Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trang 2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Trang 2
3. Đối tượng nghiên cứu
Trang 3
4. Giới hạn nghiên cứu
Trang 3
5. Phương pháp nghiên cứu
Trang 3
PHẦN II. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Trang 3
II. Thực trạng
Trang 12
PHẦN III. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
I. Kết luận
Trang 12
II. Một số đề xuất
Trang
13
1. Đối với cấp phòng
Trang 13
2. Đối với cấp trường
Trang 14
==========================================================
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
1
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
2
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
Đề tài này tôi sẽ đi sâu phân tích, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học
sinh bỏ học, qua đó tôi sẽ tìm ra một số giải pháp cho từng nguyên nhân nhằm giảm
thiểu tình trạng học sinh bỏ học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 9a trường phổ thông dân tộc bán trú
Trung học cơ sở Phan Bội Châu- Xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk.
4. Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong vòng 2 năm bắt đầu từ năm học 2010-2011 lúc đó là lớp
8a và năm học 2011-2012 hiện nay là lớp 9a . Sĩ số lớp là 40 học sinh bao gồm 24
nam, 16 nữ, gồm các dân tộc Ê Đê, H’mông, Dao, Tày Và Kinh.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này bản thân tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thu
thập thông tin thông qua trao đổi với học sinh và gia đình các em. Ngoài ra tôi còn sử
dụng phương pháp quan sát thực tế học sinh, nắm bắt tâm lý học sinh thông qua các
cử chỉ, hành động, cách giao tiếp với thầy cô, với bạn bè.
Bên cạnh đó do đối tượng học sinh chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số nên tôi
còn đi sâu tìm tòi, nghiên cứu tài liệu về văn hóa của các dân tộc thiểu số để làm tài
liệu bổ trợ trong quá trình nghiên cứu.
PHẦN II. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận:
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước
ngoặt cho nước ta với đường lối đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các mặt. Bắt
đầu từ đây vấn đề giáo dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí của nó và
được quan tâm một cách thích đáng. Tiếp đó tại các đại hội toàn quốc của Đảng lần
trường chuyên biệt nên nhận được sự tâm đặc biệt của các cấp, các ngành, các đoàn
thể. Đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của ủy ban nhân dân Huyện, sự quan tâm
của lãnh đạo Phòng giáo dục. Trong những năm qua các hoạt động dạy và học của
nhà trường đã không ngừng đi lên, cơ sở vật chất được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu
dạy và học.
Thứ hai: Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường có tuổi đời bình quân còn trẻ, yêu nghề,
100% đạt chuẩn và trên chuẩn, nhiều giáo viên đã công tác lâu năm tại trường nên có
nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và quản lí học sinh.
==========================================================
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
4
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
Thứ ba: Học sinh nhà trường đều ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập, lễ phép với thầy cô
giáo, có ý chí vượt khó vươn lên trong học tập.
2. Khó khăn:
Thứ nhất: Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Phan Bội Châu nằm trên
địa bàn xã Eatrang. Đây là một xã vùng III đặc biệt khó khăn, địa bàn trải rộng, dân
cư thưa thớt, 99,3% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số.
Thứ hai: Đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, sự quan
tâm của gia đình đối với việc học hành của con em còn ít. Mặt khác, người dân vẫn
mang nặng một số hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới hỏi tốn kém, đặc biệt là tình
trạng tảo hôn vẫn diễn ra phổ biến trong đời sống hằng ngày.
Thứ hai: Do nhận thức về việc học hành không có cho nên dẫn tới thiếu sự quan tâm
của gia đình đối với học sinh. Về nhà phụ huynh chưa quan tâm, nhắc nhở các em học
bài, không định hướng được tuơng lai cho các em, nhiều lúc các em có suy nghĩ tiêu
cực là không biết học để làm gì nữa. Có nhiều trường hợp khi giáo viên đến vận động
thì không nhận được sự hợp tác của phụ huynh, bỏ mặc cho các em thích thì đi học,
không thích thì thôi.
Thứ ba: Một số học sinh bỏ học do chán học, tức là học lực yếu, không theo kịp bạn
bè dẫn đến chán nản. Đặc biệt là khi thực hiện cuộc vận động “ Hai không” giáo viên
phải đấu tranh giữa hai con đường. Một là duy trì sĩ số học sinh, hai là chất lượng học
sinh.
Thứ tư: Hiện nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục
lạc hậu, nghiêm trọng nhất là tình trạng tảo hôn. Trường hợp này phổ biến nhất trong
cộng đồng người H’mông, bố mẹ bắt con mình phải lấy chồng để có con cháu sớm, có
người lao động trong gia đình. Điều này được thể hiện ở chỗ tỉ lệ học sinh nữ người
H’mông đi học rất thấp. Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến trong cộng đồng người
Ê Đê.
Thứ năm: Đây là một nguyên nhân chủ quan do kinh nghiệm của giáo viên khi làm
công tác chủ nhiệm có học sinh là người dân tộc thiểu số. Khác với học sinh người
Kinh, học sinh người dân tộc đa số học trước tuổi do đó tâm sinh lí các em phát triển
sớm. Khi học sinh mắc lỗi nếu giáo viên xử lí không khéo léo, có thái độ la mắng là
các em sẽ nghỉ học ngay. Trường hợp này thường gặp ở những giáo viên mới về công
tác, hoặc giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm.
IV. Các giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh vùng dân tộc thiểu số bỏ
học:
==========================================================
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
6
của người con trai lại quan trọng nhất.
==========================================================
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
7
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
Vấn đề này tôi xin chia sẻ với các bạn như sau. Lớp 9a của tôi gồm có người Kinh, Ê
đê, Tày, Dao, H’mông tôi cho các em bầu ban cán sự gồm 5 người, mỗi dân tộc một
người và phân công nhiệm vụ như sau: Lớp trưởng Nguyễn Thị Thanh Duyên là
người Kinh vì em này năng nổ trong các hoạt động và có kĩ năng quản lí lớp- Quản lí
chung. Lớp phó học tập là em Nguyễn Thị Vinh người dân tộc Tày- Phụ trách học
tập. Lớp phó Văn- Thể- Mỹ là em H Nhoai Hwing – Phụ trách văn nghệ, thể thao.
Thư kí lớp là em Dương Thị Pham dân tộc Dao. Lớp phó lao động là em Giàng Seo
Nhà dân tộc H’mông- phụ trách lao động, vệ sinh. Với cách tổ chức lớp như vậy ban
cán sự lớp sẽ có trách nhiệm hơn nhưng vẫn đảm bảo tính công bằng có sự tham gia
của các dân tộc khác nhau, bởi cùng dân tộc nói với nhau thì sẽ hiệu quả hơn.
Trong cách quản lí lớp cũng vậy, có một phong trào mà Đội thiếu niên tiền phong Hồ
Chí Minh đã triển khai rộng rãi trong những năm học qua tôi thấy khi áp dụng ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số rất hiệu quả . Đó là thành lập các “ Đôi bạn cùng tiến”.
Bản chất của phong trào là thành lập các đôi bạn cùng giúp nhau học tập, một học
sinh khá, giỏi kèm một học sinh yếu kém để cùng nhau đi lên. Ở lớp 9a tôi chủ nhiệm
tôi cũng thành lập các cặp đôi như vậy và hiệu quả học tập được nâng lên, điển hình
như cặp Vinh-Trung, Pôn- Nho, Pham- Nảy, Bích- Bé… việc thành lập các đôi bạn
như vậy sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm dễ quản lí học sinh hơn. Ví dụ hôm nay Bích
nghỉ học không có lí do thì giáo viên hỏi Bé thì Bé sẽ cho giáo viên biết lí do Bích
Việc giáo viên thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh còn giúp phụ huynh
nhận thức sâu sắc, xác định được tầm quan trọng của việc học đối với con em mình.
Giải pháp thứ ba: Phải gần gũi, quan tâm và sẵn sàng chia sẻ và gương mẫu
trước học sinh. Học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung đều ngoan
nhưng không dễ hòa đồng như những học sinh người Kinh cho nên giáo viên phải tìm
mọi cách để gần gũi, tiếp cận, trao đổi với các em. Giáo viên nên dành thời gian trao
đổi với từng học sinh một hoặc từng nhóm học sinh để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư
nguyện vọng của các em. Hàng tuần vào các buổi sinh hoạt cuối tuần hoặc thông qua
các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên chủ nhiệm nên dành chút thời gian
thăm hỏi các em, đặc biệt là các em có biểu hiện e ngại, rụt rè giúp các em hòa đồng
cùng bạn bè và cảm thấy mình không bị xa lánh. Hoặc thường xuyên tổ chức các hoạt
động tập thể để các em được tham gia.
Đối với những học sinh đặc biệt khó khăn tôi thường phát động các bạn trong lớp
quyên góp ủng hộ hoặc có lúc đóng góp một khoản gì đó mà một số em khó khăn quá
==========================================================
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
9
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
thì tôi sẵn sang trích một phân lương của mình để giúp đỡ các em. Khi giáo viên chủ
nhiệm quan tâm, gần gũi tạo niềm tin được cho các em rồi thì các em sẵn sàng chia sẻ,
khi đó động lực học tập của các em mới được nâng lên.
Giải pháp thứ tư: Phải thật sự tế nhị khi giao tiếp với học sinh dân tộc. Đừng
làm một điều gì đó để các em phải xấu hổ trước bạn bè vì tính tự ái, lòng tự trọng của
học sinh dân tộc rất cao. Nếu các em lỡ vi phạm một điều gì đó mà chúng ta nhắc nhở
giáo viên bộ môn để giáo dục học sinh.
Đối với ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên báo cáo,
trao đổi để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình công tác. Kịp thời tham mưu với
ban giám hiệu để đề ra các biện pháp giáo dục học sinh.
Đối với Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên cần thường xuyên tổ chức các hoạt động văn
hóa, văn nghệ, thể dục – thể thao để thu hút, lôi cuốn các em tham gia. Có sự kết hợp
tuyên truyền, giáo dục đạo đức thông qua các buổi sinh hoạt Đoàn, sinh hoạt Đội.
Đối với giáo viên bộ môn: Giáo viên chủ nhiệm cần tích cực thăm lớp, dự giờ để nắm
bắt tình hình lớp chủ nhiệm. Thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều để kịp thời
uốn nắn những học sinh có biểu hiện tiêu cực.
V. Một số biện pháp vận động học sinh bỏ học quay lại lớp:
Thực trạng vấn đề học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học vẫn còn diễn ra
phức tạp. Để giảm thiểu thực trạng này đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa nhiều
đoàn thể với nhau, trong đó giáo viên chủ nhiệm lớp phải nêu cao tinh thần trách
nhiệm. Nhưng nếu như chúng ta đã thực hiện các giải pháp trên rồi mà học sinh vẫn
bỏ học thì chúng ta làm gì để các em quay lại lớp?
Đây là một việc làm khó nhưng không phải là chúng ta không làm được. Sau đây tôi
xin trao đổi một số kinh nghiệm vận động học sinh quay lại lớp.
Thứ nhất: Giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh bỏ học, sau đó cùng với các
học sinh trong lớp đến nhà vận động nhất là học sinh được giáo viên chủ nhiệm thành
lập “ Đôi bạn cùng tiến”. Nếu nguyên nhân do bố mẹ bắt bỏ học thì phải giải thích
cho cho phụ huynh hiểu như thế là vi phạm pháp luật, đồng thời huy động các đoàn
thể tại địa phương cùng vào cuộc. Nếu vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thì có thể vận
động giúp đỡ như tặng xe đạp, áo quần, sách vở … Trường hợp học sinh không muốn
học nữa thì phải làm công tác tư tưởng để em đó nhận thức ra tầm quan trọng của việc
học.
========================================================== 11
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
I. Kết luận:
========================================================== 12
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
Dạy học nói chung, làm công tác chủ nhiệm lớp nói riêng đòi hỏi người giáo viên phải
có cái tâm đối với nghề nghiệp và phải có trách nhiệm đối với học sinh. Công tác chủ
nhiệm lớp là một công tác khó khăn, vất vả và để đạt được kết quả tốt đòi hỏi người
giáo viên phải hết sức nỗ lực hết mình, tự tìm tòi, học hỏi để trang bị cho mình những
kinh nghiệm. Đề tài “ Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều
học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” là một đề tài vừa nghiên cứu, vừa
áp dụng thực tế tại trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở phan bội châu xã
Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk. Đề tài đã nêu ra được những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng học sinh vùng dân tộc thiểu số bỏ học, đề tài cũng đã đưa ra được
những giải pháp thực hiện nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học. Trong quá
trình áp dụng vào thực tiễn hiệu quả của đề tài rất khả quan. Khi nghiên cứu đề tài này
tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm khi làm công tác chủ nhiệm tại
trường học vùng có nhiều học sinh là con em các dân tộc thiểu số. Một số nội dung
của đề tài tuy không mới so với các trường thuận lợi nhưng lại rất cấp thiết, quan
trọng đối với vùng đồng bào dân tộc. Trước đây tôi cũng đã đọc được một số đề tài
viết về kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh nhưng là ở những vùng học sinh người
Kinh, chưa có đề tài nào nói về kinh nghiệm duy trì sĩ số ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Thông qua đề tài này tôi muốn chia sẻ một vài kinh nghiệm với đồng nghiệp
khi làm công tác chủ nhiệm lớp tại vùng có nhiều học sinh dân tộc, nhất là đối với
giáo viên luân chuyển đến và giáo viên mới ra trường về công tác.
Đây là đề tài tương đối ngắn gọn, dễ dàng áp dụng vào thực tế và có khả năng nhân
Trường PTDTBT-THCS Phan Bội Châu - Huyện M’đrắk - Tỉnh Đắk Lắk
===========================================================
XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
T/M BGH
Hiệu trưởng
XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
========================================================== 15
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Trần Văn Phúc