S.K
Chương V: Pháp luật điều chỉnh bảo lãnh ngân hàng
I. Khái niệm và đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng.
1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng:
Dưới góc độ kinh tế học, bảo lãnh ngân hàng thường được
quan niệm là một nghiệp vụ cấp tín dụng, bởi lẽ thông qua
nghiệp vụ bảo lãnh, TCTD có thể giúp khách hàng thỏa
mãn nhu cầu về vốn của mình trong kinh doanh hoặc trong
tiêu dùng.
Dưới góc độ pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là: (Ở Việt Nam,
theo khoản l2, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng)
Cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khá
ch hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh.
- Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã
được trả thay.
Phân tích định nghĩa: định nghĩa này đề cập tới
2 nội dung:
Một là, trong bảo lãnh ngân hàng, tồn tại cam kết bằng văn
bản giữa tổ chức tín dụng (người bảo lãnh) với bên có
quyền (người nhận bảo lãnh) về việc người bảo lãnh sẽ
thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho khách hàng (ng được
bảo lãnh khi người này k thực hiện hoặc thực hiện k đúng
nghĩa vụ đối với bên có quyền). Nội dung này thể hiện bản
chất pháp lý của bảo lãnh ngân hàng, chính là một biện
pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
Hai là, khách hàng phải nhận nợ với TCTD và có nghĩa vụ
hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay. Đây là một
trong những lý do mà ng ta cho rằng bảo lãnh ngân hàng
có tính chất như là 1 nghiệp vụ cấp tín dụng.
các TCTD như quy tắc về thủ tục bảo lãnh, phí bảo lãnh,
giới hạn bảo lãnh và các chế tài áp dụng đối với bên vi
phạm cam kết trong bảo lãnh ngân hàng…
Thứ 2, về chủ thể, Hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao giờ
cũng do loại chủ thể đặc biệt thực hiện là TCTD (trong đó
chủ yếu là ngân hàng thực hiện).
Vì: bẩn thân hoạt động bảo lãnh ngân hàng vốn dĩ
là loại kinh doanh có độ rủi ro cao, chỉ có các TCTD kinh
doanh ngân hàng chuyên nghiệp thì mới có đủ các điều
kiện về vốn, trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ và
kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường
∗ Thứ 3, trong bảo lãnh ngân hàng, TCTD
không chỉ có tư cách của người bảo lãnh mà còn có thêm
tư cách của nhà kinh doanh
∗ Thứ 4, giao dịch bảo lãnh ngân hàng, Có
mục đích và hệ quả tạo lập 2 hợp đồng, gồm hợp đồng bảo
lãnh và HĐ bảo lãnh/ cam kết bảo lãnh.
Hai hợp đồng này tuy có mối liên hệ nhân quả với
nhau, ảnh hưởng lẫn nhau nhưng lại hoàn toàn độc lập với
nhau cả về phương diện chủ thể cũng như phương diện về
quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể.
Mối quan hệ nhân – quả giữa hai hợp đồng này thể hiện ở
chỗ: việc ký kết hợp đồng dịch vụ bảo lãnh là nguyên
nhân, đồng thời là cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng bảo
lãnh và ngược lại, việc ký kết hợp đồng bảo lãnh là hệ quả
của hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, đồng thời là 1 phương thức
để thực hiện hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.
Tính độc lập giữa hai hợp đồng này thể hiện ở chỗ:
Hợp đồng này vô hiệu k thể đương nhiên làm cho hợp
đồng kia vô hiệu và ngược lại.
của 2 hành vi pháp lý khác nhau, dù rằng cả 2 hành vi này
đều do 1 chủ thế là TCTD thực hiện trên nguyên tắc tự
nguyện và bình đẳng.
∗ Thứ 6, theo thông lệ quốc tế,
BLNH là GD ko thể đơn phương hủy ngang bởi
những người đại diện có thẩm quyền của TCTD bảo lãnh.
Tính chất k thể hủy ngang của hợp đồng bảo lãnh được thể
hiện ở chỗ, sau khi cam kết bảo lãnh hay thư bảo lãnh đã
được phân phát hợp lệ bởi 1 TCTD, k 1 cơ quan nào (vd
như Chủ tịch hội đồng quản trị hay Tổng giam đốc hoặc
Giám đốc chi nhánh…) có thể lấy danh nghĩa đại diện cho
TCTD phát hành bảo lãnh để tuyên bố đơn phương hủy bỏ
cam kết bảo lãnh, trừ khi tuyên bố này được sự chấp nhận
của ng nhận bảo lãnh.
Ý nghĩa: ng tắc này đảm bảo cho ng nhận bảo
lãnh có thể được yên tâm đòi tiền TCTD bảo lãnh khi đến
hạn của nghĩa vụ được bảo lãnh mà ng được bảo lãnh k
thực hiện nghĩa vụ của họ, bằng cách xuất trình chứng cứ
về việc ng được bảo lãnh đã vi phạm nghĩa vụ đối với
mình.
Đặc điểm này chưa được phản ánh trong pháp
luật thực định VN về bảo lãnh nói chung và bảo lãnh ngân
hàng nói riêng, khiến cho chế định về bảo lãnh ngân hàng
trong pháp luật VN thiếu sự tương đồng với chế định về
bảo lãnh ngân hàng trong pháp luật các nước cũng như
pháp luật quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế.
∗ Thứ 7, BLNH là giao dịch được xác lập và
thực hiện dựa trên chứng từ:
- Tính chất chứng từ của bảo lãnh được thể hiện
ở chỗ:
hay k.
- ý nghĩa: là đảm bảo tương đối chắc chắn cho
ng có lợi ích của ng nhận bảo lãnh, đồng thời cũng là lợi
thế của bảo lãnh ngân hàng so với các hình thức bảo lãnh
khác k phải do TCTD thực hiện.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
1. Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân
hàng:
- Bên bảo lãnh
- Bên được bảo lãnh
- Bên nhận bảo lãnh.
Cấu trúc pháp lí của quan hệ pháp luật về bảo lãnh
của các tổ chức tín dụng có
thể được biểu diễn bằng mô hình sau đây:
(l): Hợp đồng dịch vụ bảo đảm giữa người bảo lãnh với
người được bảo lãnh (có trả tiền thù lao là phí bảo lãnh);
(2): Hợp đồng bảo lãnh giữa người bảo lãnh với người
nhận bảo lãnh,
(3): Trái vụ giữa người được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ)
với người nhận bảo lãnh (bên có quyền).
* Bên bảo lãnh
Theo điều 58, Luật các tổ chức tín
dụng, bên bảo lãnh tổ chức tín dụng có đủ những điều kiện
theo luật định, bao gồm:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh
- Ngân hàng thương mại cổ phần
- Ngân hàng liên doanh
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
- Ngân hàng đầu tư phát triển và một số tổ chức tín dụng
khác được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện
kiểm soát, Tổng GĐ, Phó TGĐ (Phó GĐ) của TCTD;
+ Cán bộ, nhân viên của TCTD đó thực
hiện thẩm định, quyết định bảo lãnh;
+ Bô, mẹ, vợ, chồng của thành viên HĐ
quản trị, ban Kiểm soát, Tổng Gđ, Phó TGĐ (Phó giám
đốc) của TCTD.
Nếu khách hàng đề nghị là bố, mẹ, vợ,
chồng, con của GĐ, phó TGĐ chi nhánh của TCTD thì
việc chấp nhận.
- Có các giâý tờ tài liệu chứng minh nghĩa vụ cần
được bảo lanh là hợp pháp;
- Có đủ uy tín đối với tổ chức tín dụng trên cơ sở
các tài sản đem cầm cố, thế chấp và tình hình tài chính
lành mạnh ở thời điểm xin bảo lãnh.
- Tuân thủ các qđ về quản lý ngoại
hối của VN, nếu khách hàng đề nghị bảo lãnh là tổ chức,
cá nhân nước ngoài.
Ngoài ra, còn qđ về giới hạn bảo lãnh đv khách hàng:
- Tổng số dư bảo lãnh của TCTD đv
1 khách hàng k được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD;
- Tổng số dư bảo lãnh của chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đv 1 khách hàng k được vượt quá
15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài
Số dư bảo lãnh này bao gồm tổng số dư bảo
lãnh và các cam kết phát hành theo hình thức tín dụng
chứng từ, ngoại trừ hình thức mở tín dụng trả ngay được
khách hàng ký quỹ đủ hoặc được cho vay 100% giá trị
thanh toán.
Sau khi xem xét các điều kiện trên đây, việc chấp nhận bảo
lãnh hay không là quyền của các tổ chức tín dụng.
được bảo đảm.
2. Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của các TCTD:
• Định nghĩa: là giới hạn của nghĩa
vụ tài sản mà bên bảo lãnh (TCTD) cam kết sẽ thực hiện
thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) đv bên có quyền.
• Các nghĩa vụ tài sản có thể được
bảo lãnh bởi TCTD:
- Ngvụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên
quan đến khoản vay;
- Ngvụ thanh toán tiền mua vật tư,
hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách
hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, phương
án sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ đs;
- Ngvụ thanh toán các khoản thuế,
các ngvụ tài chính khác đv nhà nước;
- Ngvụ của khách hàng khi tham gia
dự thầu;
- Ngvụ của khách hàng khi tham gia
quan hệ hợp đồng với bên nhận bảo lãnh, như thực hiện
hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả
tiền ứng trước.
- Các ngvụ khác do các bên thoả
thuận k vi phạm điều cấm PL.
Theo qđ của PL hiện hành, nếu tổng
giá trị các ngvụ bảo lãnh được thể hiện tr các cam kết bảo
lãnh của TCTD cho khách hàng (tổng số dư bảo lãnh) mà
vượt quá 15% vốn tự có của TCTD bảo lãnh thì TCTD bảo
lãnh phải y/c khách hàng đề nghị các TCTD khác cùng
đứng ra bảp lãnh:
+ Trog TH các TCTD đồng bảo lãnh
tổ chức tín dụng. Về nguyên tắc, văn bản bảo lãnh phải
thoả mãn các tiêu chuẩn về hình thức theo luật định như
tên gọi, chữ viết hay ngôn ngữ, chữ kí tay của các bên giao
kết
hợp đồng. Vì thế, loại văn bản này có thể được xem như
hình thức của hợp đồng bảo lãnh (hợp đồng được kí kết
giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền).
• Về phương diện nội dung, các bên
tham gia bảo lãnh Ngân hàng phải thoả thuận rõ các điều
khoản trong đơn xin bảo lãnh và văn bản bảo lãnh như
điều khoản xác định chủ thể kí kết hợp đồng; điều khoản
về đối tượng hợp đồng (bao gồm việc xác định nghĩa vụ
được bảo lãnh, mức phí bảo lãnh, phạm vi bảo lãnh); điều
khoản về thời gian bảo lãnh...
4. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo
lãnh ngân hàng.
Quyền và nghĩa vụ của TCTD bảo lãnh:
• Trong hợp đồng dvu bảo lãnh (HĐ
cấp bảo lãnh) với khách hàng sử dụng dvụ bảo lãnh, do
TCTD có tư cách là bên cung ứng dịch vụ bảo lãnh nen cơ
cấu quyền và nghĩa vụ của chủ thể này bg:
- quyền y/c khách hàng cc tài liệu,
thông tin về k/n tài chính và những tài liệu khác liên quan
đến nghĩa vụ bảo lãnh.
- quyền y/c khách hàng đề nghị bảo
lãnh phải có sự bảo đảm bằng tài sản cho nghĩa vụ hoàn trả
lại của họ đv mình.
- quyền y/c khách hàng đc bảo lãnh
thanh toán tiền phí dịch vụ bảo lãnh cho mình theo thoả
thuận tr hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, sau khi đã phát hành
hành thư bảo lãnh hoặc ký hợp đồng bảo lãnh với bên có
quyền vì quyền lợi của mình và được thực hiện ngvụ thay
mình với tư cách là ng bảo lãnh.
4.3 quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh.
Ng nhận bảo lãnh phải có nghĩa vụ c/m họ là chủ nợ của
khách hàng được bảo lãnh, do đó họ mới có thể thiết lập
được tư cách là chủ nợ đồng thời của TCTD bảo lãnh.
Chỉ với tư cách là chủ nợ của khách hàng được bảo lãnh,
đồng thời cũng là chủ nợ của TCTD bảo lãnh thì bên bảo
lãnh mới có quyền y/c TCTD bảo lãnh thực hiện ngvụ thay
cho ng được bảo lãnh khi ng này k thực hiện đúng ngvụ
của họ đv mình
3. Thủ tục bảo lãnh:
* Bước thứ nhất: Tổ chức, cá nhân xin bảo lănh
phải gửi đến Ngân hàng hay tổ chức tín dụng được mình
lựa chọn các tài liệu thuộc hồ sơ bảo lãnh, bao gồm:
- Đơn xin bảo lãnh;
- Các giấy tờ tài liệu chứng minh nghĩa vụ cần bảo lãnh,
- Danh mục tài sản đem cầm cố, thế chấp cho Ngân hàng
hay tổ chức tín dụng bảo lãnh.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xin
bảo lãnh, Ngân hàng (hay tổ chức tín dụng) có nghĩa vụ
phải thông báo cho doanh nghiệp biết ý kiến chấp thuận
hay từ chối bảo lãnh;
* Bước thứ hai: Nếu được tổ chức tín dụng chấp
thuận bảo lãnh, tổ chức hay cá nhân được bảo lãnh phải
làm thủ tục cầm cố, thế chấp tài sản cho người bảo lãnh để
làm bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả sau này trong trường
hợp tổ chức tín dụng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho họ;
* Bước thứ ba: Sau khi đã nhận được tài sản cầm cố
sinh nghĩa vụ được bảo lãnh chính là hợp đồng tín dụng.
Vì thế chỉ khi nào hợp đồng tín dụng đã phát sinh hiệu lực
pháp lý thì khi đó nghĩa vụ được bảo lãnh mới phát sinh và
sự bảo lãnh của ngân hàng mới có ý nghĩa thực tiễn.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
• Định nghĩa:
Là một hình thức bảo lãnh ngân hàng,
Theo đó, TCTD lập cam kết bảo lãnh với bên có quyền để
hứa sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản trong hợp đồng thay cho
khách là bên có nghĩa vụ,
Nếu đến hạn mà người này không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên có quyền.
Đối tượng của bảo lãnh thực hiện hợp đồng chính là các
nghĩa vụ tài sản của khách hàng (bên có nghĩa vụ) đối với
bên có quyền. Nghĩa vụ tài sản này phát sinh từ một hợp
đồng đã có hiệu lực được giao kết giữa bên có quyền (bên
nhận bảo lãnh) với khách hàng là bên có nghĩa vụ (bên
được bảo lãnh).
Bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của người mắc nợ đối với
người chủ nợ.
• Định nghĩa:
- Là một trong số các hình thức bảo lãnh ngân hàng
điển hình,
Theo đó TCTD lập cam kết bảo lãnh bên có quyền (bên
nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho
khách hàng (bên được bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ
thanh toán thay cho khách hàng (bên được bao lãnh) nếu
đến hạn mà người này không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ thanh toán của họ đối với bên có
quyền (bên nhận bảo lãnh).
Sẽ đảm bảo việc khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận
về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên
nhận bảo lãnh.
• Đặc điểm: Một là, đối tượng của bảo lãnh bảo
đảm chất lượng sản phẩm chính là nghĩa vụ thanh toán tiền
phạt và tiền bồi thường thiệt hại của khách hàng được bảo
lãnh đối với bên nhận hàng hóa do khách hàng đã vi phạm
điều khoản về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký.
Hai là, về chủ thể, khách hàng được bảo lãnh bao giờ cũng
là nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa và do người này mặc
nhiên có nghĩa vụ phải bảo đảm chất lượng cho sản phẩm
mình đã cung cấp cho khách hàng.
Bảo lãnh đối ứng
• Định nghĩa:
Là hình thức bảo lãnh ngân hàng,
Theo đó TCTD bảo lãnh đối ứng lập cam kết bảo lãnh đối
với bên bảo lãnh
Để hứa thực hiện thay khách hàng được bảo lãnh nghĩa vụ
tài chính của họ đối với bên bảo lãnh,
Nếu đến thời hạn mà người này không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên bảo lãnh.
• Đặc điểm:
Một là, đối tượng bảo lãnh đối ứng là nghĩa vụ tài sản của
khách hàng được bảo lãnh đối với TCTD bảo lãnh.
Hai là, về chủ thể tham gia bảo lãnh đối ứng, cả bên bảo
lãnh đối ứng và bên nhận bảo lãnh đối ứng đều là các
TCTD được phép hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Xác nhận bảo lãnh:
• Định nghĩa:
Là một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng,