Lời nói đầu
Việt Nam đang tiến hành xây dựng CNXH từ một điểm xuất phát rất
thấp. Trong khi đó lại cần một khoản vốn lớn độ đầu t xây dựng kết cấu hạ
tầng xây dựng công nghiệp phấn đấu đa đất nớc theo mục tiêu đại hội Đảng đề
VIII ra. Phấn đấu đa đất nớc ta từ giờ đến năm 2020 về cơ bản là nớc công
nghiệp và tiến tới hiệp định CPT/AFTA và tham gia vào khu vực CATBD
APEC thì việc tích lập vốn để CNH, HĐH đất nớc là một vấn đề hết sức quan
trọng cùng với yêu cầu cấp thiết trong sự phát triển KHKT và PCLĐQT ngày
càng sôi động thì nhu cầu về vốn đã và đang trở thành bộ phận chủ yếu trong
chiến lợc PTPTKT.
Từ thực tiễn khách quan, quá trình học tập và đọc các tài liệu nghiên cứu
khác, em đã chọn đề tài: Những vấn đề lý luận về tích lũy t bản ở Việt Nam
hiện nay để nghiên cứu. Với đề tài tự chọn này, em hy vọng mình sẽ một lần
nữa củng cố thêm kiến thức đã có và tự t duy thêm. Cũng nh em mong góp
phần vào những cố gắng chung đáp ứng nhu cầu nghiên cứu vận dụng lý luận
về tích luỹ t bản trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Trong đề tài này gồm có hai chơng.
Chơng I: Lý luận chung về tích luỹ t bản.
Chơng II: Vận dụng lý luận về tích luỹ trong điều kiện Việt Nam giai
đoạn hiện nay.
1
Mục lục
Lời nói đầu
Chơng I. Lý luận chung về tích luỹ t bản
I. Bản chất và động cơ
1. Bản chất
ChơngI
Lý luận chung về tích luỹ t bản
I. Thực chất và động cơ của tích luỹ t bản.
1. Thực chất.
Trong bất kỳ xã hội loài ngời nào thuộc hiện đại thời kỳ nào muốn tồn tại
và phát triển đều phải tiêu dùng do đó phải luôn luôn sản xuất. Qúa trình sản
xuất là một quá trình luôn luôn đổi mới không ngừng đồng thời cũng là quá
trình tái sản xuất. Tái sản xuất là gì là quá trình sản xuất đợc lặp lại thờng
xuyên và không ngừng phục hồi.
Về quy mô, tái sản xuất gồm có tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng. Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất đợc lặp lại với quy mô nh cũ
do đó tái sản xuất giản đơn không phải là hình thái điển hình của CNTB mà
nó chỉ là hình thái đặc thù của XH mà sản xuất cha phát triển, sản xuất nhỏ
của thợ thủ công, công nhân cá thể hình thức tiến hành đặc thù của CNTB là
tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng của CNTB là sự lặp lại quá trình
sản xuất với quy mô lớn hơn với một lợng TB lớn hơn trớc. Muốn vậy phải
biết một phần giá trị thặng d thành t bản phụ thêm. Việc sử dụng giá trị thặng
d trở lại thành t bản gọi là tích luỹ t bản.
Nh vậy thực chất của tích luỹ TB là TB hoá giá trị thặng d. Vậy nguồn
gốc của tích luỹ t bản là tái sản xuất t bản với quy mô ngày càng mở rộng. Xét
cụ thể thì tái sản xuất trong TBCN là mở rộng quy mô t bản mở rộng phạm vi
thống trị của t bản đối với ngời lao động.
2. Động cơ của tích luỹ.
Tích luỹ TB là tất yếu khách quan của CNTB tạo ra GTTD ngày càng
nhiều càng tốt cho TB bằng cách bóc lột lao động làm thuê dựa vào việc mở
rộng sản xuất và phát triển kỹ thuật. Mục đích và động cơ của sản xuất TB là
theo đuổi GTTD ngày càng nhiều tức là sự lớn lên không ngừng của GTTD
Nâng cao mức độ bóc lột bằng cách tăng cờng độ lao động và kéo dài
ngày lao động. Việc tăng cờng độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng
làm tăng thêm GTTD do đó làm tăng bộ phận GTTD đợc TB hoá tức là làm
tăng tích luỹ ảnh hởng này còn thể hiện ở chỗ số lợng lao động tăng thêm mà
nhà TB chiếm không do tăng cờng độ lao động và kéo dài ngày lao động
không đòi hỏi phải tăng thêm số TB một cách tơng ứng.
b. Trình độ năng suất lao động xã hội.
Mức sản xuất của lao động tăng lên (năng suất lao động) làm tăng thêm
khối lợng sản phẩm cũng tăng theo do vậy kéo theo một đại lợng GTTD tăng
lên nhất định cho dù tỉ suất GTTD không thay đổi hay thậm chí giảm xuống
khối lợng sản phẩm thặng d vẫn tăng lên. NSLĐ tăng lên tức là hiệu qủa sử
dụng lao động tăng thì số lợng hàng hoá tạo ra cũng tăng lên và vì vậy đồng
thời giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm xuống.
c. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa TBsử dụng và TB tiêu dùng:
Khi t bản tăng lên thì sự chênh lệch giữa TB sử dụng và TB tiêu dùng
cũng tăng lên. Tức là trong một thời kỳ dài hay ngắn trong mọi quá trình sản
xuất thờng xuyên lặp đi lặp lại tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đều
hoạt động. Tức là máy móc tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất nhng
chúng chỉ hao mòn dần do đó giá trị của chúng đợc chuyển dần từng phần vào
sản phẩm. Mặc dù đã mất dần giá trị nh vậy nhng trong suốt thời gian hoạt
động máy móc vẫn có tác dụng nh khi còn đủ giá trị. Do đó nếu không kể đến
phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian thì máy
móc phục vụ không công chẳng khác gì lực lợng tự nhiên. Lực lợng sản xuất
càng phát triển máy móc càng hiện đại, do đó phần giá trị của nó chuyển dọc
4
từng đơn vị sản phẩm càng ít đi do vậy mà sự chêng lệch giữa TBTD và TBSD
ngày càng lớn nh vậy sự phục vụ của lao động quá khứ ta đợc lao động sống
17 CNTB phải tích luỹ vốn từ CN nhẹ, bóc lột lao động thặng d bần cùng hoá
GCCN&ND, cớp bóc thuộc địa mới cho ra đời một số ngành CN nặng rồi từ
đó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng nhất để tiến hành CNH, HĐH nền
kinh tế. Liên Xô trớc đây từng là một nớc công nghiệp vào loại TB cũng phải
mất hàng chục năm tích luỹ vốn từ sản xuất tiết kiệm tiêu dùng để thực hiện
CNH, HĐH.
Hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng CNXH từ điểm xuất phát rất
thấp trong khi đó chúng ta tiến hành CNH, HĐH đất nớc lại phải cần rất nhiều
5
vốn để đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng tuy đất nớc và khu vực đã thoát khỏi
khủng hoảng nhng nớc ta vẫn còn là một nớc nghèo, châm phát triển thì vấn
đề tích luỹ và sử dụng vốn cho CNH, HĐH là vấn đề có tầm quan trọng đặc
biệt, có ý nghĩa kiên quyết đối với toàn bộ QTXD tại ĐH Đảng lần VIII Đảng
ta KĐ. luôn chủ trơng tự lực cánh sinh xây dựng, phát triển kinh tế, công
nghiệp tích luỹ vốn từ nội bộ kinh tế là chủ yếu.
Nhiều chuyên gia quốc tế đã cho rằng Việt Nam muốn phát triển đạt đợc
tốc độ theo hớng rồng bay thì phải nõ lực huy động và tích luỹ vốn trong nớc
tăng cờng có hiệu quả với vốn nớc ngoài và đầu t có hiệu quả cao. Họ đã tính
toán rằng để tốc độ tăng trởng GDP TB hàng năm khoảng 8 10% thì tổng
đầu t trong nớc của Việt nam là phải đạt từ 20 35 % từ nay đến 2020 để đạt
đợc sự tăng trởng GDP với tốc độ cao nh vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa
quá trình CNH, HĐH đất nớc. Nhng đất nớc ta đang đứng trớc một bài toán vô
cùng nan giải đó là tình trạng thiếu vốn về mọi mặt(vốn lao động, vốn tín
dụng vốn đầu t phát triển) cần phải giải đáp của sản xuất công nghiệp: muốn
phát huy tối đa nguồn nhân lực nâng cao dân trí đào tạo bồi dỡng nhân tài để
phát huy tối đa cho công cuộc CNH, HĐH thì phải đầu t cho GDP đẩy nhanh
ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất cũng nh xây dựng cơ sở hạ tầng
càng không thể thiếu vai trò của vốn.
truyền thống cần cù lao động và tiết kiệm. Không chỉ khi đất nớc khó khăn mà
trong cả mấy năm gần đây, khi đời sống đã đợc nâng lên ngời dân từ thành thị
đến nông thôn chiếm một tỷ lệ đáng kể bắt đầu có cả của ăn của để, cán bộ
công nhân viên và ngời lao động tích luỹ lại một phần tiền công của mình, mặt
khác những ngời lao động nớc ngoài và những kiều bào ở các nớc trên thế giới
gửi và mang về nớc do vậy có những khoản tiền nằm rải rác vay dân chúng
mà CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân. CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn
dân, vì dân và do dân. Nếu trớc đây khi tiến hành CNH, trong quan niệm và
trong chỉ đạo, điều hành thực hiện mới tập trung chủ yếu vào các đơn vị
KTQD thì giờ đây CNH, HĐH phải do toàn dân làm trong đó kinh tế nhà nớc
và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo làm nòng cốt. Do vậy vấn đề tích luỹ vốn
cho CNH, HĐH cũng xuất phát từ quan điểm mới đó phải bằng mọi cách giáo
dục tuyên truyền có chính sách kinh tế thu hút mọi nguồn vốn trong dân làm
sao để mỗi đồng tiền nhãn rỗi của ngời dân đều đợc huy động cho sự nghiệp
to lớn vĩ đại này.
Ngoài nguồn vốn nằm rải rác trong dân chúng ta còn phải tích luỹ từ các
doanh nghiệp t nhân doanh nghiệp quốc doanh và đặc biệt từ một phần của
GDP đây là nguồn vốn đóng góp lớn nhất vào tổng vốn từ đầu toàn xã hội
cũng nh sự tăng lên của tổng vốn là vốn nhà nớc. Vốn đã chiếm trên dới 60%
góp phần quan trọng vào việc hình thành nên các công bình trọng điểm của
đất nớc có tác dụng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đầu t vào những lĩnh vực,
những vùng, công bình mà các thành phần kinh tế không muốn hoặc không đợc làm và có tác dụng nh "chất kích thích" để thu hút nguồn vốn khác. Để giữ
đợc vai trò quan trọng ấy phải có tiềm lực, do vậy phải nâng cao tỉ lệ tích luỹ
từ GDP trong thời gian từ 1990 - 1996 tốc độ tăng trởng GDP Việt Nam tang
trởng khá cao 8 - 9% để duy trì đợc mức tăng trởng. Nh vậy, đòi hỏi phải đẩy
nhanh hơn nữa quá trình CNH, HĐH bởi vì tốc độ tăng trởng nhanh trong các
ngành công nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi trong cơ cấu GDP.
Nguồn vốn ngân sách nhà nớc trong năm 2000 tăng 14,2% chiếm 23,8%
tổng nguồn vốn đầu t phát triển xã hội, ngoài các nguồn vốn từ ngân sách,
nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn thứ hai là nguồn vốn đầu t ngoài quốc doanh
tranh thủ thub hút nguồn ODA đa phơng và song phơng, tập trung chủ yếu
cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa
học, công nghệ, quản lý đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu t cho các
ngành nông, lâm, ng nghiệp, sản xuất hàng hoá tiêu dùng u tiên dành viện trợ
không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển. Phải sử dụng nguồn vốn
ODA có hiệu quả chống lãng phí tiêu cực. Đi đôi với những cố gắng thu hút
thêm nguồn vốn bên ngoài, cần khắc phục các trở ngại để đa nhanh nguồn vốn
ODA đợc các nhà tài trợ cam kết vào thực hiện.
II. Thực trạng và các giải pháp chủ yếu để tích luỹ vốn.
1. Sơ lợc về quá trình tích tụ và tập trung vốn ở Việt Nam.
Trớc năm 1991 nguồn vốn cho sự phát triển chủ yếu đợc rót từ nguồn
ngân sách nhà nớc và đợc nhận viện trợ của các nớc anh em trong hệ thống
XHCN, do vậy nguồn vốn cho sự phát triển rất hạn hẹp và kém hiệu quả.
Sau năm 1991 hệ thống XHCN sụp đổ nguồn viện trợ bị cắt giảm, chúng
ta chuyển hớng phát triển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN. Từ năm 1991 đến năm 1995 do sự đổi mới trong t duy và
hệ thống quản lý nền kinh tế đất nớc ta luôn đạt trong sự phát triển cao do vậy
mức huy động vốn đợc trong xã hội liên tục tăng cả về nguồn vốn trong nớc và
1
Nguồn trang 3 báo tin tức hàng ngày
8
ngoài nớc. Đặc biệt trong thời gian này Việt Nam đợc đánh giá là nớc có môi
trờng hấp dẫn số 1 với việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Số liệu vốn từ 1990 - 1995 (1)
Tổng số vốn (tỉ đồng)
1991
30300
98
24300
99
18900
2000
20800
Trong việc sử dụng vốn từ nguồn ODA cũng có quan điểm cho rằng đây
là khoản vay nợ với lãi suất thấp, lại thuộc lĩnh vực viện trợ, nên ít quan tâm
đến hiệu quả sử dụng. Việc giải ngân còn cha chú ý đến vấn đề làm sao phải
triển khai nhanh chóng, có trọng tâm, trọng điểm. Công tác quản lý còn quá
yếu, vấn đề tình trạng sử dụng không cao, thậm chí còn thâm hụt, mất mát,
lãng phí. Thực ra đây là khoản tiền và mà sau một thời gian ta phải trả khoản
nợ cả vốn lẫn lãi không nhỏ, mặc dù lãi suất thấp. Nếu sử dụng nguồn vốn này
không có hiệu quả, chúng ta sẽ để lại một gánh nặng khá lớn trong tơng lai.
Nguồn vốn ODA qua các năm.
Năm
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
ODA Cam 1810 1940 2260 2430 2400 2700 2800 2400
triệu kết
413
725
737
900
1000 1242 1350 1690
USD Giải
các khoản thu trong nớc trong khi thu thuế và phí phải tạo ra sự bình đẳng
giữa các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế. Cần mở rộng diện áp dụng
chế độ kế toán thống kê tích cực hớng dẫn các hộ kinh doanh thực hiện chế độ
ghi chép sổ sách kế toán từng bớc thu thuế qua sổ sách thay thế cho thuế
khoán trớc.
Ngoài nguồn ngân sách các doanh nghiệp cũng cần tích luỹ vốn bằng
cách:
- Nâng cao tiết kiệm trong quá trình sử dụng vốn vật t nguyên liệu, nhà
xởng.
- Tăng hệ số sử dụng các vật t máy móc trong các doanh nghiệp.
- Nâng cao tỷ lệ giữa vốn lu động trên vốn cố định để các doanh nghiệp
chủ động sản xuất kinh doanh.
Cùng với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế để tăng cờng sự cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thơng trờng quốc tế nhất là trong
thời gian tới khi mà chúng ta tiến hành tự do hoá thơng mại từ giờ tới 2020.
* Phát triển thị trờng chứng khoán và các tổ chức trung gian tài chính để
thu hút vốn.
Theo đánh giá của Tổng cục thống kê thì ít nhất vốn trong dân tồn đọng
là khoảng 2 tỷ USD cộng vơí 15 - 20 triệu lợng vàng tơng đơng 7 - 10 tỉ USd
trong khi đó tình trạng thiếu vốn đầu t phát triển của nhà nớc, của các doanh
nghiệp còn đang là vấn đề cần giải quyết, vì vậy cần phải phát triển thị trờng
10
tài chính để chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, để cho thị trờng tài chính
hoạt động có hiệu quả thì trớc mắt hệ thống ngân hàng phải vững chắc đáng
tin cậy.
* Với vốn tích luỹ từ bên ngoài.
Trong sự nghiệp của đất nớc tuy rằng chúng ta nhấn mạnh vai trò tự lực
xây dựng cơ sở kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nớc xã hội chủ nghĩa
và việc chúng ta tự do hoá thơng mại AFTA và APEC để giữ vững đợc thị trờng trong nớc và khẳng định vị trí trên trờng quốc tế thì trớc hết chúng ta phải
có một số vốn lớn mà nguồn gốc của nó phải đợc tích luỹ từ nhiều nơi, nhiều
ngành sản xuất.
Chúng ta cần phải có những biện pháp để tích luỹ vốn trong đó tích luỹ
vốn trong nớc là chủ yếu kết hợp với việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài (ODA &
FDI) để cân đối phát triển đất nớc tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Tài liệu tham khảo
1. ĐNáNN 18/98
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Marx Lênin
3. Kmarx quyền 1 tập 3
4.Thời báo kinh tế Việt Nam
5. Tạp chí tài chính số 11/1999
6. Thông tin tài chính số 18/ 2000
7. Tích tụ và tập trung vốn trong nớc Trần Xuân Kiên
12
13
14