Đánh giá tình hình NCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Từ
đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật
Việt Nam về lĩnh vực này.
I- Đặt vấn đề
NCN là một quan hệ pháp lý rất phổ biến hiện nay. Quan hệ NCN
không chỉ pháp sinh trong phạm vi của một quốc gia mà còn vượt ra ngoài
phạm vi quốc tế. Chính bởi tính chất nhân đạo và tính chất xã hội của nó mà
quan hệ nuôi con nuôn luôn được hệ thống pháp luật của tất các quốc gia
quan tâm và giành những quy định khá rõ ràng và chi tiết về quan hệ này.
Trong bối cảnh đó, Pháp luật Việt Nam đã giành khá nhiều những quy
định cụ thể về vấn đề NCN nói chung và NCN có yếu tố nước ngoài nói
riêng. Trong số đó, không thể không kể đến những quy định của Luật Hôn
nhân gia đình năm 2000, Luật NCN năm 2010 và những văn bản pháp luật có
liên quan. Nghiên cứu vấn đề này, có thể nhận thấy tình hình NCN có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam có nhiều vấn đề đáng bàn.
II- Giải quyết vấn đề
1. Những vấn đề lý luận về NCN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Nuôi con nuôi là việc xác lập cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi
và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con
nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức
xã hội (Điều 67 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000).
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường
trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở
nước ngoài. (Khoản 3, Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010).
Như vậy, trong các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có liên
quan đến pháp luật của nhiều nước, trong đó ít nhất có pháp luật của cha mẹ
nuôi (Luật Quốc tịch hoặc Luật nơi thường trú của người nhận nuôi) và pháp
nhất cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em. Pháp luật Việt Nam
đã không ngừng hoàn thiện và đã xây dựng được một khung pháp lý trong
nhiều điều ước quốc tế (các Hiệp định tương trợ tư pháp, các Hiệp định về
nuôi con nuôi) và trong pháp luật trong nước mới nhất là Luật Nuôi con nuôi
năm 2010, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000...Đặc biệt, Luật NCN đã
giành cả chương III quy định về NCN có yếu tố nước ngoài.
Ngoài ra, để phù hợp với các quy định của Pháp luật Quốc tế, hiện nay,
Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Công ước La Haye 1993 về Hợp tác Quốc
tế trong lĩnh vực NCN. Có thể thấy đây là lĩnh vực rất phát triển trong các
quan hệ của tư pháp quốc tế Việt Nam thời kỳ hội nhập.
2. Tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
2.1. Tổng quan tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam
Từ những quy định của Pháp luật hiện hành của Pháp luật hiện hành về
vấn đề NCN nói chung và NCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng,
nhận thấy tình hình NCN ở nước ta có rất nhiều vấn đề đáng bàn.
Khi tìm hiểu về vấn đề NCN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, có thể
nhìn nhận vấn đề này theo các hướng sau: Người nước ngoài nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi; người Viêt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi và
người Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi mà một bên định cư ở
nước ngoài. Tuy nhiên, khi nhìn nhận những khía cạnh này của vấn đề, có thể
nhận thấy, thực tế hiện nay, quan hệ giữa người nước ngoài nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi diễn ra phổ biến và nhiều nhất.
2.1.1. Tình hình người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Việc người nước ngoài đến VIệt Nam xin trẻ em Việt Nam làm con
nuôi bắt đầu phát snh từ những năm 1980. Trong thời gian này, chưa có một
văn bản của Nhà nước quy định cho người nước ngoài xin trẻ em Việt Nam
làm con nuôi. Cơ sở pháp lý ban đầi để giải quyết việc cho người nước ngoài
xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã được các địa phương dựa vào Điều lệ
7 tháng đầu năm 2010 có 674 trường hợp trẻ em giải quyết làm con nuôi
người nước ngoài. Hiện nay, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được
Luật NCN 2010 quy định đầy đủ, chặt chẽ và chi tiết hơn về cho và nhận con
nuôi trong và ngoài nước, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho những người nước
ngoài muốn nhận con nuôi tại Việt Nam cũng như nhằm bảo vệ lợi ích tốt
nhất cho những trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi
thì có thể nhận thấy, số lượng trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận
làm con nuôi còn có thể tăng cao hơn nữa.
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
Số trẻ em được nhận làm con nuôi của người nước ngoài
1.229
1.127
1.392
807
550
1250
2006
2007
2008
Tháng 8-2009
68/NĐ-CP đối với vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài này.
Hiện nay, có thể nhận thấy, quốc gia nhận nhiều trẻ em Việt Nam làm
con nuôi nhất không thể không nhắc đến Hoa Kỳ. Chỉ tính từ năm 2005 đến
năm 2009, có tới 1.700 trẻ em Việt Nam có hoàn cảnh éo le được các gia đình
Mỹ nhận nuôi. Mỹ đã trở thành nước nhận nhiều con nuôi nhất từ Việt Nam.
Việt Nam đang tiến hành điều chỉnh cơ chế quản lý việc cho và nhận
con nuôi quốc tế, trong đó có việc chuẩn bị tham gia Công ước La Haye,
nhằm đảm bảo các chương trình hợp tác con nuôi giữa Việt Nam với quốc tế
chất lượng hơn2.
2.1.2. Tình hình người Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
Một thực tế về tình hình NCN có yếu tố nước ngoài hiện nay đó là tuy
vấn đề NCN có yếu tố nước ngoài bao gồm có việc Người nước ngoài nhận
trẻ em Việt Nam làm con nuôi, người Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm
con nuôi. Tuy nhiên, ở nước ta, thực tế đang tồn tại là quan hệ giữa người
nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là quan hệ chủ yếu và diễn ra
nhiều nhất. Trong khi đó, quan hệ người Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài
1
Nguồn: Selman P (2005): Các xu hướng về nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 1998 – 2003.
Xuân Linh, “Mỹ muốn hợp tác về vấn đề con nuôi với Việt Nam”,
, đăng ngày 13/02/2009.
2
làm con nuôi diễn ra không phổ biến và chưa có một số liệu thống kê nào cụ
thể. Sở dĩ có tình trạng này đó là do: Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một
đất nước đông dân – với trên 86 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân
số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống), trong đó, số lượng trẻ em ở
vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi
Việt Nam đang xúc tiến những hành động cần thiết để gia nhập Công
ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi
quốc tế. Đây là thời điểm thuận lợi để chúng ta thực hiện những hành động
tích cực và cần thiết để gia nhập Công ước, phù hợp với hành động của Quốc
tế về NCN.
Thứ hai, thủ tục giải quyết việc NCN có yếu tố nước ngoài ngày càng
được cải thiện. Theo nghị định 68/2002/NĐ-CP thì thủ tục giải quyết việc
NCN có yếu tố nước ngoài được cải tiến đáng kể so với nghị định 184/CP
trước đây. Trong đó thay vì thời gian giải quyết việc NCN có yếu tố nước
ngoài từ 6 tháng theo Nghị địnhh 184/CP thì nay chỉ còn 6 tháng, thời gian và
trách nhiệm giải quyết ở từng khâu cũng được quy định rõ ràng và cụ thể hơn.
Thứ ba, hoạt động hợp tác NCN quốc tế được mở rộng.
Kể từ khi được thành lập cho đến nay, Cục con nuôi quốc tế thuộc Bộ
Tư pháp đã thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp hoạt động với cơ
quan trung ương về nuôi con quốc tế của các nước đã ký kết, kịp thời giải
quyết những khó khăn, vướng mắc để cùng nhau triển khai thực hiện tốt các
quy định của hiệp định và xử lý các vụ việc liên quan đến NCN có yếu tố
nước ngoài.
Cùng với các Đại sứ quán, Lãnh sự quán thì Cục nuôi con nuôi quốc tế
của Việt nam thường xuyên trao đổi nghiệp vụ, thông tin về NCN như về hồ
sơ và các thủ tục cũng như trình tự liên quan đến việc giải quyết việc NCN.
Cùng tham gia các hội nghị liên quan đến vấn đề NCN quốc tế để có nhiều cơ
hội về trao đổi thông tin và mở rộng hợp tác.
2.2.2. Những hạn chế của việc thực hiện những quy định của Pháp luật
về NCN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Thứ nhất, một thực tế đang tồn tại hiện nay là tại một số các cơ sở nuôi
dưỡng trẻ em đã xảy ra tình trạng sai phạm nghiêm trọng. Sự sai phạm này đã
ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của trẻ em, đồng thời gây mất lòng tin
bất hợp pháp bên ngoài để đưa trẻ em từ các nơi khác về cơ sở nuôi dướng và
hợp thức hóa bằng hồ sơ trẻ em bị bỏ rơi để làm con nuôi người nước ngoài.
Sai phạm của các cơ sở nuôi dưỡng phần nào có liên hệ với sự thiếu minh
bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng các khoản nhân đạo của các tổ chức, cá
nhân nước ngoài.
Thứ hai, trình tự, thủ tục trong việc NCN có yếu tố nước ngoài còn
nhiều bất cập. Mặc dù có những cải thiện rõ rệt nhưng trình tự, thủ tục giải
quyết việc NCN còn bất cập, đặc biệt là thủ tục giới thiệu trẻ em làm con
nuôi. Hoạt động của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam chưa được
quản lý chặt chẽ. Do pháp luật có quy định khác nhau về quyền và nghĩa vụ
của tổ chức con nuôi nước ngoài, nhất là về nguyên tắc hoạt động nên các tổ
chức con nuôi nước ngoài đến Việt Nam hoạt động cũng với các phương thức
khác nhau, mặc dù tất cả các tổ chức chỉ hoạt động mang tính nhân đạo, phi
lợi nhuận tại Việt Nam theo giấy phép của Bộ Tư pháp.
Thứ ba, một thực tế hiện nay là vấn đề lạm dụng và sử dụng không
minh bạch nguồn viện trợ vào các trung tâm nhận nuôi dưỡng trẻ em là một
trong những vấn nạn. Các khoản viện trợ hiên nay phần lớn là những khoản
viện trợ của các tổ chức nước ngoài. Trong khi cả xã hội luôn cố gắng hướng
đến những lợi ích tốt nhất giành cho trẻ em thì việc một số cá nhân đã lạm
dụng nguồn hỗ trợ này để phục vụ lợi ích cá nhân. Từ đó, gây ảnh hưởng đến
niềm tin của xã hội.
3. Những giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của Pháp luật
về vấn đề này
Thứ nhất, cần phải nhanh chóng hoàn thiện hơn nữa những quy định
của Pháp luật về việc NCN nói chung và NCN có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình xúc tiến gia nhập Công ươc La
Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
Việc gia nhập Công ước sẽ mở ra một triển vọng mới trong việc bảo vệ quyền
những quy định thêm về thời gian thử thách của việc NCN và biện pháp xử lý
trong việc NCN bị hủy hay việc để trẻ em tiếp tục sống với cha mẹ nuôi
tương lai sẽ không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em khi đã tới nước nhận, điều
này hoàn toàn phù hợp với quy định của Công ước La Haye 1993. Pháp luật
Việt Nam cần có quy định về vấn đề này, đặc biệt là giải pháp hồi hương cho
trẻ như là giải pháp cuối cùng nếu như lợi ích của trẻ đòi hỏi như vậy.
Thứ tư, đối với những hành vi trục lợi cần phải chịu những hình thức
răn đe phù hợp. Cần phải có biện pháp chế tài đủ mạnh để thực sự làm cho
người vi phạm thấy được tác hại nếu như mình vi phạm. Như trước đây trong
Điều 32 Nghị định 76/2006/NĐ-CP ngày 2/8/2006 có quy định xử phạt hành
chính trong lĩnh vực tư pháp thì vi phạm của các cá nhân trong việc khai báo
gian dối để đăng ký việc cho và nhận con nuôi, tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch
hồ sơ, giấy tờ, lợi dụng giới thiệu trẻ em làm con nuôi nhằm thu lợi bất chính,
làm dịch vụ môi giới hoặc nhận con nuôi trái pháp luật… Song các quy định
này lại ít đi vào đời sống và không khả thi. Nếu mức phạt không đủ mạnh thì
sẽ không tạo được sức răn đe đối với những đối tượng có hành vi vi phạm. Vì
vậy, cần phải có những biện pháp dăn đe phù hợp để bảo đảm lợi ích của trẻ
em được nhận làm con nuôi cũng như lợi ích của người nhận trẻ em làm con
nuôi trong quan hệ NCN nói chung và quan hệ NCN quốc tế nói riêng.