LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Đánh giá khả năng hấp thụ hàm lượng Nitơ của cây rau ngổ trong nước
thải sinh hoạt (Enhydrafluctuans) ở quy mô phòng thí nghiệm” được hoàn thành tại
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Trong quá trình nghiên cứu,
ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, nhóm thực hiện đề tài chúng em đã nhận
được sự chỉ bảo , giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.Lê Thu Thủy, Trường Đai học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội đã tận tình hướng dẫn chúng em thực hiện và hoàn thành đề tài
này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Phòng thí nghiệm – khoa
Môi Trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện
thuận lợi về cơ sở vật chất, để chúng em nghiên cứu thực hiện các nội dung của đề
tài.
Xin cảm ơn ban lãnh dạo khoa, các thầy cô giáo khoa Môi Trường, Trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, dạy bảo chúng em trong
suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến bạn bè đã có những ý kiến đóng góp cho
chúng em hoàn chỉnh đề tài.
Cuối cùng, chúng em xin cảm ơn tấm lòng của những người thân yêu trong gia
đình, bố mẹ luôn động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng em trong
quá trình học tập!
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2013
Nhóm sinh viên thực hiện:
Lưu Thị Huế
Nguyễn Văn An
Nguyễn Đức Hải
Đỗ Thị Linh
Nguyễn Anh Tuấn
nước. Có thể áp dụng trên thực tế ở những vùng nông thôn vì nó vừa mang lại
hiệu quả kinh tế, vừa góp phần bảo vệ môi trường và tận dụng những vung đất
hoang…
4. Kết quả nghiên cứu:
Đề tài đã đánh giá được hiện trạng môi trường nước mặt của cống nước thải lang
Do Nhân Thượng – Mê Linh – Hà Nội. Đánh giá hiệu quả sử lý nước ô nhiễm từ
việc trồng cây rau ngổ. Đồng thời đề tài cũng đã xác định được mật độ nuôi trồng
và giai đoạn sinh trưởng của cây rau ngổ đem lại hiệu quả xử lý cao.
4
Kết quả nghiên cứu của đề tài như sau:
Tình trạng nước mặt ở vùng nghiên cứu đã và đang bị ô nhiễm, chỉ tiêu phân tích
hàm lượng nitơ tổng vượt quá quy chuẩn cho phép đối với nước thải sinh hoạt
(QCVN 14: 2008/BTNMT).
Rau ngổ là loài có hiệu quả cao trong xử lý nươc bị ô nhiễm. sự có mặt của rau
ngổ làm tăng hiệu quả xử lý rất lớn so với thùng đối chứng không trồng cây, hiệu
quả xử lý lên tới 65,11 %
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
Là một trong những phương pháp đơn giản, dễ làm, chi phí thấp, có thể áp dụng
rộng rãi trong thực tiễn.
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kêt squar nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên
tạp trí nếu có) hoặc nhân xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên
cứu (nếu có):
Ngày 22 tháng 5 năm 2013
Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
MỞ ĐẦU
Do hoạt động sống và sản xuất của con người cùng với mật độ dân số gia
tăng nhanh chóng, các nguồn nước thải, nước mặt và cả nguồn nước ngầm ở
nhiều vùng đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Trong các tác nhân gây ô nhiễm,
ngoài các chất độc như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, kim loại nặng, còn có các hợp
chất hữu cơ chứa nitơ, photpho, các hợp chất này trong nước mặt, đặc biệt là
trong các nguồn nước dùng để nuôi trồng thủy sản và cho sinh hoạt ở các dạng
như NH4+, NO3-, PO43- có độc tính cấp và lâu dài đối với thực vật thủy sinh và
con người.
Hiện nay vấn đề ô nhiễm nước đang rất được quan tâm.Trong quá trình
sinh hoạt hàng ngày, con người đã làm ô nhiễm nguồn nước qua việc xả các chất
thải như: túi nilon, rác thực phẩm, nước thải chăn nuôi vào ao, hồ, sông, suối,
kênh, mương… Nguồn nước thải sinh hoạt có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống
của con người, trong đó hàm lượng tổng nitơ có trong nước thải sinh hoạt cũng là
một trong những nguyên nhân gây nên ô nhiễm nước.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp xử lý nguồn nước ô nhiễm bằng
phương pháp dùng thực vật thủy sinh. Đây là một trong những hướng đi tích cực,
thân thiện với môi trường.
Xuất phát từ thực tế đó, nội dung đề tài nghiên cứu khoa học của chúng em
là:
“Đánh giá khả năng hấp thụ hàm lượng Nitơ của cây rau ngổ trong nước thải sinh
hoạt (Enhydrafluctuans) ở quy mô phòng thí nghiệm”.
Sử dụng thủy sinh thực vật để xử lý nước thải không phải là biện pháp mới,
tuy nhiên, số lượng các loài thủy sinh có thể dùng với chức năng này không nhiều.
Hy vọng với những thông tin trong đề tài nghiên cứu khoa học của chúng
em sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm nitơ hiện nay trong nước
thải sinh hoạt và từ đó đề ra biện pháp xử lý.
7
sinh hoạt ngày càng trở nên thiếu hụt và ô nhiễm nghiêm trọng.
Nước thải sinh hoạt là gì. Tại sao ta cần xử lý nước thải?
Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh
hoạt công đồng như tắm giặt, vệ sinh... Được thải ra từ các cơ quan, trường học, bệnh
viện, nhà dân…
Nước thải sinh hoạt thường được thải ra sông, suối, ao, hồ,… dẫn đến việc gây ô
nhiễm nguồn nước. Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các
bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung
thư… ngày càng tăng. Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc
nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt. Ngoài ra ô nhiễm
nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng
thủy sản.
1.1 Giới thiệu một vài phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt [2]
Để xử lý cũng như cải thiện nguồn nước ô nhiễm đó đòi hỏi phải có công nghệ
kĩ thuật tiên tiến, nhân lực, cũng như tìm ra các phương pháp xử lý hiệu quả và chi phí
thấp.
Có rất nhiều phương pháp xử lý ô nhiễm nguồn nước thải sinh hoạt khác nhau như:
a/ Xử lý nước thải bằng phương pháp kị khí : [6]
Quy trình xử lý gồm bốn công đoạn chính, gồm: thu gom, điều hòa, xử lý kị khí
trong các môđun, xử lý mùi và để lắng.Tuy nhiên, phương pháp hiếu khí chỉ xử lý được
nước thải ở mức độ ô nhiễm thấp, chi phí vận hành cao, tạo ra nhiều bùn thải. Đối với
phương pháp xử lý kị khí thì cần nhiều thời gian, lại không chủ động về nhiệt độ môi
trường nước, hàm lượng vi sinh vật, nước sau khi xử lý còn mùi hôi thối.
Để khắc phục nhược điểm của công nghệ xử lý nước thải bằng phương pháp
hiếu khí và kị khí nêu trên, từ năm 2005, các cán bộ của viện đã bắt tay nghiên cứu quy
trình công nghệ xử lý nước thải ô nhiễm chất hữu cơ bằng phương pháp điền khiển tự
động.
10
11
+Bằng than xỉ :
Với việc dùng than xỉ làm các vách ngăn trong bể tự hoại, hiệu suất của bể xử lý
nước thải được nâng lên rõ rệt với chi phí thấp. Đây là giải pháp của tiến sĩ Nguyễn
Việt Anh, Đại học Xây dựng Hà Nội.
Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Việt Anh trường Đại học Xây dựng đã cải tiến
thành công các bể tự hoại truyền thống bằng việc thay đổi cấu tạo bể, thêm các vách
ngăn mỏng hướng dòng chảy thẳng đứng trong bể. Theo quy trình này, nước thải không
đi qua bể theo chiều ngang mà chuyển động từ dưới lên trên, đi xuyên qua lớp bùn đáy
bể. Các vi khuẩn kỵ khí có rất nhiều trong lớp bùn cặn đáy sẽ hấp thu, phân hủy chất
hữu cơ có trong nước thải. Các vách ngăn còn cho phép tăng hệ số sử dụng thể tích bể,
tránh được các vùng nước chết.
Ngăn lọc kỵ khí được bố trí ở cuối bể, tiếp tục lọc các chất lơ lửng và hữu cơ
còn trong nước thải. Nước thải đầu ra lại được xử lý bằng bãi lọc trồng các loài cây
thủy sinh. Vì thế chất lượng nước sau xử lý luôn đạt tiêu chuẩn môi trường.
+ Dùng xơ dừa :
Theo Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Bích (Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam), một trong
những biện pháp nâng cao hiệu suất xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học là nâng
cao mật độ vi sinh vật trong hệ thống. Khi xử lý nước thải bằng quá trình sinh trưởng lơ
lửng (không có giá thể cho sinh vật bám), thì nước thải qua xử lý đi ra ngoài, đã mang
theo một lượng đáng kể vi sinh vật.
Từ kết quả trên, thạc sĩ Bích đã khẳng định khả năng và hiệu quả sử dụng xơ
dừa thô trong bể xử lý kỵ khí để xử lý nước thải ngành chế biến cao su. Ngoài ra, có thể
áp dụng công nghệ trên trong việc xử lý các loại nước thải có chứa chất ô nhiễm hữu cơ
cao. Xơ dừa là một vật liệu rẻ tiền và sẵn có ở nhiều vùng trong nước ta, nên đây có thể
được coi như một hướng phát triển các công nghệ xử lý nước thải đơn giản và rẻ tiền.
+ Bằng vỏ lạc (đậu phộng) :
Vỏ của củ lạc, một trong phế phẩm công nghiệp thực phẩm lớn nhất, có thể được
Trung tâm Phát triển Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường (Liên hiệp các Hội
KHKT Việt Nam) vừa nghiên cứu sản xuất thành công chế phẩm sinh học xử lý nước
thải chăn nuôi. Nghiên cứu đã được ứng dụng tại trang trại ông Trần Văn Thanh, thông
Đông Hưng, phường Đồng Tâm, TP.Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc). Sau khi được xử lý bằng
chế phẩm sinh học mật độ vi sinh vật gây bệnh trong nước thải chăn nuôi giảm hàng
chục lần, riêng hàm lượng COD nguy hại giảm 4-5 lần; nước thải có thể xả thẳng ra
môi trường xung quanh mà không gây hại đến sức khoẻ người dân. Đặc biệt, chế phẩm
có giá thành rẻ 18.000đ/kg, tác dụng lâu dài (2 tháng). Thạc sỹ Trần Cẩm Phong, chủ
đề tài nghiên cứu, cho biết: Nguyên liệu sản xuất chế phẩm sinh học gồm: Cám gạo
(bột ngô) 30%, tham bùn 65%, đường vàng 5%, một chút muối NaCl, muối C 7H5NaO2.
Trung bình 1kg chế phẩm xử lý từ 5-10m2 nước thải.
13
Các phương pháp nêu trên đều tốn kém về kinh phí, thời gian, điều kiện diện
tích cũng như đòi hỏi kỹ thuật nên cần tìm ra một phương pháp mới có khả năng xử lý
vùa tiết kiệm về thòi gian cũng như chi phí thấp. Nghiên cứu khả năng làm sạch nước
bằng thực vật thủy sinh là một trong nhưng phươnng pháp hiệu quả nhất với chi phí
thấp, dễ làm và hiệu quả xử lý cao.
1.2.Khả năng làm sạch nước của thực vật thủy sinh
Xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh đã và đang áp dụng tại nhiều nơi trên
thế giới với ưu điểm là rẻ tiền, dễ vận hành đồng thời mức độ xử lý ô nhiễm cao. Đây là
công nghệ xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên, thân thiện với môi trường, cho
phép đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn định, đồng thời làm tăng giá trị đa dạng sinh
học, cải tạo cảnh quan môi trường, hệ sinh thái của địa phương. Ngoài ra sinh khối thực
vật, bùn phân hủy, nước thải sau xử lý còn có giá trị kinh tế.
1.3 Một số nghiên cứu về khả năng xử lý nước thải của thực vật thủy sinh:
+ Thanh lọc nước thải bằng cây rau ngổ và cây lục bình:
Một số đề tài nghiên cứu về tổng nitơ trong các loại thủy sinh như : cây rau
có thể coi là biện pháp hay để nhân rộng tại các làng quê khác vì khả năng áp dụng rất
phù hợp với điều kiện ở các vùng nông thôn đặc trưng của Việt Nam.
+ Kết quả nghiên cứu của mô hình “Xử lý nước thải sinh hoạt bằng bãi lọc
ngầm trồng cây dòng chảy thẳng đứng trong điều kiện Việt Nam”, PGS. TS.
Nguyễn Việt Anh, Trường Đại học Xây dựng, đã cho thấy hiệu quả cũng như khả năng
ứng dụng mô hình trong điều kiện thực tế ở Việt Nam.
Các kết quả nghiên cứu như sau: Với mục đích tái sử dụng nước thải để tưới
tiêu, thì lượng chất dinh dưỡng trong nước thải đầu ra còn cao là có lợi cho cây trồng.
Trong trường hợp cần xử lý nitơ ở mức độ cao hơn, có thể tăng cường quá trình nitrat
hóa trong bể lọc trồng cây không ngập nước, sau đó mới cho sang bể ngập nước để khử
nitơ.
+ Nghiên cứu khẳng định, hệ thống ao xử lý có trồng rau ngổ và lục bình có thể
được thiết kế phù hợp với mô hình chăn nuôi heo hộ gia đình hay trang trại nhỏ với quy
trình khép kín: chăn nuôi gia súc – nuôi cá – trồng cây. Theo đó, chủ hộ có thể tận dụng
nguồn nước xả từ hệ thống để tưới cây, vệ sinh chuồng và nuôi cá.
Ý tưởng thực hiện đề tài.
15
Khi khảo sát thực tế và qua một thời gian quan sát, dòng nước thải sinh hoạt ra rất đục
nhưng sau khi chảy qua khu vực có cây rau ngổ sống thì nước trong hơn, và bớt đục
hơn so với nguồn nước thải ban đầu mà cây vẫn sống và phát triển bình thường trong
khi nước sinh hoạt thường có chứa rất nhiều hàm lượng Nitơ. Vì sao lại có hiện tượng
này? Thành phần các chất thay đổi như thế nào, để làm rõ vấn đề trên, cả nhóm em
quyết định nghiên cứu về đề tài: “Đánh giá khả năng hấp thụ hàm lượng Nitơ của cây
rau ngổ trong nước thải sinh hoạt (Enhydrafluctuans) ở quy mô phòng thí nghiệm”.
1.4 Giới thiệu về cây rau ngổ [6]
Tên khoa học của cây rau ngổ: (Enydra fluctuans)
Rau ngổ là loại cây thân thảo sống nổi hay sống ngập nước mà dân gian vẫn gọi
nát, cho thêm nước chín để nguội, khuấy đều, lọc lấy nước bỏ bã, pha thêm đường
để uống.
2. Cầm máu vết thương: Giã nát cành lá rau ngổ tươi, gói vào gạc rồi băng vào vết
thương.
3. Viêm tấy: Rau ngổ tươi giã đắp.
4. Ăn uống không tiêu, đầy bụng: Rau ngổ 16g, Nam mộc hương 15g, nước
750ml, sắc còn 250ml, chia 2 lần mỗi lần uống trong ngày.
Ngoài ra một tác dụng khác của cây rau ngổ là có thể hấp thụ một hàm lượng lớn
các chất gây ô nhiễm có trong nước, góp phần thanh lọc nước. Đây là một trong những
công dụng nổi trội của cây.
1.5 Nội dung nghiên cứu
- Xác định hàm lượng Nitơ có trong nước thải trước khi trồng cây rau ngổ.
- Trồng cây rau ngổ và theo dõi sự phát triển của cây rau ngổ.
- Xác định hàm lượng Nitơ có trong nước thải sau khi đã trồng được theo định
kỳ
- Xác định hàm lượng Nitơ cây đã hấp thụ bằng các phương pháp phân tích định
lượng.
1.6 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng hấp thụ hàm lượng tổng Nitơ trong nước của cây rau
ngổ.
- Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của mô hình trồng cây rau ngổ trong chậu
thí nghiệm, thể hiện qua việc khảo sát về lượng nước tưới, nồng độ nước thải sinh họat,
thời gian lưu nước.
- Nghiên cứu khả năng xử dụng nước thải sinh hoạt như một phần dinh dưỡng
thông qua cách khảo sát: phát triển chiều cao, tích lũy sinh khối của cây rau ngổ.
17
1.7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phòng Thí nghiệm Khoa Môi Trường
+
Trường ĐH Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội.
2.1.2.Phương pháp nghiên cứu
- Xác định hàm lượng Nitơ tổng trong nước thải
Sử dụng phương pháp phá mẫu trong lò vi sóng bằng K 2S2O8, chuyển hết các
dạng hợp chất của Nitơ ( các dạng hợp chất vô cơ và hữu cơ có chứa nitơ) thành nitrat
để dễ dàng phân tích.
Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích
+ Phương pháp lấy mẫu và bảo quản theo : TCVN 6663-1:2011 ISO 5667-1:
2006 và TCVN 5994 – 1995
+ Xử lý mẫu: bằng bộ phá mẫu COD ( do lò vi sóng bị hỏng).
2.2 Dụng cụ và hóa chất
2.2.1. Dụng cụ
- Các dụng cụ thông thường trong phòng thí nghiệm
- Thiết bị phá mẫu COD và máy trắc quang (vì lò vi sóng cảu phòng thí ngiệm bị
hỏng nên đã sử dụng thiết bị phá mẫu COD trong phá mẫu nitơ tổng.
2.2.2. Hóa chất
- K2S2O8/ NaOH: cân ( 5g K2S2O8 + 4g NaOH ) / 100ml H2O
- EDTA / NaOH: ( 20g NaOH + 5g EDTA) /100ml
- H2SO4 đặc
- Natrisalyxylat: 10 g/l
19
- Dung dịch NO3- chuẩn gốc (100mg/l) được pha từ KNO 3 khan cân 0,325g
Thùng Ký hiệu Giải thích ký hiệu
1
M.0
Thùng đựng mẫu nước thải để đối chứng (không trồng cây)
2
M.1
Mẫu nước lấy sau 30 ngày tưới nước thải ở thùng 1
3
M.2
Mẫu nước lấy sau 30 ngày tưới nước thải ở thùng 2
4
M.3
Mẫu nước lấy sau 30 ngày tưới nước thải ở thùng 3
*Đợt 2: từ ngày 22/3/2013 đến ngày 28/4/2013
Trồng cây trong 3 thùng xốp bằng đất thịt pha cát ẩm (đất trồng cây như đợt 1).
Chuẩn bị:
- 3 thùng xốp với kích cỡ bằng nhau (50cm x 30cm x 30cm).
Đ.1
Mẫu nước lấy sau 10 ngày tưới nước thải ở thùng 2
3
Đ.2
Mẫu nước lấy sau 20 ngày tưới nước thải ở thùng 1
4
Đ.3
Mẫu nước lấy sau 20 ngày tưới nước thải ở thùng 2
5
Đ.4
Mẫu nước thải không trồng cây
*Chú ý:
- Chăm sóc cây với điều kiện trong phòng thí nghiệm:
+ Trồng cây trong các thùng thí nghiệm.
+ Tưới nước sinh hoạt để cho cây sống và phát triển bình thường trong 10
ngày, nước cạn thì tưới nước thải sinh hoạt vào các thùng thí nghiệm và bắt đầu theo
dõi.
- Nguồn nước thải sinh hoạt này được lấy từ cống xả nước thải sinh hoạt của làng
Cây cao 44 cm, đường kính 0,7 cm, lượng nước giảm 3cm
Cây phát triển rất tốt vì thời tiết thuận lợi.thùng để ngoài nắng nhanh cạn nước,
thùng trong mát lượng nước giảm ít. Điều này có thể ảnh hưởng đến hàm lượng nitơ
trong nước. Vì vậy chúng em phân tích thùng trong mát.
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu và xử lý mẫu
* Phương pháp lấy mẫu
Chuẩn bị dụng cụ: Xi lanh, chai nhựa đã rửa sạch, nhãn mác
Sử dụng xi lanh lấy mẫu cho vào chai PE để bảo quản.
Bảo quản mẫu trong tủ lạnh ở 4 0C trong khoảng 8h-12h (Lấy mẫu từ chiều hôm
trước và sáng sau phân tích luôn).
* Xử lý mẫu:
- Có rất nhiều phương pháp phá mẫu như phương pháp phá mẫu bằng bình
kendan, lò vi song, bộ phá mẫu COD. Và do một số điều kiện không cho phép với các
phương pháp khác nên chúng em đã chọn phương pháp bộ phá mẫu COD bằng K 2S2O8
trong môi trường kiềm ở nhiệt độ 1650C trong 60 phút.
- Trước khi xử lí mẫu trong bộ phá mẫu COD cần chuẩn bị như sau:
- Với mẫu môi trường:
+ Rửa sạch các bình phá mẫu
+ Lẫy chính xác 2ml mẫu cho vào bình phá mẫu
+ Thêm 5ml dung dịch phá mẫu K2S2O8/NaOH đã được chuẩn bị
24
+ Trộn đều dung dịch rồi để yên trong phòng 5 phút
- Với mẫu trắng: Làm tương tự với mẫu môi trường nhưng thay 2ml mẫu bằng
2ml nước cất.
- Với mẫu kiểm tra: Làm tương tự như mẫu môi trường nhưng thay 2ml mẫu bằng
2ml dung dịch kiểm tra (dung dịch NO3- là 2mgN/l)
Sau khi chuẩn bị xog các lạo mẫu thì đậy chặt nắp rồi đưa vào bộ phá mẫu COD, bật
máy ở 165oC trong 1 giờ.
Ống/lọ
0
1
2
3
4
5
Dung dịch NO3- (2 mg/l) ml
0
1
2
3
4
5
Dung dịch natrixalyxilat
5
5
5
5
Dung dịch EDTA/ NaOH (ml)
10
10
10
10
10
10
Đun trên bếp cách cát đến cạn rồi để nguội
Axit H2SO4 đặc( ml)
Lắc kĩ tan hết cặn, để yên 10 phút
Định mức đến 25ml, để yên 10 phút rồi đo Abs ở bước sóng 410 nm
Abs
0
y=ax+b
Tính toán
Cđo =(Abs-b)/a (mgN/l)
Cmẫu=Cđo*f (mgN/l)
Hàm lượng nitơ tổng trong mẫu ban đầu được tính theo công thức:
CN ( mgN/l) = CNO3- x f
27