259 Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế Quốc tế - Pdf 23

1
ĐỀ TÀI : GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ.
MỞ ĐẦU
Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết
phải đảm bảo đủ nhu cầu về vốn đầu tư. Đồng thời muốn có vốn đầu tư lớn và dài
hạn đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm trong nước cũng như tăng cường thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện để tăng tỷ lệ tiết
kiệm và từ đó tăng khả năng cung ứng vốn để đầu tư. Đây chính là mối quan hệ
nhân quả và là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội, mở rộng sản xuất kinh
doanh, tăng thu nhập quốc dân và cải thiện đời sống người dân.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế
thế giới đã có những bước phát triển nhẩy vọt. Đồng thời các công ty đa quốc gia
cũng phát triển rất mạnh, chủ trương của các công ty đa quốc gia là liên kết
chiếm vò thế độc quyền sản phẩm. Để thu được lợi nhuận cao nhất, các quốc gia
cũng như các công ty đa quốc gia đều muốn xâm nhập xác lập thò phần tại các
nước khác. Từ đó xu thế toàn cầu hoá là kết qủa tất yếu của quá trình phát triển
kinh tế. Toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối
liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước và các khu vực.
Tiến trình toàn cầu hoá kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của
thò trường thế giới. Sự gia tăng xu hướng này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ
và quy mô thương mại thế giới và sự luân chuyển của các dòng vốn, lao động
trên phạm vi toàn cầu.
Các công ty đa quốc gia để mở rộng kinh doanh quốc tế đều hướng vào
những yếu tố :
• Lý thuyết lợi thế cạnh tranh

2
• Lý thuyết thò trường không hoàn hảo
• Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm.

Đối tựơng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng là dòng vốn đầu tư nước ngoài quốc tế và dòng vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu : dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam từ khi
chúng ta bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu hiện tượng kinh tế về dòng vốn thu hút đầu tư nước ngoài
sử dụng phương pháp nhận thức khoa học. Phép biện chứng duy vật, học thuyết
về những mối liên hệ, những quy luật chung nhất của sự phát triển là cơ sở của
việc nghiên cứu khoa học. Phương pháp nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng cho việc nghiên cứu đề tài.
Những điểm mới của đề tài :
Đánh giá thực trạng dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và Việt
Nam, xu hướng vận động của dòng vốn này trong bối cảnh nền kinh tế cũng như
tình hình chính trò hiện nay trên thế giới và Việt nam có rất nhiều thay đổi, đề từ
đó đề ra những giải pháp thu hút nguồn vốn này cho phát triển nền bền vững nền
kinh tế của Việt Nam.
Nội dung kết cấu của đề tài :
Đề tài được chia thành 3 chương :
Chương 1 : Khái quát lý luận về đầu tư nước ngoài
Chương 2 : Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Chương 3 : Giải pháp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế. 4
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1 .1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ( Enterprise With one hundred
percent foreign owned capital ) là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chòu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh. Dưới hình thức này cũng có các dạng công ty : Công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty tư nhân…
Hợp đồng “ Xây dựng – kinh doanh – chuyển giao “ ( BOT ) là các văn bản mà
chính phủ chủ nhà ký với các nhà đầu tư bên ngoài để xây dựng, kinh doanh các
công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất đònh đủ để thu hồi vốn, lãi.
Khi hết hạn công trình sẽ được nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ
nhà mà không đòi bồi hoàn. Có nhiều loại hình tương tự như BOT như : “ Xây
dựng – chuyển giao – kinh doanh – ( BTO ), “ Xây dựng – chuyển giao “ ( BT ).
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp :
Thứ nhất, tỷ lệ vốn của các nhà ĐTNN trong vốn pháp đònh đạt mức độ tối
thiểu theo luật đầu tư của từng quốc gia quy đònh. Chẳng hạn tại Việt Nam quy
đònh chủ ĐTNN phải góp tối thiểu 30% vốn pháp đònh của dự án, ở Mỹ quy đònh
phải góp tối thiểu 10% vốn pháp đònh, còn một số nước khác là 20%.
Thứ hai, các chủ đầu tư trực tiếp quản lý, điều hành và chòu trách nhiệm
về các hoạt động của dự án phù hợp với số vốn mà họ đã bỏ ra. Việc phân chia
kết quả kinh doanh cho các bên tham gia dựa trên tỷ lệ góp vốn.

6
Thứ ba, đầu tư trực tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức :
Xây dựng mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của một cơ sở đang hoạt động, mua
cổ phiếu của các công ty cổ phần để thao túng hay sáp nhập.
1.1.2 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ( Foreign Indirect Investment -
FII )
Theo quan điểm vó mô : Nước chủ nhà nhận vốn từ nước ngoài vào dưới hình thức
vay vốn hoặc nhận viện trợ của một tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước
chủ nhà sử dụng vốn vay cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia
hoặc cho các DN trong nước vay lại vốn vay từ nước ngoài. Sau một khoảng thời

1.1.2.2.2 Cho vay thương mại
Cho vay thương mại là hình thức các nhà đầu tư ( các ngân hàng thương
mại, các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài … ), cho các đối tác ( có thể chính
phủ một nước, hay tư nhân ) vay một khoản tín dụng. Sau một thời gian nhất đònh,
chủ đầu tư sẽ được nhận lại khoản vốn của mình kèm một khoản thu nhập theo
lãi suất thò trường tài chính-tiền tệ thế giới.
1.1.2.2.3 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA )
Khái niệm ODA ( Official Development Assistance ) được ủy ban viện trợ
phát triển ( DAC- Development Assistance Committee ) của OECD chính thức đề
cập đến vào năm 1969; nhưng đến nay chưa có đònh nghóa hoàn chỉnh về ODA.
Tuy nhiên sự khác biệt giữa các đònh nghóa không nhiều, có thể thấy qua một số
ý kiến sau :
Theo ủy ban viện trợ phát triển : Viện trợ phát triển chính thức ODA là
nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay
với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn giành cho các nước đang
và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và

8
đòa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ,
các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của
một quốc gia, một đòa phương, một ngành, được các tổ chức quốc tế hay nước bạn
xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp đònh quốc tế được đại diện có
thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp đònh quốc tế hỗ trợ này
được chi phối bởi công pháp quốc tế.
Nghò đònh 87/CP của Chính phủ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 20/8/1997
đònh nghóa ODA ( theo chương trình phát triển của Liên hiệp quốc ) : ODA là
viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với
phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trò của khoản vốn vay.
Theo đònh nghóa của Nhật Bản : Một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ
3 yếu tố :

thế giới thống nhất, “ một sân chơi chung “ bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất kể
đó là nền kinh tế thuộc trình độ và xuất phát điểm như thế nào. Các nền kinh tế
của các quốc gia tự nguyện mở cửa nền kinh tế của quốc gia mình trên cơ sở các
lợi thế so sánh vốn có sẽ hội nhập hiệu quả vào thò trường khu vực và thế giới.
Tính bổ sung giữa các thò trường thông qua đầu tư đã khiến cho mục tiêu trực
tiếp của các công ty đa quốc gia là chiếm lónh thò trường đồng thời gia tăng lợi
nhuận cao nhất cho các cổ đông.
Đầu tư nước ngoài sẽ làm cho các quốc gia có chủ quyền không còn là chủ
thể duy nhất có vai trò chế đònh chính sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thời của
nhiều đònh chế khác có thể đảm nhận được vai trò này một cách có hiệu quả như
liên kết kinh tế, các đònh chế kinh tế quốc tế như WB, IMF, WTO và các công ty
đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ.

10
1.3. Những tác động của đầu tư nước ngoài
Vốn ĐTNN có tác động lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế các nước
nhận vốn đầu tư, đồng thời cũng tác động đến tăng trưởng và phát triển đến nền
kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế các nước phát triển sẽ tạo ra sự ổn đònh về kinh tế
cũng như làm tăng thu nhập của toàn xã hội, góp phần ổn đònh chính trò và càng
làm gia tăng tỷ lệ tiết kiệm để phục vụ cho đầu tư. Nhưng vốn ĐTNN cũng có thể
làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đến nền kinh tế các
nước trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu như đã sảy ra cuộc khủng khoảng
kinh tế Đông Nam Á năm 1997.
1.3.1 Lợi ích của đầu tư nước ngoài
1.3.1.1 Đối với chủ đầu tư nước ngoài
Tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy rất mạnh cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật, gia tăng quy mô hoạt động, đặc biệt là sự lớn mạnh hoạt động của các
công ty đa quốc gia. Chính sự tăng trưởng này đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền
kinh tế thế giới. Sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia sẽ mở rộng thò trường

xuất xứ từ các nước khác.
Số dự án đầu tư của bên viện trợ tăng lên, kéo theo sự gia tăng buôn bán
giữa hai quốc gia.
Ngoài những nguồn lợi về kinh tế, nước viện trợ còn đạt được những mục
đích về chính trò; chẳng hạn một số nhà tài trợ yêu cầu Việt Nam ngừng can thiệp

12
vào Campuchia mới tiếp tục công việc viện trợ ( Như Nhật, Pháp…) vào năm
1989.
Nhà thầu của bên cung cấp thường trúng thầu, giành được quyền trực tiếp
thực hiện dự án theo nội dung hỗ trợ vốn ODA mà chính phủ hai nước đã chấp
thuận, trúng thầu bởi những ràng buộc cho bên dự thầu khó có thể thực hiện
được. Do vậy nước viện trợ đương nhiên đã tiêu dùng một phần nguồn vốn viện
trợ để thực hiện dự án như : tiêu thụ thiết bò máy móc, nhân công, kể cả một số
loại vật liệu đặc chủng.
1.3.1.2 Đối với chủ nhà tiếp nhận vốn đầu tư
Tác động của đầu tư trực tiếp
Theo các chuyên gia kinh tế : yếu tố then chốt giúp cho nền kinh tế các nước
giữ được tốc độ tăng trưởng cao là vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù nguồn vốn
trong nước cũng là một nhân tố quan trọng tác động vào sự tăng trưởng đó.
• FDI bổ xung nguồn vốn trong nước và là động lực thúc đẩy quá trình luân
chuyển vốn ở nước sở tại, vì khi bỏ vốn đầu tư, chủ đầu tư luôn tìm kiếm giải
pháp tối ưu về công nghệ, về quản lý, tận dụng tài nguyên của nước sở tại, vì
vậy các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tiếp nhận vốn và công nghệ mới,
trình độ quản lý hiện đại của nước ngoài.
• FDI thúc đẩy quá trình sử dụng vốn nội đòa linh hoạt và hiệu quả hơn :
Thường khi đầu tư vào nước sở tại, nhà đầu tư nước ngoài thường chọn những
đòa điểm thuận lợi về cơ sở hạ tầng, chi phí về vật liệu, nhân công thấp, từ đó
kích thích nguồn vốn trong lónh vực này hoạt động có hiệu quả hơn.
• Hơn nữa khi tiếp nhận nguồn vốn FDI, nước chủ nhà phải tạo điều kiện

14
Nguồn vốn ODA mang lại nguồn lực cho đất nước thông qua những tác
động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở những nước chậm và
đang phát triển. Trước hết ở những nước nghèo, ODA đã thực sự trở thành một
nguồn vốn quan trọng đáp ứng những nhu cầu cấp bách về cân đối ngân sách và
cán cân xuất nhập khẩu. Tình trạng thiếu vốn đầu tư được ODA bù đắp để chính
phủ thực hiện những kế hoạch phát triển kinh tế. Vì vậy nó được coi như một
biện pháp giúp các nước nghèo tìm điểm cất cánh phù hợp với sự phát triển kinh
tế của nước đó trong thời kỳ quá độ.
Đối với người nghèo, thông qua chính phủ nước tiếp nhận, ODA sẽ là
những khoản tài trợ giúp cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói, ví vụ : những chương
trình viện trợ cho công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam do các nhà tài trợ
quốc tế thực hiện đã tham gia vào giúp Việt nam giảm tỷ lệ đói nghèo trong thời
gian vừa qua và được tổ chức Quốc tế đánh giá cao.
ODA còn là nguồn vốn quan trọng giúp các nước lâm vào tình trạng khủng
khoảng có thể phục hồi giá trò đồng nội tệ thông qua khoản hỗ trợ lớn của các tổ
chức tài chính quốc tế, như viện trợ khẩn cấp của IMF cho Mêxico 40tỷ USD đã
cứu nước này thoát khỏi khủng khoảng nghiêm trọng vào năm 1994. năm 1998
các tổ chức tài chính quốc tế cũng đã hỗ trợ giúp Thái Lan, Hàn Quốc vượt qua
khủng khoảng tài chính nặng nề.
Đối với những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, ODA giúp nước nhận viện
trợ có điều kiện tốt hơn để xây dựng những công trình đòi hỏi vốn lớn, mức sinh
lời thấp như đướng xá, cầu, cảng, sân bay…nhưng lại là những dự án mang lại lợi
ích kinh tế-xã hội lớn, tạo nền móng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho đầu tư
lâu dài, tạo ra sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế.

15
ODA giúp các nước nhận viện trợ nhập khẩu thiết bò từ các nước phát
triển, thông qua kỹ thuật viện trợ ODA, nước nhận viện trợ có cơ hội tiếp xúc, sử
dụng những thiết bò mới.

của toàn xã hội, các công ty nước ngoài sẽ chi phối hoạt động kinh tế sẽ ảnh
hưởng tới tính tự chủ của nước sở tại.
Tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, do các chủ đầu tư nước ngoài đều
muốn chạy đua giành thò phần, phô trương sức mạnh để thôn tính. Vì vậy với
những nền kinh tế chưa đủ mạnh, sản xuất trong nước rất dễ bò tổn thương và dễ
bò thôn tính, đầu tư trong nước sẽ sụt giảm.
Dễ rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán do các nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, chuyển ngoại tệ về nước
bằng ngoại tệ làm cho cán cân thanh toán bò ảnh hưởng. Do đó nhiều nước thu hút
FDI thường khuyến khích nhà đầu tư hướng vào xuất khẩu và tái đầu tư tại thò
trường nội đòa.
Những nước chậm phát triển dễ rơi vào tình trạng nhập khẩu thiết bò lạc
hậu do chưa đủ trình độ kiểm tra, thẩm đònh phần giá trò sử dụng còn lại của thiết
bò đó.
Những nước chậm và đang phát triển thiếu vốn đầu tư và công nghệ lạc
hậu sẽ bò lệ thuộc vào các nước lớn đầu tư.
Đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài :
Hình thức này có hạn chế khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì theo luật
đầu tư của các nước sở tại vốn đầu tư sẽ bò khống chế phần trăm.

17
Hiệu quả sử dụng vốn này thường không cao vì một mặt nước tiếp nhận
thường là những nước kém phát triển, thiếu kinh nghiệm và trình độ quản lý, sử
dụng vốn.
Vốn đầu tư dưới hình thức này dù có lãi suất thấp, nhưng thời gian vay dài
và vốn vay lớn nên càng tăng khả năng nợ của các nước được vay, dẫn đến khả
năng một số nước không có khả năng trả nợ.
Loại hình đầu tư này hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ và kinh
nghiệm quản lý từ chủ đầu tư nước ngoài do quá trình sử dụng vốn như thế nào là
của nước nhận đầu tư.

tăng giá mạnh so với đồng USD, mà nguyên tắc cho vay của Nhật là vay bằng
đồng Yên Nhật thì trả bằng đồng Yên, từ đó đã làm cho các nước vay nợ càng
thêm nặng nợ.
Nguồn vốn ODA mặc dù có ưu điểm giúp nước tiếp nhận khôi phục và
phát triển kinh tế, nhưng cũng có mặt tiêu cực là dễ tạo ra nạn tham nhũng trong
các quan chức chính phủ, hoặc phân hoá giầu nghèo trong các tầng lớp dân
chúng, nếu không có biện pháp kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng
nguồn vốn này ở nước sử dụng.
Ngay trong nước nhận viện trợ ODA, tình trạng tập trung ODA vào các
thành phố lớn, khu vực trọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh
tế -xã hội của quốc gia đó, làm cho hố ngăn cách giầu nghèo giữa thành thò và
nông thôn ngày càng trầm trọng.
1.3.2.2 Đối với các nước đầu tư :
Đối với đầu tư trực tiếp :

19
Ngoài những lợi ích do đầu tư trực tiếp nước ngoài là to lớn, cũng nẩy sinh
những thách thức do đầu tư này mang lại :
Đầu tư nước ngoài đặc biệt là đầu tư trực tiếp mà chủ yếu do các công ty đa
quốc gia thực hiện thường sử dụng hoạt động chuyển giá để thu lợi nhuận cao
nhất. Hoạt động chuyển giá thường sử dụng đó là :
• Bên nước ngoài nâng giá tài sản và công nghệ góp vào liên doanh nhằm
tăng tỷ lệ vốn góp.
• Hoặc các công ty đa quốc gia tính giá nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu từ
công ty mẹ vào nước được đầu tư giá cao hơn thực tế.
• Hoặc tính giá mua nhập khẩu hàng hoá-dòch vụ giữa các công ty trong
cùng một tập đoàn, hệ thống cao hơn thực tế.
• Tính giá bán sản phẩm xuất khẩu cho các công ty trong cùng một tập đoàn,
hệ thống thấp hơn giá thực tế. …
• Đặc biệt hoạt động chuyển giá thường xảy ra ở những tập đoàn có công ty

thu hút đầu tư nước ngoài giảm trong 3 năm đầu của thế kỷ mới, nhưng đã phục
hồi và tăng trở lại trong 2 năm 2004 và 2005. năm 2004 tăng 27% so với năm
2003 đạt 710,8 tỷ USD và năm 2005 tiếp tục tăng 29% so với năm 2004 lên đến
916,3 tỷ USD.
Trong tổng lượng vốn năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài chảy vào các nước
phát triển đạt 542 tỷ USD, trong khi các nước đang phát triển đạt 334 tỷ USD,
đây là con số thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất từ trước đến nay. Các nước phát
triển chiếm 59,2% thu hút đầu tư nước ngoài toàn cầu, tỷ lệ này của các nước
đang phát triển là 36,5% và của các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi là
4,3%. Anh là nước phát triển thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất : 165 tỷ USD,

21
tiếp theo là Mỹ. Trong các nước đang phát triển, Trung Quốc đứng đầu đạt 72 tỷ
USD, tiếp theo là Hồng Kông ( Trung Quốc ), Singgapore, Mexico và Brazil.
Đầu tư ra nước ngoài năm 2005 là 779 tỷ USD. Các nước phát triển vẫn là
nguồn chủ yếu đầu tư ra nước ngoài. Hà Lan đầu tư ra nước ngoài lớn nhất 119 tỷ
USD, tiếp theo là Anh và Pháp. Các nước đang phát triển đẩy mạnh đầu tư ra
nước ngoài. Nếu như đầu những năm 80 của thế kỷ trước đầu tư ra nước ngoài
của các nước đang phát triển không đáng kể, thì năm 2005 đã đạt 133 tỷ USD
chiếm 17% tổng vốn toàn cầu. Hồng Kông ( Trung Quốc ) đầu tư ra nước ngoài
33 tỷ USD, lớn nhất trong các nền kinh tế đang phát triển.
Hoạt động sáp nhập và mua lại sôi động và đầu tư vào dòch vụ tăng nhanh.
Hoạt động sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia năm 2005 tiếp tục sôi động đạt
716 tỷ USD, tăng 88% so với năm 2004, số lượng các giao dòch là 6.134 giao
dòch, tăng 20% so với năm 2004, trong số này có 141 giao dòch lớn với tổng số
vốn 454 tỷ USD, chiếm 63% tổng vốn toàn cầu.
Dòch vụ là lónh vực thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất, tập trung vào tài
chính, viễn thông và bất động sản. Nếu như tỷ trọng dòch vụ trong những năm
1989-1991 chiếm 54% thì đến những năm gần đây đã tăng lên gần 70% tổng số
vốn thu hút đầu tư nước ngoài toàn cầu. Thu hút đầu tư nước ngoài giảm mạnh

đó 164 thuận lợi hơn và 41 khó khăn hơn. Các thoả thuận quốc tế cũng tiếp tục
tăng.
Khu vực EU và Mỹ, các siêu tập đoàn thực hiện việc mua lại tăng lên,
nhằm độc chiếm thò trường. Đầu năm 2006, hãng quản lý tầu biển và cảng DP
Word ( Tiểu vương quốc Arập thống nhất ) đã mua P&O của Anh. Theo đó một

23
số cảng của Mỹ bò vụ mua bán này kiểm soát, dẫn đến việc Mỹ phản đối do ảnh
hûng đến an ninh. Một số quy đònh điều tiết về hạn chế sự cạnh tranh đầu tư
nước ngoài hoặc tăng sự can thiệp của chính phủ trong một số lónh vực công
nghiệp nhằm bảo hộ nền kinh tế. Các hạn chế này chủ yếu trong một số lónh vực
đầu tư chiến lược như dầu khí và kết cấu hạ tầng. Thí dụ, các hãng dầu lửa Mỹ
La Tinh bò ảnh hưởng qua sự kiện Chính phủ Bolovia quốc hữu hoá ngành công
nghiệp này tháng 5/2006.
Trong các nước phát triển, Đông Á và Đông Nam Á tiếp tục là sự lựa chọn
ưa chuộng của các nhà đầu tư nước ngoài. Thu hút đầu tư vào Nam á, Đông Á và
Đông Nam Á năm 2005 đạt 165 tỷ USD bằng 18% dòng chảy đầu tư thế giới. Hai
phần ba số này chảy vào Trung Quốc ( 72 tỷ USD ) và Hồng Kông ( 36 tỷ USD ).
Khu vực Đông Nam Á thu hút được 37 tỷ USD, dẫn đầu là Singapore ( 20 tỷ USD
), tiếp đến là Indonesia ( 5 tỷ USD ) và Malaysia và Thái lan cùng đạt gần 4 tỷ
USD.
Hơn một nửa dòng chảy vốn đầu tư trong khu vực Nam Á, Đông Á và
Đông Nam Á có được chỉ từ các nước đang phát triển, tập trung chủ yếu trong khu
vực. Tỷ trọng vốn đầu tư từ các nước đang phát triển tăng đáng kể trong thập kỷ
qua từ 44% năm 1995 đến năm 2004 lên 65%, tỷ lệ của các nước phát triển giảm
tương ứng.
Thu hút đầu tư nước ngoài đã tăng rất nhanh vào một số nước trở thành
thành viên mới của WTO. Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc năm 2005 đạt 72 tỷ
USD, năm 2005 tăng hơn một nửa so với năm 2001 khi Trung Quốc gia nhập
WTO. Đặc biệt, nhờ tác động là thành viên WTO, năm 2005 Campuchia đã thu


25
với các nước trong khu vực như Singapore thứ 1/23, Thái Lan 3/23, Malaysia
4/23.
Theo đánh giá của UNCTAD về chỉ số tiềm năng thu hút FDI, giai đoạn
2000-2002 Việt Nam được xếp hạng 67/140 quốc gia, giai đoạn 2001-2003 là
68/140 quốc gia, gia đoạn 2002-2004 là 74/141 quốc gia; về chỉ số thực hiện thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2002 Việt Nam được xếp hạng
51/140 quốc gia, giai đoạn 2002-2004 là 50/140 quốc gia, giai đoạn 2003-2005 là
53/141 quốc gia.
Để thu hút vốn ĐTNN các nước đều có chính sách ưu tiên phát triển kết
cấu hạ tầng. Hạ tầng kỹ thuật chi phối quyết đònh đầu tư của DN. Đầu tư cơ sở hạ
tầng xã hội, cải tiện đời sống, tăng sức hấp dẫn đối với người lao động, nhất là
lao động có trình độ tay nghề cao.
Các chính sách về giá cước cần áp dụng theo vùng để giảm chi phí, tạo lợi
thế cạnh tranh. Các giải pháp hỗ trợ tài chính khác dành cho DN như hỗ trợ đầu
tư, cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản hỗ trợ về lãi, bảo lãnh, thế chấp, giảm
giá thuê đất …
Các nước có chính sách hỗ trợ thông tin và tư vấn nhanh chóng kòp thời, chính xác
về cơ hội đầu tư, thủ tục thuận lợi, nhanh chóng.
Phi tập trung hoá đô thò và khu cụm công nghiệp, giảm sức hút đồng thời là
cũng giảm áp lực vào các cực tăng trưởng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status