Đề cương môn lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật hoàn chỉnh - Pdf 35

ĐỀ CƯƠNG MÔN LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Câu 1. Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy phân tích
bản chất và cấu trúc của quyền lực nhà nước.
Khái niệm bản chất của nhà nước có những đặc tính sau
Tính giai cấp của nhà nước
Khái niệm tính giai cấp: là sự tác động mang tính chất
quyết định của yếu tố giai cấp đến nhà nước quyết định những xu
hướng phát triển và đặc điểm cơ bản của nhà nước.
Biểu hiện tính giai cấp của nhà nước: thông qua việc
thực hiện các chức năng của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu,
nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra và qua các hình thức thực hiện
quyền lực kinh tế, chính trị, tư tưởng của nhà nước.
Nhà nước có tính giai cấp vì giai cấp là một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành nhà nước và nhà
nước cũng là công cụ quan trọng để trấn áp giai cấp.
Tính xã hội của Nhà nước:
Khái niệm: là sự tác động của những yếu tố xã hội bên
trong quyết định những đặc điểm và xu hướng phát triển cơ bản
của nhà nước.
Biểu hiện của tính xã hội: thộng qua việc thực hiện chức
năng của nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ của
nhà nước.
Nhà nước có tính xã hội bởi nhà nước ra đời nhằm đáp
ứng nhu cầu quản lý của xã hội và nhà nước cũng chính là một
trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội.
Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước
Là mối quan hệ giữa những mặt, những yếu tố thuộc bản
chất của nhà nước.
Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội thể hiện sự
mâu thuẫn và thống nhất giữa hai mặt của khái niệm bản chất nhà

công cộng đặc biệt, có bộ máy cưỡng chế để đảm bảo thực
thi quyền lực đó. Đây là thứ quyền lực chỉ riêng Nhà nước mới
có và nhờ thứ quyền lực này, cho phép Nhà nước thâu tóm quản
lý hầu hết các nguồn nhân lực, tài lực của một quốc gia.
Cùng với đó, quyền lực nhà nước luôn gắn với chủ quyền
quốc gia và trong điều kiện xã hội hiện đại, quyền lực này thuộc
về nhân dân và được thể hiện thông qua những định chế nhà nước
- pháp luật. Quyền lực nhà nước được biểu hiện cụ thể ở hệ thống
các cơ quan, tổ chức nhà nước, các quy định pháp luật và những

2


nguyên tắc vận hành của hệ thống đó tạo nên một cơ chế thực hiện
quyền lực nhà nước. Cơ chế đó được hình thành và phát triển cùng
với sự phát triển của văn minh nhân loại và được cụ thể hóa ở mỗi
quốc gia tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và chủ quan ở
mỗi thời kỳ phát triển.
Quan niệm về tổng thể cấu trúc quyền lực nhà nước, ngay từ
trước Công nguyên, các nhà tư tưởng lớn như Platon và Aristote
đã nhắc tới phân quyền, nhưng chỉ dừng lại ở quan niệm về một sự
phân công lao động và phân nhiệm trong bộ máy nhà nước. Cho
đến tận thế kỷ thứ XVI - thế kỷ thứ XVIII, J.Locke và S.L
Montesquieu đã phát triển các tư tưởng này thành học thuyết
"phân chia quyền lực”. Cùng với các ông, nhiều học giả tư sản
khác cũng quan tâm đến vấn đề này. Có quan niệm thì phân chia
quyền lực thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên
bang (J. Locke); có quan niệm thì phân chia quyền lực thành
quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp (S.L
Montesquieu, I. Cant). Nhưng dù sao cũng không ít quan niệm cho

Locke, thì ông ta chỉ thừa nhận hai quyền lập pháp và hành pháp,
đồng thời đề xuất về sự phân công quyền lực, nhưng không nêu
việc kiểm soát quyền lực. Chỉ đến Montesquieu, ngoài việc đề
xuất phân chia quyền lực nhà nước thành 3 quyền: Lập pháp, hành
pháp và tư pháp, thì ông cũng đề xuất thêm yêu cầu kiểm soát
quyền lực. Hơn nữa, không phải chỉ kiểm soát từ bên ngoài, mà là
ngay trong cơ cấu nội tại của hệ thống quyền lực nhà nước, như
một cơ thể sống với cơ chế tự động, tự phòng chống.

4


Câu 2. Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy làm rõ tổ
chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Về mặt lý luận
Ở nước ta, sau khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta mới có đủ những cơ sở và điều kiện khách quan để xây
dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà quyền lực
nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
được coi là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn
của Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản
lý xã hội nói chung. Từ chỗ cơ bản quan tâm đến các vấn đề bên
ngoài của tổ chức quyền lực nhà nước (như kiện toàn tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước…),
chúng ta đã coi trọng bản chất của Nhà nước. Đó là việc xác lập
nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi trọng tính pháp
quyền trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước. Từ nhận
thức đúng đắn về nguyên tắc này, chúng ta ngày càng ý thức được
đây là tinh hoa của khoa học tổ chức quyền lực nhà nước, quản lý

chất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Về mặt tư duy lý luận, có lẽ điểm khác
biệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với
các Nhà nước pháp quyền khác là ở cơ chế vận hành của Nhà
nước. Ở các nhà nước pháp quyền tư sản dù với các biến thể khác
nhau, thì cơ chế vận hành phổ biến vẫn là “tam quyền phân lập”.
Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ
quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo
đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, chính là dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước và pháp luật.
Về mặt thực tiễn
Điều kiện thực tiễn thay đổi, Đại hội XI của Đảng đã kế thừa
quan điểm của Đại hội X và bổ sung phát triển phù hợp với tình
hình mới: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
So với Đại hội X, việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà
nước ta theo quan điểm của Đại hội XI có hai điểm mới như sau:
Một là, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước trước đây
trong Văn kiện của Đảng thường sử dụng từ “dưới” nay thay bằng

6


từ “do” - “do sự lãnh đạo của Đảng”. Đây là một sự thay đổi nhận
thức quan trọng, khẳng định rằng, dù Đảng là hạt nhân của hệ

nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối

7


nội và đối ngoại, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Quốc hội.
- Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành
pháp, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc
hội.
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Quốc hội; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
- Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ
quan nhà nước cấp trên...
Sự phân công càng rõ ràng, cụ thể thì hiệu lực và hiệu quả
hoạt động của các cơ quan nhà nước càng được nâng cao. Vì
vậy, sự phân công quyền lực là cơ sở để thực hiện tốt nhất quyền
lực nhà nước thống nhất. Hơn nữa, với cơ cấu tổ chức quyền lực
như vậy, các cơ quan này thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn
nhau, loại bỏ có hiệu quả nguy cơ độc quyền hay lạm quyền và
nạn quan liêu hoá bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó là yêu cầu phải
có sự phối hợp của các cơ quan trong quá trình thực thi quyền
lực nhà nước mà nhân dân giao phó.

tưởng của toàn thể dân tộc.
Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện rõ
thông qua đặc điểm của nó.
Đặc điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam.
1. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.
- Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam đã tiến hành đấu tranh cách mạng trải qua nhiều gian
khổ đánh đuổi quân xâm lược, làm nên cuộc Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, tự mình thiết lập nên nhà nước của mình. Nhà
nước CHXHCN VN hiện nay là nhà nước do nhân dân mà nòng
cốt là liên minh công nông trí tự tổ chức thành, tự mình định đoạt
quyền lực nhà nước.
- Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà
nước thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức khác

9


nhau. Hình thức cơ bản nhất là thông qua bầu cử, lập ra các cơ
quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp 1992 quy
định:" nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí
và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách
nhiệm trước nhân dân".
Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền lực của mình dưới
hình thức trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản
lý xã hội, tham gia thảo luận Hiến pháp và pháp luật, trực tiếp thể
hiện ý chí của mình khi có trưng cầu dân ý. Nhân dân trực tiếp bầu
ra các đại biểu của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước
Trung ương và địa phương và có quyền bãi nhiệm các đại biểu đó

dân tộc, thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu
số.
3. Nhà nước CHXHCN VN được tổ chức và hoạt động trên cơ
sở nguyên tắc bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và
công dân.
- Trước đây trong điều kiện nhà nước cực quyền, mối quan hệ
nhà nước và công dân là mối quan hệ lệ thuộc. Nhà nước với tính
cách là bộ máy quan liêu luôn áp đặt, đè nén nhân dân. Người dân
bị lệ thuộc vào nhà nước, các quyền tự do, dân chủ bị hạn chế.
Quyền thì ít nhưng nghĩa vụ thì lại nhiều. Trước nhà nước, người
dân chỉ thấy bổn phận và nghĩa vụ mà không có quyền đòi hỏi.
- Ngày nay, khi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mối
quan hệ giữa bộ máy nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân
có đầy đủ các quyền tự do, dân chủ trên tất cả lĩnh vực của đời
sống xã hội. Đồng thời công dân cũng tự giác thực hiện mọi nghĩa
vụ trước nhà nước. Về phần mình, nhà nước XHCN cũng tôn
trọng các quyền tự do dân chủ của công dân, ghi nhận đảm bảo
cho các quyền tự do được thực hiện đầy đủ.
- Mối quan hệ nhà nước và công dân được xác lập trên cơ sở
tôn trọng lợi ích giữa các bên. Luật pháp không chỉ quy định địa vị
pháp lý của công dân mà còn buộc các cơ quan nhà nước phải tôn
trọng và đưa ra các đảm bảo thực tế cho các quyền ấy, tránh mọi
nguy cơ xâm hại từ phía các cơ quan nhà nước, các nhà chức
trách.

11


Câu 4. . Từ một ví dụ cụ thể, anh (chị) hãy phân tích các

bối cảnh lạm phát thế này, bán hàng rong tồn tại như một tất yếu
trong cuộc mưu sinh, cả người mua người bán sẵn sàng che dấu
cho nhau để cùng mua bán nên nó phải tồn tại thôi.

12


Thứ hai là lực lượng sản xuất (người bán hàng rong) họ tự
sản tự tiêu, những người khác (tiêu dùng) lại sẵn sàng chia sẻ ủng
hộ điều đó, ngay cả những người đuổi họ (quản lý) cũng không
làm nặng quá.
- Lựa chọn qui phạm pháp luật để áp dụng giải quyết vụ
việc và làm sáng tỏ nội dung của nó:
Trước hết, cần xác định qui phạm pháp luật của ngành luật
nào điều chỉnh vụ việc này, tiếp đến lựa chọn qui phạm pháp luật
cụ thể thích hợp với vụ việc. Khi đã chọn được qui phạm pháp luật
để giải quyết vụ việc phải kiểm tra tính hiệu lực và giá trị pháp lý
của nó. Sau đó phải làm sáng tỏ nôi dung của qui phạm được lựa
chọn. Tóm lại, giai đoạn này thể hiện ở các việc sau:
- Lựa chọn đúng qui phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho
việc giải quyết vụ việc;
- Xác định tính hiệu lực và giá trị pháp lý của nó;
- Xác định nguồn văn bản chứa đựng qui phạm đó;
- Nhận thức đúng đắn nội dung của qui phạm pháp luật được
lựa chọn.
Với quyết định 02 không có gì là mới chủ trương chỉ lặp lại
cao hơn những cái Hà Nội đã làm, ví dụ tuyến phố văn minh
thương mại; trật tự đô thị nhân rộng lại xoá đi chuyển các quận
huyện rồi lại quay trở lại; Hay nghị định 36 về trật tự hè phố cũng
làm mãi rồi; nên chủ trương này không có gì là mới.

giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật. Giai đoạn
này được tiến hành nhằm tạo ra những bảo đảm về mặt vật chất,
kỹ thuật, tổ chức cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp
luật đã được ban hành . Giai đoạn này bao gồm cả việc thực hiện
trên thực tế văn bản áp dụng pháp luật, việc kiểm tra, giám sát
việc thực hành quyết định áp dụng pháp luật.
Việc xây dựng PL và thực hiện PL đều là công tác rất quan
trọng của nhà nước, nhưng nó lại được quyết định bởi những điều
kiện chung về mọi mặt : kinh tế, chính trị, văn hóa của XH. Đối
với việc xây dựng PL trong các quan hệ XH, cần chú ý những
quan hệ ổn định và điển hình nhất, trong khi đó việc áp dụng PL
lại áp dụng cho các quan hệ cụ thể. Do đó, hoàn thiện hệ thống PL
là phải trên cơ sở hai mặt xây dựng PL và thực hiện PL, hai mặt
này có quan hệ khăng khít với nhau.
Trong quyết định 02 chọn thời điểm tổ chức thực hiện cũng
là không thích hợp vì Tết là thời điểm tất cả các loại hàng đều
bung ra - đấy là một phần bản sắc chợ Tết Hà Nội (chợ hoa, nơi
bán hoa di động, cây cảnh, quầy tết cơ động...)

14


Với những thiếu sót đã phân tích trong trường hợp quyết định
02 cấm hàng rong ở Hà nội việc áp dụng quyết định 02 rất khó
thành công và đi vào đời sông xã hội

15


Câu 5. Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy làm r õ cần

nhà nước, trong hoạt động của mỗi chủ thể, công dân. kể từ Đại
hội VI của Đảng đến nay, các nghị quyết của Đảng thường xuyên,

16


liên tục đề cập đến vấn đề này. Hiến pháp với tính chất là đạo luật
cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu trên của
Đảng, càng chứng tỏ pháp chế XHCN rất cần thiết, không thể
thiếu trong đời sống xã hội nước ta.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền có
mối liên hệ với pháp chế. Nhà nước pháp quyền khẳng định tính
tối cao của pháp luật, trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản, pháp
luật chi phối và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhà nước định ra
pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Đây là
đặc trưng cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền nói chung cũng
như Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nói riêng. Vì thế, nhất thiết
phải tăng cường pháp chế nhằm tạo ra những văn bản pháp luật có
chất lượng để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, phòng tránh
sự lạm quyền của cán bộ, cơ quan nhà nước...vấn đề tăng cường
pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi
trọng gíao dục nâng cao đạo đức trong xã hội là một quan điểm có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chỉ đạo xuyên suốt quá trình cải cách
và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN.
- Tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật.
Có nghĩa là: xây dựng nhà nước pháp quyền tất yếu phải xây dựng
bằng pháp luật. Không có một nhà nước pháp quyền nào lại từ
chối việc quản lý xã hội bằng pháp luật; Quản lý xã hội bằng pháp
luật là yêu cầu khách quan của một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, là phương pháp chủ yếu bảo đảm hiệu lực quản lý của nhà

pháp luật. Thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp
luật
Vậy tại sao trong bối cảng phát triển kinh tế thị trường phải
tăng cường pháp chế XHCN? Điều này có thể giải thích ở một số
khía cạnh sau:
- Nền kinh tế thị trường muốn phát triển thì phải có sự điều
chỉnh bằng pháp luật, pháp luật phải thực sự nghiêm minh, công
bằng, mọi chủ thể kinh tế phải triệt để thực hiện pháp luật.
- Trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN hiện nay, phải
gắn liền với việc xây dựng pháp chế.
- Hiện nay chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện nhà nước
pháp quyền, vì vậy tăng cường pháp chế sẽ tác động tích cực đến
công cuộc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách hành
chính nhà nước nói riêng, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước.
- Hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật, đặ biệt là tham
nhũng, diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chung,

18


vì vậy cần tăng cường pháp chế để ngăn chặn, loại trừ những hành
vi vi phạm pháp luật.
Như vậy tăng cường PCXHCN có ý nghĩa quan trọng trong
bối của nước ta hiện nay.

19


Câu 6. Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy làm rõ cơ

nghĩa vụ pháp lý trong thực tiễn đời sống.
- Các yếu tố của cơ chế điều chỉnh pháp luật:

20


+Yếu tố 1: ý thức cơ sở của cơ chế điều chỉnh pháp luật là
quy phạm pháp luật. Đây chính là sự mô hình hóa các hành vi xử
sự trong quan hệ xã hội.
+ Yếu tố 2: là các quyết định áp dụng pháp luật của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có tính cá biệt, cụ thể, nhằm đảm
bảo đưa các yêu cầu của quy phạm pháp luật vào cuộc sống; hoặc
bảo đảm sự xuất hiện các quan hệ pháp luật hoặc bảo đảm sự thực
hiện quyền và nghĩa vụ.
+ Yếu tố 3: là các quan hệ pháp luật. Trên cơ sở quy phạm
pháp luật và các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành theo
sáng kiến hoặc trên cơ sở xuất hiện các sự pháp lý khác, các quan
hệ pháp luật phát sinh với nội dung là các quyền và nghĩa chủ thể.
+ Yếu tố 4: là các hành vi thực tế của các chủ thể quan hệ
pháp luật thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Như vậy, trên cơ sở pháp lý của cơ chế điều chỉnh pháp luật là
quy phạm pháp luật. Chính các quy phạm pháp luât tạo nên mô
hình, khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể( cá nhân, tổ chức, cơ
quan).
Trong nhiều trường hợp quy phạm pháp luật không thể tự
thân đi vào cuộc sống nếu không có hoạt động áp dụng pháp luật
của cơ quan có thẩm quyền. Nếu cơ chế điều chỉnh pháp luật có
yếu tố quyết định áp dụng pháp luật: cơ chế điều chỉnh pháp luật
phức tạp. Cũng có trường hợp quy phạm pháp luật được thực hiện
1 cách trực tiếp bởi các chủ thể mà không cần trải qua giai đoạn áp

Những tiêu chuẩn đó là:
l. Tính toàn diện
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ỏ hai cấp độ:
ở cấp độ chung đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đủ các
ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong
hệ thông văn bản quy phạm pháp luật tương ứng .
Ớ cấp độ cụ thể đòi hỏi mỗi ngành luật phải có đủ chế
định pháp ỉuật và các quy phạm pháp luật.
2. Tính đồng bộ
Tính đồng bộ của hệ thông pháp luật thể hiện sự thống nhất
của nó.Tính đồng bộ cũng thể hiện ở hai cấp độ.
ở cấp độ chung đó là sự đồng bộ giữa các ngành luật với
nhau, phải xác định rõ ranh giới giữa các ngành luật tránh sự
chồng chéo.
ở cấp độ cụ thể, tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất, không
mâu thuẫn, không trùng lặp trong mỗi ngành luật, mỗi chế định
pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật với nhau.
3.
Tính phù hợp
Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan
giữa trình độ của hệ thông pháp luật với trình độ phát triển của
kinh tế - xã hội. Đồng thời phải chú ý và giải quyết tốt mốì quan
hệ giữa pháp luật với chính trị, đạo đức, tập quán, truyền thông và
các quy phạm xã hội khác.
các tiêu chí đánh giá luật trên giấy và các tiêu chí đánh giá
luật trong hành vi (còn gọi là thực hiện pháp luật). Các tiêu chí
đánh giá THPL bao gồm việc thực hiện pháp luật phải đạt được
các mục tiêu chính sách đề ra; chi phí thực hiện pháp luật phải hợp

23

chế tài phải đủ sức răn đe, chi phí về thời gian và tiền bạc. Nhưng
bất kể thế nào, “việc đo hiệu lực và hiệu quả THPL phải dựa trên
phân tích thực tế, chứ không thể chỉ căn cứ vào việc ban hành văn
bản hay những quy định trên giấy tờ”

24


Câu 8. Bằng lý luận và thực tiễn anh (chị) hãy lảm rõ
những điều kiện bảo đảm hiệu quả pháp luật ở Việt Nam hiện
nay.
Để bảo đảm hiệu quả pháp luật cần những điều kiện sau
1. Đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật
Để văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đạt được hiệu
quả mong muốn, cần phải coi trọng thực hiện một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần phải chú ý đến là tính hợp pháp, tính thống
nhất, tính hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật. Tính hợp
pháp, hợp lý và thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật
chỉ có thể được đảm bảo khi công tác xây dựng, soạn thảo các văn
bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Việt Nam cần
phải có một cơ quan lập pháp làm việc chuyên nghiệp hơn để có
thể cho ra những văn bản luật có hiệu quả. Bên cạnh đó, hệ thống
các văn bản lập quy cũng cần được nâng cao về mặt chất lượng.
Để làm được việc này, bên cạnh việc chú trọng công tác đào tạo
nguồn nhân lực, bộ phận pháp chế của các Bộ, ngành cần phải chủ
động phối hợp với nhau và có sự tham khảo ý kiến của đa số quần
chúng nhân dân trước khi ban hành một văn bản dưới luật cụ thể.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đảm bảo được
khả năng tiếp cận của quần chúng nhân dân. Để đảm bảo cho công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status