ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
ĐẶNG QUỐC VINH
KHẮC PHỤC BIỂU HIỆN SUY THOÁI
VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MỘT BỘ PHẬN
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Chính trị học
Hà Nội – 2013
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------
ĐẶNG QUỐC VINH
KHẮC PHỤC BIỂU HIỆN SUY THOÁI
VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MỘT BỘ PHẬN
CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Hà Tĩnh ........................................................................................................... 23
2.2. Một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán
bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh hiện nay ................................................................... 26
2.3. Nguyên nhân của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ
phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh .................................................................. 39
Chương 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BIỂU HIỆN SUY THOÁI TƯ
TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở
HÀ TĨNH HIỆN NAY .................................................................................. 48
3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ
cán bộ, đảng viên ............................................................................................ 48
3.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng; nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, đảng viên ............................................................................... 55
3.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật của Đảng . 60
3.4. Đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường công tác quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực .............................................................................................. 64
3.5. Tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho nhân dân .............................................................. 66
3.6. Kiên quyết đấu tranh, thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tệ
quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm .................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 77
iv
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, việc làm thường xuyên
nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
vào chủ nghĩa Mác - Lê nin; thiếu tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự
quản lý của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị; hoài nghi vào
mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như mục tiêu phát triển của Hà
Tĩnh; thiếu ý chí chiến đấu, ngại va chạm; chưa thực hiện đúng nguyên tắc tổ
chức sinh hoạt Đảng; chưa đấu tranh mạnh mẽ trước những luận điệu sai trái,
lệch lạc của những phần tử cơ hội và các thế lực thù địch.
Những biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị nói trên diễn ra
trong những thời điểm khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau, có khi phức tạp,
gây mất đoàn kết nội bộ ở một số cơ quan, đơn vị, là cơ hội để các phần tử
xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Vì vậy, cần phải có sự nhìn nhận khách
quan, bình tĩnh, đề ra giải pháp khắc phục có hiệu quả, nhằm không ngừng
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Xuất phát từ tình hình trên, tôi chọn đề tài: “Khắc phục biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh
hiện nay” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề đặt ra của luận văn, đã có nhiều công trình khoa
học nghiên cứu tình hình tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên ở phạm vi
khác nhau. Những vấn đề này chủ yếu được đề cập nhiều trong các văn kiện
của Đảng, các giáo trình đạo đức công dân dùng trong hệ thống giáo dục quốc
dân và một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí như:
Nhận diện đúng tính chất, mức độ của sự suy thoái để kết hợp tốt giữa
“xây” và “chống” của Nguyễn Hữu Chính (Báo Quân đội Nhân dân, ngày
8/5/2012) nêu lên một trong những nguy cơ lớn nhất của đảng cầm quyền là
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên,
2
nhất là cán bộ có chức, có quyền. Đặc biệt, tác giả đã có những nhận diện về
Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái tư
tưởng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên (2011) do Vũ Văn Phúc và
Ngô Văn Thạo (đồng chủ biên). Công trình đã tập trung phân tích cơ sở lý
luận của việc chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán
bộ, đảng viên; nêu kinh nghiệm của Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, Hàn
Quốc, Sinhgapo và Cu Ba trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đánh giá thực trạng suy thoái và phòng
chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên
hiện nay; nêu mục tiêu, quan điểm, giải pháp, điều kiện thực hiện có hiệu quả
nhiệm vụ phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong
cán bộ, đảng viên hiện nay.
Đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống
của Bùi Thanh Sơn cho rằng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một việc làm rất khó khăn. Vì vậy cần
phải nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về những vấn đề cấp bách
trong công tác xây dựng Đảng, lựa chọn phương pháp thực hiện, xây dựng
chương trình, kế hoạch thực hiện, kết hợp xây và chống, dựa vào quần chúng
nhân dân, cấp trên gương mẫu để cấp dưới noi theo... Đồng thời phải thường
xuyên nâng cao cảnh giác với những âm mưu chống phá của các thế lực thù
địch nhằm kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ.
Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” và phòng,
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của Nguyễn Xuân Thành phân tích âm
mưu và hoạt động của chiến lược “diễn biến hoà bình”; chỉ ra thủ đoạn của các
thế lực thù địch là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ hệ
thống chính trị Việt Nam, đặc biệt là tập trung làm biến chất lực lượng vũ
trang. Cuối cùng, tác giả nêu giải pháp đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng
và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp để đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” và
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong lực lượng vũ trang.
4
Tĩnh hiện nay.
5
3.2. Nhiệm vụ
Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận về tư tưởng chính trị và suy thoái về
tư tưởng chính trị.
Thứ hai: Nhận diện biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ
phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh hiện nay.
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp cơ bản để khắc phục biểu hiện suy thoái
về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính
trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Về thời gian: Từ năm 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chủ trương, biện pháp của tỉnh Hà
Tĩnh về khắc phục biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên. Trong đó coi trọng các phương pháp nghiên cứu như: phân
tích, tổng hợp, so sánh, logic - lịch sử, thống kê,…
6. Đóng góp của luận văn
- Chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ
phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm khắc phục biểu hiện suy thoái về
tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở Hà Tĩnh hiện nay,
nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ Hà
thông qua quá trình lao động sản xuất và sự hình thành ngôn ngữ - công cụ
vật chất của tư duy.
Có nhiều cách phân loại về tư tưởng. Theo trình độ phát triển có tư
tưởng sơ khai; tư tưởng sâu sắc, hiện đại. Theo xu thế phát triển có tư tưởng
tiến bộ và tư tưởng phản tiến bộ. Theo tính chất giai cấp có tư tưởng của giai
cấp thống trị, tư tưởng của giai cấp bị trị, tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư
sản, tư tưởng nông dân, công nhân. Theo phân ngành khoa học có tư tưởng
triết học, tư tưởng đạo đức, tư tưởng chính trị,…
b. Chính trị
Chính trị là khái niệm gắn liền với giai cấp, nhà nước. Thuật ngữ chính
trị theo nguồn gốc của tiếng Hi Lạp cổ đại là “politika”, tiếng Anh là “politic”,
tiếng pháp là “politique”. Theo nghĩa gốc của những thuật ngữ trên thì chính trị
có nghĩa là những công việc nhà nước hay những công việc xã hội.
Chính trị là phạm trù phức tạp, có quan hệ đến nhiều lĩnh vực như kinh
tế, văn hóa, xã hội,…Tính phức tạp của chính trị bắt nguồn từ tính đa diện và
sự biểu hiện rất đa dạng của chính trị trong đời sống xã hội. Do đó có nhiều
quan niệm khác nhau về chính trị.
8
Thời cổ đại, ở phương Tây, quan niệm phổ biến cho rằng, chính trị là
“nghệ thuật cung đình”, là các tri thức liên quan đến nhà nước và chính phủ
của nhà nước ấy. Theo Platon, chính trị là công việc nhà nước, công việc xã
hội, là nghệ thuật cai trị con người với sự bằng lòng của họ. Aristot thì quan
niệm, chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học tổ chức xã hội.
Ở phương Đông, trong Luận ngữ, Khổng Tử - nhà tư tưởng lớn của
Trung Hoa cổ đại cho rằng, chính trị là sự sắp đặt, lo liệu, quản lý để xã hội
có kỷ cương, nền nếp.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị thể hiện ở những
luận điểm cơ bản sau:
độ sở hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ kinh tế như thế nào thì chế độ chính trị
như thế đó. Giai cấp nào chi phối về kinh tế thì cũng nắm quyền lực thống trị
xã hội về mặt chính trị, tư tưởng, pháp quyền. Ngược lại, chính trị có tác động
tới kinh tế, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Nếu chính
trị phản ánh đúng quy luật khách quan, thì sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, và
ngược lại. Do đó muốn thúc đẩy sự phát triển của xã hội trước hết phải xuất
phát từ đổi mới về kinh tế. Nhưng đồng thời phải từng bước đổi mới chính trị.
- Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm. Phạm vi tác động của chính trị là
rất rộng lớn, phổ biến trong quần chúng nhân dân lao động, trong mọi tầng
lớp xã hội. Do đó, một quyết sách chính trị của giai cấp cầm quyền hoặc
của một cá nhân chính trị sẽ có tác động rất lớn đến toàn bộ đời sống xã
hội. Một chủ trương chính trị đúng đắn sẽ có tác động thúc đẩy xã hội phát
triển, ngược lại sẽ kéo lùi, thậm chí có thể gây rối loạn xã hội. Vì vậy việc
đưa ra các chủ trương, quyết sách chính trị phải hết sức thận trọng; phải
được cân nhắc kỹ càng dựa trên những căn cứ khoa học, thực tiễn, phù hợp
với quy luật vận động của xã hội. Mọi sự chủ quan, duy ý chí, nóng vội,
rập khuôn, máy móc đều là những sai lầm đáng tiếc của giai cấp cầm quyền
và của cá nhân chính trị.
- Chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Chính trị là khoa học
nghĩa là chính trị bao hàm hệ thống những tri thức của con người và xã hội về
chính trị. Đó là những tri thức phản ánh đời sống chính trị xã hội, về quan hệ
10
giai cấp, về công tác tổ chức và quản lý nhà nước, quản lý xã hội... Do đó,
trong hoạt động chính trị cần phải nắm vững và vận dụng những tri thức đó
vào thực tiễn một cách có hiệu quả. Khi nói chính trị là nghệ thuật, có nghĩa
trong việc tổ chức, quản lý xã hội tuyệt đối không cứng nhắc, rập khuôn, máy
móc, áp đặt, chủ quan, nóng vội, duy ý chí… mà phải thật mềm dẻo, linh
hoạt; kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc và phương pháp trong từng thời điểm,
Theo nghĩa chung nhất, suy thoái là sự trở nên yếu kém so với trước và
ở trạng thái kéo dài [26, tr.727].
Trong quá trình vận động và phát triển, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, các sự vật, hiện tượng có thể dẫn đến tình trạng suy giảm, suy thoái,
khủng hoảng và có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của nó. Đó là trạng thái thụt
lùi, suy giảm, ngược lại với sự phát triển, tiến triển theo chiều hướng tiến bộ,
tích cực.
Trong cuốn “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy
thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” của PGS.TS Vũ
Văn Phúc và PGS.TS Ngô Văn Thạo (đồng chủ biên) xác định “Suy thoái tư
tưởng chính trị nói chung được hiểu là sự biến đổi về phẩm chất chính trị của
mỗi người, mỗi tổ chức xã hội theo chiều hướng xấu, dẫn đến sự xa rời những
nguyên tắc, quan điểm của đảng chính trị, có thể dẫn tới sự thay đổi hẳn bản
chất của chúng”[ 38, tr.18].
Như vậy, suy thoái về tư tưởng chính trị không chỉ có trong cán bộ,
đảng viên, trong từng cá nhân mà còn biểu hiện trong các tổ chức đảng, tổ
chức chính trị - xã hội. Suy thoái tư tưởng chính trị trong cán bộ lãnh đạo,
quản lý, và trong tổ chức của Đảng ở cấp càng cao thì càng nguy hiểm, vì
cấp cao là cấp hoạch định đường lối, chiến lược; nếu cán bộ, tổ chức đảng ở
cấp cao suy thoái thì dẫn đến chệch hướng, sai lầm đường lối, do đó nếu chậm
phát hiện, khắc phục hoặc không được phát hiện và khắc phục thì có thể ảnh
hưởng đến sự tồn vong của chế độ.
Trong giai đoạn hiện nay, do sự tác động mạnh mẽ của những mặt trái
cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế, sự chống phá, mua chuộc của các thế
lực bên ngoài, cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, nên một
12
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện khác nhau về sự suy
thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống như: Phai nhạt về lý tưởng, cơ hội;
“cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại
đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người
làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ.
Sau khi Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời được nửa
tháng, ngày 17-9-1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Bác
căn dặn: “Cán bộ ta nhiều người cúc cung tận tụy, hết lòng trung thành với
nhiệm vụ, với chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có nhiều người hủ hóa,
lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công
dinh tư. Thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính
phủ và Đoàn thể. Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang
mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Chúng ta phải lập tức sửa đổi
ngay…” [30, tr.20].
Phê phán những thói hư tật xấu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo
dục cách làm người, làm cán bộ là những việc làm thường xuyên, thắm tình
đồng chí, đòi hỏi phải tiến hành bền bỉ, liên tục. Ngày 17-10-1945, trong Thư
gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Bác đã nêu 6 căn bệnh của
cán bộ, công chức thời bấy giờ. Đó là “trái phép” - do tư thù tư oán mà bắt bớ
trái phép, tịch thu bừa bãi; “cậy thế” - cho mình là người của ban này ban nọ,
rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy; “hủ hóa”- muốn ăn ngon mặc
đẹp, chi tiêu ngày càng xa xỉ, lấy của công dùng vào việc tư; “tư túng” - kéo
bè kéo cánh, không tài năng gì cũng đưa vào chức này chức nọ; “chia rẽ”,
bênh vực lớp này chống lại lớp kia; “kiêu ngạo” - lúc nào cũng lên mặt “quan
cách mạng”, coi khinh quần chúng. Người phê phán gay gắt những “lầm lỗi
rất nặng nề nói trên”, đồng thời chỉ rõ: “chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã
nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa”. Sự nghiệp cách mạng phát triển,
công việc ngày càng nhiều, cán bộ đảng viên tăng thêm; do ý thức tư tưởng,
rèn luyện kém, không ít người đã vi phạm khuyết điểm và những khuyết điểm
đó mang nặng dấu ấn của “quan cai trị”, “người cầm quyền” dưới thời kỳ
thống trị của thực dân, phong kiến.
14
của không ít cán bộ, đảng viên và chỉ dẫn cách thức chữa từng căn bệnh cụ
15
thể. Những khuyết điểm đó, theo Người, có thể xếp vào ba loại: “Khuyết
điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong
Đảng và ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách
viết, tức là ba hoa. Ba “chứng bệnh nguy hiểm” này nếu không chữa ngay để
nó lây ra thì có hại vô cùng.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã nêu lên hàng loạt chứng
bệnh tệ hại khác và mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Kẻ địch bên trong của
mỗi người cán bộ, đảng viên. Người phân tích sâu sắc “Mỗi kẻ địch bên trong
là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ.
Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Những chứng
bệnh này là bước phát triển tất nhiên của những chứng bệnh cũ. Đó là: “Bệnh
nể nang”, làm ngơ trước sai lầm của người quen biết, họ hàng, thân thích;
“bệnh tham lam”, tự tư tự lợi, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc,
“bệnh lười biếng”, tự cho mình là cái gì cũng biết, việc gì cũng giỏi, lười suy
nghĩ, lười học tập, dành lấy việc dễ, đẩy việc khó cho người; “bệnh kiêu
ngạo”, tự cao tự đại, ham địa vị, danh vọng, hay lên mặt, thích được tâng bốc;
“bệnh hiếu danh”, tự cho mình là anh hùng, quan trọng, không chịu làm
những công tác thiết thực; “thiếu kỷ luật”, đặt mình lên trên tổ chức, thích sao
làm vậy; “óc hẹp hòi”, khinh người, không cân nhắc người tốt, sợ người ta
hơn mình; “óc lãnh tụ”, làm được một vài việc thì cho mình đáng là lãnh đạo,
lãnh tụ ở địa phương, đơn vị; “bệnh hữu danh vô thực”, làm việc không thiết
thực, làm cho có chuyện, làm ít nói nhiều; “kéo bè kéo cánh”, từ bè phái dẫn
đến chia rẽ, hợp với mình thì dở cũng cho là hay, che đậy cho nhau; “bệnh
cận thị”, không nhìn xa thấy rộng; “bệnh tị nạnh”, cái gì cũng muốn “bình
đẳng”, cào bằng như nhau; “xu nịnh, a dua”, bốc thơm cấp trên và những
người có quyền thế, theo gió bẻ buồm…những chứng bệnh trên bắt nguồn từ
sống mới. Sống và hoạt động một thời gian dài trong thời kỳ kháng chiến, số
đông cán bộ đảng viên đã được trưởng thành. Song không ít người đã sớm
quên đi những ngày sống cực khổ, khó khăn, chia ngọt sẻ bùi bên nhau trong
thời kỳ kháng chiến. Họ nhiễm nặng “bệnh cá nhân”, chủ nghĩa cá nhân, bắt
đầu suy tính nhiều hơn và trước hết cho lợi ích cá nhân, gia đình và lợi ích
17
phe nhóm. Ở họ, chủ nghĩa cá nhân nảy sinh và chiếm vị trí chi phối trong suy
nghĩ cũng như việc làm hằng ngày, mà trước kia Bác thường gọi là “bệnh cá
nhân”.
Cùng với việc phê phán chủ nghĩa cá nhân, Bác luôn đề cao đạo đức
cách mạng và chỉ rõ người cách mạng phải kiên quyết loại trừ chủ nghĩa cá
nhân ra khỏi đầu óc mình. Bác phân tích rõ nguồn gốc và những tác hại của
chủ nghĩa cá nhân: “Vết tích xấu xa nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là
chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, là
một thứ rất gian xảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”, nó
“là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt
nó”. Đúng như vậy, người có đầu óc cá nhân chủ nghĩa thường ít hoặc không
nghĩ đến lợi ích chung của cách mạng, của nhân dân và cộng đồng chung
quanh họ, mà thường lo cho lợi ích riêng của cá nhân cũng như của phe nhóm
mình, đặt nó lên trên lợi ích chung của đất nước, của tập thể. Họ là những
người tham danh, hám lợi, thích địa vị, hay so bì, tị nạnh. Có chút thành tích
thì tự cao, tự đại, kiêu ngạo, công thần, gây lủng củng chia rẽ nội bộ. Chủ
nghĩa cá nhân đẻ ra chủ nghĩa tự do, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí,
lười biếng; đẻ ra biết bao thói hư tật xấu và hằng trăm hàng ngàn căn bệnh
nguy hiểm. Kẻ mang nặng chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi
ích cá nhân, của phe nhóm trước hết. Họ ngại gian khổ, khó khăn, chỉ nghĩ
đến hưởng thụ, ăn chơi sa đọa, biến chất. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị
quyền hành, tự cao tự đại coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc
đấu tranh ngăn chặn, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.
1.2.2. Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về suy thoái tư tưởng
chính trị
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã vận dụng
sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh vào việc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong
cán bộ, đảng viên. Kể từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) đến nay,
thuật ngữ suy thoái tư tưởng chính trị được Đảng ta đề cập nhiều trong các
19
văn kiện. Trong đó, biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị được chỉ ra ở
những khía cạnh như: mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù
địch; phai nhạt lý tưởng; lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp
nhận thông tin mới; tha hóa đạo đức, lối sống; hoài nghi về con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội, về sự lãnh đạo của Đảng.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Năng lực và
phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Điều
đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha
hóa về phẩm chất, đạo đức; sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở
đảng suy yếu” [22, tr.67).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII đã chỉ ra những yếu kém trong việc xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó nổi lên trước hết là
ở nhận thức tư tưởng, đạo đức và lối sống. Về tư tưởng, Nghị quyết nhấn
mạnh:
Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, một số người
dao động, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận thành quả của
chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa
Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay là cuộc đấu tranh hết sức
khó khăn phức tạp. Vì vậy cần thống nhất một số nguyên tắc cơ bản sau:
Phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, trước hết là ban
thường vụ cấp ủy, bí thư cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở, người đứng đầu các cơ
quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và của các tầng lớp
nhân dân.
Đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị phải gắn liền
với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội trên các địa bàn; không ngừng nâng
cao đời sống cho nhân dân, cán bộ, đảng viên; quan tâm thực hiện tốt các
chính sách an sinh xã hội.
Gắn chặt đấu tranh ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị với công tác
xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; tăng cường sự đoàn kết thống nhất
trong toàn Đảng bộ, từng tổ chức Đảng và đoàn kết toàn dân.
21