pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại việt nam - Pdf 37

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
…………o0o………...

PHẠM VÂN AN

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
…………o0o………...

PHẠM VÂN AN

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. Ts Lê Vũ Nam

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016



Bộ luật tố tụng dân sự

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh.

NHNN

Ngân hàng nhà nƣớc


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................................. 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................................ 1
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ........................ 4
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .......................................................................... 4

1.1 Khái quát về hoạt động cho vay .............................................................. 4
1.1.1. Khái niệm ............................................................................................................. 4
1.1.2. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn........ 5
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với Ngân hàng. ............................................. 6
1.1.4 Sự khác biệt giữa hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại với quan hệ cho
vay thông thƣờng. .......................................................................................................... 7

1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM ......... 8
1.2.1. Các nguyên tắc pháp lý trong hoạt động cho vay ................................................ 8
1.2.2. Nội dung chủ yếu cần điều chỉnh bằng pháp luật trong hoạt động cho vay ở các

3.2.2 Những kiến nghị cụ thể ....................................................................................... 24
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. ............................................................................ 28


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam đang trên đà từng bƣớc hồi phục
sau khủng hoảng nợ xấu và nền kinh tế xuống dốc do sự ảnh hƣởng của kinh
tế thế giới. Trong đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế, là công cụ thúc đẩy các tổ chức tín dụng
thu hồi vốn nhàn rỗi và cho các chủ thể kinh tế vay vốn.. Các tổ chức tín dụng
càng đa dạng hóa các hình thức cho vay bao nhiêu thì càng tạo ra các điều
kiện cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng có thể dễ dàng tìm đƣợc
cho mình một hình thức phù hợp với khả năng kinh doanh của mình bấy
nhiêu.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển trên
nhiều lĩnh vực nên các giao dịch diễn ra hàng ngày hàng giờ đa dạng và phức
tạp hơn dẫn đến pháp luật khó mà điều chỉnh đƣợc toàn bộ các quan hệ phát
sinh trong hoạt động cho vay. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi
quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Muốn vậy, Chính phủ phải
thiết lập đƣợc hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo đƣợc hành lang an toàn
cho hệ thống ngân hàng. Cho nên, việc nghiên cứu những quy định của pháp
luật cũng nhƣ thực tế áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động cho
vay của các tổ chức tín dụng trên thế giới và cả Việt Nam là hết sức cần thiết.
Chính vì vậy mà tôi muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề này với đề tài: “ Pháp
luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các Ngân hàng thƣơng mại tại Việt
Nam”.

Dƣới cái nhìn tổng quan xác thực nhất về sự ảnh hƣởng và những tác
động của nó trong tình hình kinh tế hiện nay, đề tài đi sâu vào tìm hiểu đánh
giá thực trạng áp dụng những qui định của hoạt động cho vay của các NHTM
tại Việt Nam; đồng thời chỉ ra những bất cập, khiếm khuyết còn tồn tại để đƣa
ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay
của các NHTM tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu, tổng hợp các thông tin từ sách vở, báo chí, mạng
internet, các bài Luận văn, các Đề tài nghiên cứu khoa học,.. Ngoài ra, trong
quá trình nghiên cứu, tôi có sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: phƣơng pháp phân


3

tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, vận dụng vào thực tiễn,
suy diễn logic…
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Cho vay là một hiện tƣợng kinh tế khách quan, xuất hiện khi có hiện
tƣợng tạm thời thừa và tạm thời thiếu hụt vốn. Đây là hoạt động nhằm đƣa
nguồn vốn vào lƣu thông, dó đó nó đóng góp vai trò hết sức quan trọng và rủi
ro của nó có tác động xấu đến hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại và cả
nền kinh tế. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm hƣớng đến cho vay một
cách hiệu quả và đảm bảo an toàn theo các quy định pháp luật sẽ góp phần
hạn chế rủi ro một cách đáng kể và đảm bảo tính nghiêm túc, bảo vệ lợi ích
của các chủ thể trong quan hệ tín dụng với nhau đồng thời cũng góp phần
nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.
7. Nội dung của báo cáo:
Đề tài gồm có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó, phần nội dung đƣợc kết cấu thành ba chƣơng.
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay của các Ngân

đồng này đƣợc các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc tự do và thống
nhất về ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…
Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi 2 hành vi cơ bản là hành vi ứng
trƣớc và hành vi hoàn trả 1 số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại.

1

“Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam” - NXB Công An Hà Nội – 2009. Trang 127.
Theo quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ( Ban hành kèm theo
quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nƣớc.
2


5

Thứ tư, Việc cho vay dựa trên sự tín nhiệm giữa ngƣời cho vay đối với
ngƣời đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Ngoài những dấu hiệu chung trên, hoạt động cho vay của TCTD còn có
những tính đặc thù sau:
- Là hoạt động nghề nghiệp mang tính chức năng.
- Hoạt động cho vay của TCTD ko chỉ là 1 nghề kinh doanh mà hơn nữa
còn là 1 nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện.
- Ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hợp
đồng cho vay của TCTD còn chịu sự điều chỉnh của đạo luật về ngân
hàng, và các tập quán thƣơng mại về NH.
Nhƣ vậy, cho vay khác với các hình thức cấp tín dụng: chiết khấu, bảo
lãnh, cho thuê tài chính, … Cho vay theo quy định của pháp luật đƣợc hiểu là
một hình thức cấp tín dụng của các TCTD hiện nay và là một hoạt động mang
tính chất nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện của các TCTD.

cho ngân hàng.
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay đối với Ngân hàng.

Hoạt động cho vay đƣợc xem là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
trong hoạt động của các ngân hàng. Chính loại cho vay này giúp cho TCTD
giữ đƣợc khả năng thanh toán, vì nó thích ứng với kết cấu bên khoản mục bên
tài sản nợ.
- Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đầy
các hoạt động khác của Ngân hàng: hiện nay 80% doanh thu của các ngân
hàng thƣơng mại là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ
trọng lớn. Hoạt động này làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng tạo
điều kiện cho các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển theo.4
- Góp phần điều hòa cung - cầu dịch vụ hàng hóa, giúp chuyển dịch nền
kinh tế theo hƣớng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phục vụ việc phân phối lại
vốn giữa các ngành kinh tế khác nhau, góp phần vào việc bình quân hoá tỷ
suất lợi nhuận và góp phần tích tụ, tập trung vốn đối với nền kinh tế.
 Tín dụng làm cho quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, thu lợi
nhuận tối đa cho những nhà sản xuất lớn; thúc đẩy quá trình cạnh tranh tạo ra
sức bật cho nền kinh tế.
3

Kì hạn vay càng dài thì rủi ro càng cao và tính thanh khoản trở nên khó khăn hơn, do vậy
các ngân hàng luôn có xu hƣớng nâng lãi suất lên để bù đắp những khó khăn có thể xảy ra,
trong đó có cả việc bảo hiểm tín dụng.
4
Bài viết của tác giả Vũ Thu Hiền tại địa chỉ: http://voer.edu.vn/pdf/3493261a/1


7


1996, tr.523.


8

1.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1. Các nguyên tắc pháp lý trong hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay đƣợc các bên kí kết và thỏa thuận thông qua bằng
HĐTD do đó nó cũng có những nguyên tắc mà các bên phải công nhận và tôn
trọng, cụ thể:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức xã hội: Pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giao kết hợp đồng của
chủ thể và ghi nhận sự thỏa thuận đó vào trong hợp đồng. Xuất phát từ lợi ích
mà chủ thể mong muốn đƣợc thỏa mãn, các chủ thể có quyền giao kết HĐTD
với bất kì một TCTD nào có quyền cho vay vốn .
Theo nguyên tắc này, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có sự tự
do ý chí trong việc lựa chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ
thể giao kết, tự do lựa chọn các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giao
kết.Không một chủ thể nào đƣợc phép can thiệp trái pháp luật vào sự tự do
giao kết hợp đồng7 của các chủ thể tham gia HĐTD đó.
Nguyên tắc tự nguyện bình đẳng trong giao kết và thực hiện HĐTD:
Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết HĐTD, các bên hoàn toàn
tự nguyện, không bên nào đƣợc áp đặt, cấm đoán, cƣỡng ép, đe dọa, ngăn cản
bên nào. Mọi hành vi tác động làm ảnh hƣởng đến sự tự nguyện của chủ thể
có thể làm cho HĐTD mà các chủ thể giao kết bị vô hiệu. Khi tham gia giao
kết HĐTD, các bên đều bình đẳng, không đƣợc lấy lý do khác biệt về dân tộc,
giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngƣỡng, tôn giáo, trình độ
văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau. Trong một số
trƣờng hợp nhất định, nếu pháp luật có những quy định mang tính “cấm”,

doanh hay mục đích sử dụng vốn vay …. Ngoài ra còn phải đáp ứng những
điều kiện nhất định do chính ngân hàng đó quy định.
1.2.2.2. HĐTD - Hình thức pháp lý và tầm quan trọng.

Trong luật học, Hợp đồng đƣợc định nghĩa là sự thỏa thuận bằng lời nói
(hoặc văn bản) giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng
lực hành vi, nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Quan hệ tín dụng bản chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là
một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Từ khái niệm hợp đồng dân sự đƣợc
8

Dƣơng Anh Sơn (chủ nhiệm), Đánh giá quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, Đề tài
Nghiên cứu Khoa học cấp cơ sở, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 3


10

quy định theo điều 388 BLDS 2005, có thể hiểu: “HĐTD là sự thỏa thuận
bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ
những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng chuyển giao
một số tiền tệ cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện
có hoàn trả cả gốc và lãi”9 .
Hay “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay),
theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi,
dựa trên sự tín nhiệm”.10
Thực chất, HĐTD là quan hệ vay vốn giữa các chủ thể ký kết HĐTD,
đó là quan hệ phản ánh sự thống nhất ý chí đƣợc xác lập một cách tự nguyện,

thuê tài chính12 chứ không phải là hoạt động cho vay.
- Bên cho vay trong HĐTD luôn là TCTD gồm ngân hàng và TCTD
phi ngân hàng.
- HĐTD phải tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ
thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới
hạn vốn vay. TCTD không đƣợc cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị
cấm theo quy định của pháp luật, không đƣợc cho vay đối với các trƣờng hợp
bị cấm, bị hạn chế13.
- HĐTD luôn nhằm mục đích lợi nhuận và có nguy cơ rủi ro và bất trắc
cao. Tính rủi ro này xuất phát từ đặc thù của 2 bên chủ thể trong HĐTD.
Nhƣ vậy với tầm quan trọng của HĐTD trong quan hệ giữa các chủ thể
thì vai trò trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia vào
quan hệ này đƣợc các bên đặt lên hàng đầu. Đặc biệt các bên cũng cần chú
trọng đến phần nội dung của hợp đồng, các điều khoản ràng buộc trách nhiệm
hai bên để từ đó góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh thúc đẩy sự phát
triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi vay.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, HĐTD từ đây về sau đƣợc đề cập
đến là HĐTD giữa Tổ chức tín dụng là các NHTM và khách hàng vay vốn.
1.2.3 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tại
Việt Nam hiện nay.

Hệ thống pháp lý (legal system) hay còn gọi là khung pháp lý là một hệ
thống diễn giải và thực thi luật pháp. Các bộ luật, các quy tắc, quy định, tạo
12

Xem Khoản 4, điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và khoản 5 điều 3 Nghị định số
39/2014/NĐ-CP ngày 7/5/2014 về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài
chính.
13
Xem điều 126, 127 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

tế hiện nay dù cho đâu đó vẫn còn có nhiều lỗ hổng cần khắc phục và sửa đổi
để tạo ra một cái nhìn hoàn hảo nhất, xây dựng một khung pháp lý tốt nhất
nhằm đảm bảo thực thi pháp luật và giúp phát triển nền kinh tế Quốc gia.
14

Sau đây gọi là quy chế cho vay 1627


13

CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM.
2.1. Chủ thể tham gia quan hệ cho vay của NHTM

Quan hệ vay - cho vay là quan hệ đƣợc xác lập bởi đối tƣợng là các chủ
thể có mối quan hệ ràng buộc nhau bằng HĐTD trong lĩnh vực tín dụng. Khi
tham gia vào quan hệ này, các chủ thể đều mong muốn quyền và nghĩa vụ của
mình đƣợc pháp luật bảo vệ.
2.1.1. Bên cho vay

Bên cho vay trong quan hệ cho vay của ngân hàng thƣơng mại là
NHTM có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Một NHTM muốn trở
thành chủ thể cho vay trong quan hệ HĐTD phải thỏa mãn đầy đủ các điều
kiện1 sau:
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nƣớc cấp.
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
- Có ngƣời đại diện theo pháp luật đủ điều kiện, đủ thẩm quyền, năng
lực pháp luật và năng lực hành vi.
- Có điều lệ phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
- Có đề án thành lập, phƣơng án kinh doanh khả thi.

vào mục đích hợp pháp.
Ngoài những điều kiện bắt buộc trên, bên vay còn có thể phải thỏa mãn
những điều kiện riêng khác nữa mang tính bắt buộc do chính NHTM đó yêu
cầu trong từng HĐTD cụ thể nhƣ là những điều kiện có hiệu lực của HĐTD
căn cứ theo quy định hiện hành của pháp luật theo quy chế cho vay 1627 3.
Nhƣ vậy, việc pháp luật quy định các điều kiện đối với các chủ thể
trong quan hệ cho vay của NHTM, ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỉ cƣơng
còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm đảm bảo an toàn, phòng ngừa những rủi ro
tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
2.2. Hợp đồng tín dụng
2.2.1. Hình thức của HĐTD

Theo quy định tại điều 17 của Quy chế cho vay 1627/2001/QĐ-NHNN
thì mọi HĐTD đều phải đƣợc ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý.
Sở dĩ pháp luật quy định nhƣ vậy là vì những ƣu điểm sau:

3

Xem điều 7 của Quy chế cho vay 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001.


15

- HĐTD đƣợc kí kết bằng văn bản4 sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho
việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
- Việc ký kết HĐTD bằng văn bản thực chất là một sự công bố công
khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những ngƣời lập ƣớc để cho
ngƣời thứ ba biết rõ về việc lập ƣớc đó mà có những phƣơng cách xử sự hợp
lý, an toàn trong trƣờng hợp cần thiết.
- Việc ký kết HĐTD bằng văn bản có thể khiến cho các cơ quan có


16

- Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thỏa thuận điều khoản này, các
bên cần ghi rõ trong HĐTD những tiêu chuẩn cụ thể 8mà bên vay phải thỏa
mãn thì HĐTD mới có hiệu lực nhƣ bên vay phải có năng lực pháp luật, năng
lực hành vi, mục đích sử dụng vốn, khả năng tài chính để trả nợ,…..
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng: các bên phải thỏa thuận về số tiền
vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi HĐTD đáo hạn.
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: Các bên phải ghi rõ trong
hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, những trƣờng hợp gia hạn
hợp đồng hoặc điều chỉnh kì hạn trả nợ.
.
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là một điều
khoản rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho
vay. Vì thế, các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ đƣợc hoàn trả hàng
tháng (trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn.
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Trong điều khoản này, các
bên cần ghi rõ vốn vay sẽ đƣợc sử dụng vào mục đích gì (nhƣ để phục vụ tiêu
dùng hay để kinh doanh).
- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Đây là điều
khoản mang tính chất thƣờng lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biện
pháp giải quyết tranh chấp bằng con đƣờng thƣơng lƣợng, hòa giải hoặc lựa
chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình.
Ngoài ra, nếu HĐTD đƣợc giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản
nhƣ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản
riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành một
hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.
2.2.3. Thực hiện HĐTD.


đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản HĐTD. Theo quy định này việc
chuyển giao tiền vay (giải ngân) là nghĩa vụ của bên cho vay và nếu họ không
thực hiện đúng nghĩa vụ mà gây thiệt hại tính đƣợc bằng tiền cho bên vay thì
học sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng và chịu cả trách
nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.
2.2.4.2 HĐTD vô hiệu

HĐTD bị coi là vô hiệu khi không đáp ứng đƣợc các điều kiện đối với
HĐTD có hiệu lực bao gồm trƣờng hợp vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tƣơng
đối10.
9

Xem thêm điều 122 BLDS (sửa đổi) điều chỉnh không dùng từ “giao dịch dân sự” mà sử
dụng từ “hành vi pháp lý”


18

HĐTD vô hiệu tuyệt đối: là loại hợp đồng có nội dung xâm hại đến lợi
ích công cộng và bị coi là vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết. Các dạng thƣờng
gặp của loại HĐTD này là các hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của
pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội hoặc đƣợc giả tạo nhằm che dấu một
giao dịch khác. Về nguyên tắc, tất cả những ngƣời có quyền lợi liên quan đều
có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐTD vô hiệu.
HĐTD vô hiệu tương đối: là loại HĐTD có một vài điều khoản xâm
phạm đến lợi ích của cá nhân hoặc không có sự thống nhất ý chí của chủ thể
giao kết. HĐTD này bị coi là vô hiệu ngay từ khi ký kết nếu có yêu cầu của
bên đƣợc pháp luật bảo vệ và phán quyết của Tòa án.
2.2.5. Qui định về biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay.


thành từ vốn vay đƣợc hiểu là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản
đƣợc tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD. Tức là tài sản
này sẽ đƣợc hình thành trong tƣơng lai12, theo đó tài sản này thuộc sở hữu của
bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ đƣợc xác lập hoặc giao dịch bảo đảm
đƣợc giao kết.
2.2.6.Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.

Một HĐTD chỉ đƣợc coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về
phƣơng diện quyền lợi giữa các bên đã đƣợc thể hiện ra bên ngoài.Theo pháp
luật Việt Nam, tranh chấp này sẽ đƣợc giải quyết bằng những con đƣờng sau
đây:
- Tự thƣơng lƣợng giữa các bên tranh chấp: theo quy định của pháp
luật, trƣớc hết các bên có quyền tiến hành thƣơng lƣợng với nhau nhằm tiến
tới dung hòa lợi ích cho cả 2 bên.
- Hòa giải giữa các bên tranh chấp thông qua trung gian: giải pháp này
đƣợc các bên lựa chọn khi việc thƣơng lƣợng không đạt kết quả. Việc quy
định cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên và để tránh
cho các bên những khoản chi phí không cần thiết do phải kiện trƣớc Tòa.
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán: đây là giải pháp
cuối cùng để phân định quyền lợi giữa các bên. Tòa án theo thủ tục dân sự sẽ
có thẩm quyền giải quyết trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận điều khoản lựa
chọn trọng tài thƣơng mại khi có tranh chấp phát sinh.
12

Legal essay: “giao dịch bảo đảm có đối tƣợng là tài sản tƣơng lai” Ths. Bùi Đức Giang,
Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC
Ls. Đỗ Hồng Thái, “Tài sản hình thành trong tƣơng lai trong giao dịch bảo đảm” xem thêm
tại http://chotgia.vn/tin-2/tai-san-hinh-thanh-trong-tuong-lai-trong-giao-dich-bao-dam/chot-gia.html



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status