tác động gần đây của
ENSO Modoki trong mùa hè giai đoạn từ năm 1979 – 2005 [10] bằng việc thông qua
dị thường hoàn lưu khí quyển mực 850hPa, 500hPa, 200hPa để đưa ra mối liên hệ
giữa điều kiện khô/ướt vào mùa hè ở khu vực Thái Bình Dương trong thời kì El Nino
Modoki.
Đến năm 2012, Wang đã phân loại El Nino Modoki thành hai nhóm I và II dựa
vào những tác động khác nhau đối với lượng mưa trên khu vực Nam Trung Quốc và
quỹ đạo của bão [9]. Hai nhóm El Nino Modoki I và II có nguồn gốc và hình thế của
SSTA khác nhau, nó cũng liên quan đến dị thường lượng mưa và hình thế hoàn lưu khí
quyển. SSTA tăng lên đầu tiên ở khu vực trung tâm Thái Bình Dương thuộc nhóm El
Nino Modoki I và SSTA tăng lên đầu tiên ở khu vực cận nhiệt đới Tây Bắc Thái Bình
nhiều tháng và tổng lượng mưa cả đợt giảm đi so với điều kiện bình thường khoảng
25-50%. Trong đó, các đợt gây ra giảm mưa rõ rệt nhất là El Nino 1976-1977, 1979,
1963-1964 và 1965-1966. Riêng đợt El Nino 1963-1964, mặc dù lượng mưa trong đa
số tháng bị thâm hụt, song lượng mưa cả đợt lại nhiều hơn chút ít so với mức bình
thường. Ngược lại, hầu hết các đợt La Nina gây ra lượng mưa vượt trung bình nhiều
năm ở các tỉnh ven biển Trung Bộ, nhưng gây ra thâm hụt lượng mưa ở Bắc Bộ, Tây
13
Nguyên và Đông Nam Bộ. Đợt La Nina 1998-2000 đem lại lượng mưa vượt trội rõ rệt
nhất. Riêng, đợt La Nina 1988-1989 gây ra thiếu lượng mưa nhiều nhất [1][2].
Cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa ENSO và lượng mưa song Phan Văn
Tân và Nguyễn Minh Trường (2001) lại sử dụng phương pháp phân tích phổ entropy
cực đại để khảo sát chu kỳ dao động của các chuỗi số liệu SOI, SST và lượng mưa ở
một số trạm khu vực miền Trung Việt Nam trong thời kỳ 1950-1996. Kết quả chỉ ra
rằng, cả ENSO và các chuỗi lượng mưa đều có cùng những chu kỳ dao động: cỡ 2,5
năm, 3,0-3,5 năm và 5,0-5,5 năm. Hơn nữa, trong thời kỳ El Nino, lượng mưa có dị
thường âm lớn, nhưng trong thời kỳ La Nina và không ENSO, dị thường của lượng
mưa mang dấu khá ngẫu nhiên [4]. Như vậy, có thể thấy, ảnh hưởng của hiện tượng
ENSO đến lượng mưa trên khu vực ven biển Trung Bộ là khá rõ ràng.
Tuy nhiên các nghiên cứu tác động của ENSO Modoki đến các yếu tố và hiện
tượng khí hậu còn rất hạn chế. Mới gần đây nhất theo nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh
Huệ (2014) bằng việc dựa vào kết quả tính toán sự chênh lệch của ngày bùng phát
gió mùa mùa hè trong các năm El Nino Modoki với các năm El Nino và các năm
trung tính cùng với kết quả phân tích thông lượng ẩm thẳng đứng theo phương ngang
đã chỉ ra rằng El Nino Modoki làm thay đổi ngày bùng phát gió mùa mùa hè trên hầu
hết khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ do sự chậm trễ trong việc rút lui sang phía đông
của áp cao cận nhiệt Thái Bình Dương [3].
Hà Tĩnh
Hương Khê
Kỳ Anh
105.100
105.783
104.467
105.683
105.900
105.700
106.267
20.367
19.750
19.267
18.667
18.350
18.183
18.100
1
2
3
4
5
Đà Nẵng
Trà My
Quảng Ngãi
Ba Tơ
13.967
13.250
12.667
Đ. cao (m) TT
Tên trạm
Vùng Bắc Trung Bộ (B4)
102.2
8
Tuyên Hóa
5.0
9
Đồng Hới
96.1
10
Đông Hà
5.1
11
Huế
2.8
12
A Lưới
17.0
13 Nam Đông
2.8
Vùng Nam Trung Bộ (N1)
4.7
6
Tuy Hòa
123.1
107.583
107.283
107.717
17.883
17.483
16.850
16.433
16.217
16.167
27.1
5.7
8.0
10.4
572.2
59.7
109.283
109.200
108.100
108.933
13.083
12.250
10.933
10.517
10.9
3.0
Modoki là EMI (Ashock 2007) và IEMI- Improved El Nino Modoki index ( Li và cs
2009)[7],[8]. Tuy nhiên cho đến nay hầu hết các nghiên cứu về ENSO Modoki đều chỉ
ra rằng chỉ số EMI cho kết quả xác định thời kì ENSO Modoki chính xác hơn[8]. Vì
vậy trong bài nghiên cứu này đã sử dụng chỉ số EMI để xác định các thời kì có ENSO
Modoki.
- Xác định các tháng xảy ra El Nino Modoki (ElM), La Nina Modoki (LaM) và
none ENSO Modoki thông qua chỉ số EMI (El Nino Modoki Index). Đây là chỉ số
được đưa ra bởi Karumuri Ashok và các cộng sự (2007) đã được xác định theo công
thức sau:
EMI= SSTAA - 0.5* SSTAB - 0.5* SSTAC
(1.1)
trong đó, SSTAA, SSTAB, SSTAC là dị thường nhiệt độ mặt nước biển trung bình trên
các vùng A, B và C.
16
Trong đó:
Khu vực A: 165E-140W, 10S-10N - là khu vực trung tâm Thái Bình Dương.
Khu vực B: 110W-70W, 15S-5N – là khu vực phía đông Thái Bình Dương.
Khu vực C: 125E-145E, 10S-20N – là khu vực phía tây Thái Bình Dương.
Khi đó, thời kỳ xảy ra
ENSO Modoki phải thỏa mãn
điều kiện sau trong ít nhất 5
tháng liên tiếp. Cụ thể, khi EMI
≥ 0,370C thì hiện tượng ElM sẽ
xảy ra. Ngược lại, khi EMI ≤
-0,370C thì hiện tượng LaM sẽ
số trung bình trượt 3
tháng của SSTA trên
vùng NINO 3.4
Hình 2. Các vùng NINO trên biển Thái Bình Dương
Nino 1.2: Vùng có tọa độ 0˚S, 80 – 90 ˚W.
Nino 3: Vùng có tọa độ 5 ˚S - 5˚N, 150˚W - 90˚W.
Nino 4: Vùng có tọa độ 5˚S - 5˚W, 160˚E - 150˚W.
Nino 3.4: Vùng có tọa độ 5˚S – 5˚N, 170˚W – 120˚ W.
2.2.3 Xác định ảnh hưởng của ENSO và ENSO Modoki đến nhiệt độ và lượng mưa
Ảnh hưởng của ENSO và ENSO Modoki đến nhiệt độ và lượng mưa được phân
tích dựa trên các gía trị trung bình, dị thường của nhiệt độ trung bình và tổng lượng
mưa tháng được tính trung bình trên từng vùng, trong từng tháng, từng thời kỳ.
18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong bài nghiên cứu sẽ xác định các đợt El Nino Modoki, La Nina Modoki và
El Nino, La Nina theo các chỉ tiêu xác định trình bày ở chương 2. Tác động của El
Nino Modoki, La Nina Modoki đến nhiệt độ và lượng mưa khu vực Trung Bộ và Tây
Nguyên Việt Nam khi các hiện tượng này xảy ra độc lập hay các thời kì xuất hiện
trùng nhau.
3.1 Xác định thời kì ENSO và ENSO Modoki
Hình 3. Chỉ số EMI và trung bình trượt 3 tháng SSTA vùng Nino 3.4 thời kỳ
1978-2007
Ta xác định được thời kì xuất hiện các đợt ENSO Modoki dựa vào chỉ số EMI ở
ngưỡng 0.370C và thời kì xuất hiện các đợt ENSO dựa vào chỉ số vùng Nino 3.4 ở
ngưỡng 0.50C dựa vào các công thức tính toán được trình bày ở chương 2.
Bảng 3. Các thời kì ENSO và ENSO Modoki
9/1995 – 3/1996
4/1994 – 6/1995
6/1997 – 5/2000
9/1994 – 3/1995
7/1998 – 2/2001
6/2002 – 10/2002
12/2000 – 4/2001
5/1997 – 4/1998
6/2004 – 11/2004
5/2002 – 2/2003
7/2004 – 1/2005
19
Hình 3.1 biểu diễn chuỗi giá trị EMI (đường màu xanh) và trung bình trượt 3
tháng SSTA vùng Nino 3.4 (đường màu đỏ) trong giai đoạn 1978-2007. Hình này chỉ
ra rằng, các pha của hai hiện tượng ENSO Modoki và ENSO có xu hướng đồng pha
với nhau, chính vì vậy trong một thời kì có khả năng xuất hiện đồng thời cả hai hiện
tượng.
Dựa vào phân tích chuỗi số liệu dị thường nhiệt độ mặt nước biển khu vực xích
3.2 Ảnh hưởng của ENSO Modoki đến lượng mưa
Để đánh giá được tác động của ENSO Modoki đến nhiệt độ hay lượng mưa ở
khu vực đang xét, ta so sánh nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa tháng trung bình
của những đợt xảy ra El Nino Modoki/ La Nina Modoki với nhiệt độ và tổng lượng
mưa tháng trung bình của đợt xảy ra đó trong 30 năm (từ năm 1978- 2007).
Trong bài nghiên cứu này, Trung Bộ Việt Nam được chia thành hai khu vực là
Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Dãy Bạch Mã được dùng để làm ranh giới ngăn cách
hai vùng khí hậu này, phía trước dãy này là Bắc Trung Bộ với 6 tỉnh: Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế; còn phía sau dãy Bạch
Mã bao gồm 8 tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận là các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ.
Như đã nói ở trên sự xuất hiện các pha của hiện tượng ENSO Modoki thường đi
kèm với một trong hai pha của hiện tượng ENSO, do đó khi tiến hành đánh giá tác
động của ENSO Modoki đến nhiệt độ và lượng mưa ở các khu vực Bắc Trung Bộ,
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên ta cần xem xét xu hướng ảnh hưởng của nó thay đổi
như thế nào qua các đợt? Thâm hụt/tăng cường lớn hơn/nhỏ hơn khi pha ENSO xảy ra
trước, pha ENSO Modoki xảy ra sau so với các đợt có pha ENSO Modoki xảy ra
trước, pha ENSO xảy ra sau. Điều này sẽ được thể hiện qua việc đánh giá tác động
theo từng pha của từng đợt xảy ra hiện tượng ENSO Modoki ở phần tiếp theo.
Từ bảng 2.1 đã đưa ra ở phần trên ta thấy trong giai đoạn từ 1978- 2007 có tất
cả 5 đợt ElM xảy ra; trong đó có duy nhất một đợt ElM xảy ra độc lập, 4 đợt ElM còn
lại xảy ra cùng với pha El của hiện tượng ENSO. Do đó ở bài nghiên cứu này, nhóm
nghiên cứu cũng sẽ tiến hành đánh giá ảnh hưởng của pha ElM khi pha này xảy ra độc
lập và khi chúng xảy ra có sự kết hợp của pha El Nino của ENSO.
3.2.1 Thời kì El Nino Modoki độc lập
Trong 4 đợt ElM xảy ra thì có duy nhất 1 đợt ElM xảy ra độc lập từ tháng
7/1990 đến tháng 6/1991, đây là đợt ElM kéo dài 11 tháng bắt đầu và kết thúc vào các
tháng mùa hè. Dựa vào việc đánh giá dị thường lượng mưa tháng tại các khu vực ta
thấy rằng:
xảy ra lớn nhất và thể hiện rõ nhất vào đúng các tháng mùa mưa ở các khu vực đó.
3.2.2 Thời kì pha El Nino Modoki xuất hiện đồng thời với pha El Nino
El Nino Modoki xuất hiện đồng thời với pha El Nino của Enso vào 4 đợt : Đợt
1 (8/1991 - 2/1992), đợt 2 (4/1994 - 3/1995), đợt 3 (6/2002 - 10/2002), đợt 4 (6/2004 –
11/2004). Xem xét dị thường lượng mưa theo từng ta nhận thấy sự tương đồng về dị
thường lượng mưa tại các khu vực:
Hình 3. Dị thường lượng mưa trong các
thời kì ElM tại các khu vực Bắc Trung Bộ
(a), Nam Trung Bộ (b) và Tây Nguyên (c)
23
Hình 3.3a chỉ ra cho ta thấy được mối quan hệ giữa dị thường lượng mưa của
các đợt xảy ra ElM trùng với pha El Nino của hiện tượng ENSO ở vùng Bắc Trung Bộ.
Nhìn chung khi hai pha ElM và El Nino trùng nhau lượng mưa có xu hướng bị thâm
hụt, lượng thâm hụt có sự chênh lệch rõ ràng khi ta so sánh các đợt có pha ElM xảy ra
trước pha El Nino của ENSO (đợt 2, đợt 4) với các đợt có pha El Nino của ENSO xảy
ra trước và kéo dài hơn pha ElM của hiện tượng ENSO Modoki (đợt 1, đợt 3).
a. Đối với các pha El xảy ra trước pha ElM
Qua phân tích số liệu của đợt 1 xảy ra từ tháng 8/1991 – 2/1992 và đợt 3 xảy ra
từ tháng 6/2002 – 10/2002, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu như ở đợt 1 là đợt mà pha
El Nino (6/1991-6/1992) kéo dài hơn pha ElM sáu tháng, trong đợt này mặc dù số
tháng có dị thường âm chỉ chiếm 2/7 tổng số tháng xuất hiện hiện tượng pha ElM
nhưng giá trị dị thường lượng mưa vẫn thể hiện xu hướng thâm hụt so với trung bình
30 năm với tổng dị thường lượng mưa âm là 33,9 mm. Theo bộ số liệu SSTA trong đợt
1, chúng tôi nhận thấy rằng trung bình pha El Nino của hiện tượng ENSO mạnh hơn
hẳn so với trung bình pha ElM của hiện tượng ENSO Modoki (giá trị trung bình của
lượng mưa ở khu vực Bắc Trung Bộ đều có xu hướng thâm hụt, tuy nhiên mức độ
thâm hụt nhiều hay ít lại phụ thuộc vào sự xuất hiện trước hay sau cũng như cường độ
các pha nóng của hai hiện tượng.
Hình 3.3b chỉ ra mối quan hệ giữa dị thường lượng mưa của các đợt xảy ra ElM
trùng với pha El của hiện tượng ENSO ở vùng NamTrung Bộ. Tương tự như đánh giá
dị thường lượng mưa ở vùng Bắc Trung Bộ, chúng tôi nhận thấy rằng, cả 4 đợt xảy ra
sự xuất hiện đồng thời của hai pha ElM và El Nino đều gây thâm hụt lượng mưa với
lượng khá lớn ở vùng Nam Trung Bộ. Trong đó, số tháng có dị thường âm lớn hơn hẳn
so với số tháng có dị thường dương. Đặc biệt, ở đợt 1 ( chiếm 6/7 tổng số tháng xuất
hiện hiện tượng này) và đợt 2 (ở chiếm 10/15 tổng số tháng xuất hiện hiện tượng). Khi
pha ElM xuất hiện trước và kéo dài hơn pha El (đợt 2 và đợt 4) lượng mưa có xu
hướng bị thâm hụt rất lớn đạt đến ngưỡng 441,5 mm (trong đợt 2) và 326,8 mm (trong
đợt 4). Giá trị này lớn hơn so với đợt 1 và đợt 3, khi mà lượng thâm hụt ở hai đợt này
lần lượt đạt ngưỡng 308,8 mm và 126,6 mm.
Như vậy sự xuất hiện đồng thời hai pha nóng của hai hiện tượng đã gây ra sự
thâm hụt lượng mưa lớn ở khu vực Nam Trung Bộ, giá trị này lớn hơn rất nhiều so với
giá trị dị thường lượng mưa tính toán được ở vùng Bắc Trung Bộ.
Hình 3.3c chỉ ra mối quan hệ giữa dị thường lượng mưa và dị thường nhiệt độ
của các đợt xảy ra ElM trùng với pha El của hiện tượng ENSO ở vùng Tây Nguyên.
25