TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F7G
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ
KỶ X ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
TRẦN VĂN BẢO
2002
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
-3-
MỤC LỤC
MỤC LỤC…………………………………………………………………………….3
CHƯƠNG MỘT: TỪ CHÍNH QUYỀN HỌ KHÚC TỚI TRIỀU TIỀN LÊ ...............4
I. Bảo vệ và củng cố chính quyền tự chủ từ họ Khúc đến triều Ngô .....................4
II. Quá trình xây dựng quốc gia thống nhất của các triều Đinh và Tiền Lê. .......10
1. Triều Ngô và cục diện 12 sứ quân .................................................................10
2. Triều Đinh .......................................................................................................11
3. Triều Tiền Lê ..................................................................................................12
CHƯƠNG II: THỜI KỲ CƯỜNG THỊNH CỦA NƯỚC ĐẠI VIỆT ........................19
I. Triều Lý: ..............................................................................................................19
1.Tình hình chính trò – xã hội..............................................................................19
2. Cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077) ..................................................20
3. Sự suy vong của triều Lý. ...............................................................................27
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
-4-
CHƯƠNG MỘT: TỪ CHÍNH QUYỀN HỌ KHÚC TỚI TRIỀU
TIỀN LÊ
I. Bảo vệ và củng cố chính quyền tự chủ từ họ Khúc đến triều Ngô
vào đầu thế kỷ 10, triều Đường chỉ còn hư danh, quyền hành thực tế đã lọt
vào tay tập đoàn phong kiến Chu Ôn. Trung quốc một lần nữa bước vào thời kỳ
khủng hoảng, chia cắt mà lòch sử gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc (905 - 960).
Nhân cơ hội chính quyền cai trò ở Giao Châu khủng hoảng do biến loạn ở
Trung Quốc, một thủ lónh người Việt ở đất Hồng Châu (Hải Dương) là Khúc
Thừa Dụ đã đánh chiếm phủ thành Đại La, lên nắm chính quyền. Mặc dù về
danh nghóa, họ Khúc vẫn mang chức và tước hiệu của nhà Lương (Tónh hải quân
Tiết độ sứ, tước Đồng bình chương sự, quyền tri lưu hậu) nhưng thực chất, chính
quyền Giao Châu đã có xu hương tự trò. Trong thời kỳ cầm quyền, Họ Khúc
(nhất là Khúc Hạo) đã có nhiều cải cách quan trọng mang tính chất thân dân.
Khúc Hạo chia cả nước thành cơ cấu hành chính mới: Lộ-phủ-châu-giáp-xã.
Về đường lối chính trò ông chủ trương “ chính sự cốt khoan dung giản dò, nhân
dân đều được yên vui”. Khúc Hạo ra sắc lệnh “ bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực
dòch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi”. Chính
quyền họ Khúc đã quản lý được một lãnh thổ khá lớn trên miền đất nước ta.
Theo thư tòch, thời họ Khúc đã thành lập 314 giáp (so với 159 Hương cuối thời
Đường).
- Thế thứ họ Khúc (905 - 930)
1.Khúc Thừa Dụ (905 - 907), không rõ năm sinh, nguyên quán :Hồng Châu
(nay là vùng Cúc Bồ, Ninh Giang, Hải Dương), mất ngày 23 tháng 7 năm 907.
2.Khúc Hạo (907 - 917), con của Khúc Thừa Dụ, mất vào năm 917.
3.Khúc Thừa Mỹ (917 - 923), con của Khúc Hạo, không rõ năm sinh năm
mất.
thấy thế lực họ Lưu là mạnh mẽ, có thể uy hiếp nước ta. Khúc Thừa Mỹ chưa đủ
tự tin vào sức mạnh dân tộc, đã sai sứ sang nạp cống cho triều đình Hậu Lương
“xin lónh tiết việt”, đònh nhờ cậy triều đình Trường An để chế ngự triều đình
Nam Hán mà ông vẫn gọi là “Ngụy Đình”.
Qua 25 năm khôi phục quyền tự chủ, họ Khúc vẫn chưa có điều kiện đưa
nước ta, từ một miền đất xơ xác do nạn Bắc thuộc kéo dài trở thành quốc gia
độc lập giàu mạnh. Quyền kiểm soát chính trò và huy động lực lượng quân sự
trong cả nước của Khúc Thừa Mỹ còn nhiều hạn chế do uy tín và tài năng của
ông không đủ cao và uy thế của các hào trưởng đòa phương còn lớn. Đối đầu với
một lực lượng quân sự lớn mạnh cả về thủy và bộ của Nam Hán, tháng 10 năm
930, đội quân mới họp của Khúc Thừa Mỹ bò tan vỡ. Khúc thừa Mỹ bò bắt sống
đem về Quảng Châu. Phủ thành Đại La bò đòch chiếm. Thất bại của họ Khúc lần
này không hề dẫn đến đến sự sụp đổ của lực lượng kháng chiến dân tộc.
Cuộc chiến tranh của Nam Hán, tuy rõ ràng mang tính chất xâm lược, nhưng
hiệu quả thì nặng về cướp bóc hơn là chinh phục. Nam Hán mới chỉ giành thắng
lợi bước đầu. Nam Hán tuy có cử được Lý Tiến sang làm thứ sử Giao Châu,
cùng Lương Khắc Chinh giữ thành Đại La, song chính quyền đòch chỉ chiếm
được Đại La và kiểm soát được phần nào miền đồng bằng Sông Hồng chứ
không còn thiết lập nổi một chính quyền đô hộ bao trùm cả nước ta như thời
thuộc Đường được nữa. Từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) trở vào Nam, tại các châu i
(Thanh Hóa) châu Hoan (Nghệ Tónh) các hào trưởng đòa phương và tướng tá cũ
của họ Khúc vẫn giữ được quyền kiểm soát đất đai và nhân dân. Ở lò võ làng
Ràng (Dương xá, Thiệu Hoá, Thanh Hoá), đã hình thành một trung tâm kháng
chiến khá mạnh, đứng đầu là hào trưởng Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của
họ Khúc. Ông công khai nuôi 3 000 “con nuôi” nghóa tử trong nhà, ngày đêm
luyện tập, chuẩn bò tiến ra Giao Châu tiêu diệt quân xâm lược. Dinh cơ họ
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
tay họ Dương. Dương Đình Nghệ xứng danh là một anh hùng dân tộc. Ông cũng
chỉ xưng là tiết độ sứ như họ Khúc. Đinh Công Trứ được cử làm thứ sử Hoan
Châu, Ngô Quyền được cử trông coi i Châu.
Năm 937, tháng 4, Dương Đình Nghệ bò Kiều Công Tiễn, một viên tướng
dưới quyền và là hào trưởng châu Phong, giết chết để đoạt chức tiết độ sứ. Vẫn
là như vậy, những thế lực hào trưởng, đòa phương chủ nghóa, đã đóng một vai trò
tích cực trong công cuộc giữ đất, giữ dân, đuổi đánh bọn đô hộ, nhưng khi đất
nước vừa sạch bóng quân thù thì họ lại lao vào các cuộc đấu tranh giành quyền
lực, phá hoại công cuộc thống nhất quốc gia, gây nguy hại cho nền độc lập tự
chủ vừa mới giành được. Giặc Nam Hán đang còn ngấp nghé ngoài bờ cõi, chưa
chòu từ bỏ ý đồ xâm lược, bành trướng. Đất nước này vẫn còn đang trong buổi
trăn trở chuyển mình …
- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai - Ngô Quyền
và chiến thắng Bạch Đằng (năm938).
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
-7-
Hành động phản trắc của Kiều Công Tiễn, giết người chủ tướng có công
đánh đuổi quân Nam Hán đã gây ra sự phẫn nộ trong các tầng lớp nhân dân. Từ
Ái Châu, Ngô Quyền, là tướng và là con rể Dương Đình Nghệ, sửa soạn tiến
quân ra bắc trừ tên phản bội. Kẻ phản chủ nhanh chóng trở thành tên phản quốc.
Trước sự căm ghét và phản kháng của nhân dân trong nước, Kiều Công Tiễn đã
đê hèn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán. Đây là dòp tốt để Nam Hán thực
cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy cả”.
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
-8-
Chủ tướng đều phục kế sách ấy là tuyệt vời. Qua lời bàn, ta thấy Ngô
Quyền - có lẽ nhờ nhiều nguồn tình báo và kinh nghiệm chiến đấu - đã nắm
vững và phán đoán đúng tình hình quân đòch. Ông hiểu rõ đặc điểm tâm lý viên
tướng chỉ huy quân Nam Hán tuy hung hăng nhưng ít tuổi, thiếu kinh nghiệm.
Ông đánh giá đúng chỗ yếu, chỗ mạnh của đòch. Từ hàng nghìn năm nay, Quảng
Châu là trung tâm mậu dòch đối ngoại lớn nhất của Trung Quốc, Nam Hán có
thuyền buôn biển, có hải quân mạnh, có giặc biển, không thể coi thường. Nhưng
quân đòch vượt biển từ Quảng Châu vào cửa Bạch Đằng, đang mùa gió heo may,
tất sẽ mệt mỏi, sức chiến đấu bò giảm sút. Hẳn Ngô Quyền đã cho người bắn tin
cho Nam Hán biết việc Kiều Công Tiễn đã bò giết nhằm đánh một đòn tâm lý
làm cho quân đội của chúng thêm hoang mang, dao động.
Phán đoán đúng con đường tiến quân của đòch, Ngô Quyền – con người
được nhà sử học Lê Văn Hưu ngợi ca là “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi” – đã chủ
trương bố trí một trận đòa cọc ở cửa sông Bạch Đằng rồi nhân khi nước lên, dụ
thuyền đòch tiến vào bên trong hàng cọc và tập trung lực lượng tiêu diệt đòch
bằng một trận quyết chiến nhanh, gọn, triệt để.
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm
chiến trường quyết chiến.
Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày sau vẫn mang “tên nôm” giản dò: Sông
Cả một đoàn binh thuyền lớn của giặc vừa vượt biển tiến vào mạn sông
Bạch Đằng đã bò dẫn dắt vào thế trận đã bày sẵn của ta và bò tiêu diệt gọn trong
một thời gian rất ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của giặc bò đánh đắm, hầu hết
quân giặc bò tiêu diệt. Chủ soái của giặc là Lưu Hoàng Thao cũng bò giết tại
trận.
Chiến thắng Bạch Đằng có những nét rất độc đáo và giữ một vò trí quan
trọng trong lòch sử dân tộc.
Về diễn biến và hình thái của chiến tranh, toàn bộ cuộc kháng chiến được
thực hiện bằng một trận quyết chiến chiến lược lớn và triệt để.
Mở đầu, là trận khiêu chiến – một bộ phận quân thủy, dùng thuyền nhẹ ra
đón đánh đòch từ xa, nhằm kiềm chế, tiêu hao và nghi binh dụ đòch; khi nước
triều lên to, ngập trận đòa cọc, bộ phận này giả thua rút chạy, nhử đòch vào trận
đòa đúng lúc, đúng chỗ, theo thế trận đã bày sẵn của Ngô Quyền. Hoằng Thao,
tên tướng trẻ kiêu ngạo, đã sa kế mắc mưu, thúc đại quân đuổi gấp, vượt qua bãi
cọc ngầm ngược sông Bạch Đằng, tiến sâu vào trong thế trận đã dàn sẵn của ta.
Tiếp theo, vào lúc nước triều xuống, là trận tiến công bất ngờ, mãnh liệt
của quân thuỷ từ thượng lưu đánh xuống chặn đầu, kết hợp với quân thủy bộ mai
phục hai bên bờ sông đánh tạt ngang vào đội hình quân giặc.
Kết thúc, là trận truy kích tiêu diệt tàn quân đòch trên đường tháo chạy, bò
chặn đứng lại trước bãi cọc đã nhô cao vào lúc nước triều xuống thấp nhất. Bò
cọc nhọn, bò quân ta đánh, thuyền đòch không sao thoát ra biển được. Toàn bộ
đạo thủy quân xâm lược của Nam Hán đã vónh viễn bò nhấn chìm xuống dòng
sông Bạch Đằng lòch sử!
Về thời gian, cả cuộc chiến đấu chỉ diễn ra lúc nước triều lên cho đến lúc
nước triều xuống thấp nhất. Với chế độ nhật triều ở vùng này, thời gian đó chỉ
nằm trong phạm vi một ngày. Thời gian chiến đấu ác liệt nhất là lúc nước triều
xuống mạnh cho đến lúc nước rặc, nghóa là chỉ nửa ngày. Cuộc kháng chiến
chống Nam Hán lần thứ hai này là cuộc chiến tranh chống xâm lược tiêu biểu
nhất cho lối đánh nhanh, thắng nhanh của dân tộc ta.
Về không gian, chiến trường của cuộc kháng chiến chỉ thu hẹp trong khu
trưởng vùng này.
2.Dương Bình Vương (945 - 950); họ, tên : Dương Tam Kha (con của Dương
Đình Nghệ và là anh vợ của Ngô Quyền). Sinh và mất năm nào không rõ.
3.Hậu Ngô Vương (951 - 965); họ, tên : Ngô Xương Văn (con thứ của Tiền
Ngô Vương; mẹ là Dương thái hậu, tức bà Dương Thò Như Ngọc). Sinh năm nào
không rõ.
Sau khi Ngô Quyền mất, tình hình nước ta trở nên phức tạp. Dương Tam
Kha cướp ngôi Vương của Ngô Xương Ngập, nắm quyền trong 5 năm (945-949).
Sau đó Ngô Xương Văn giành lại quyền bính, mời Ngô Xương Ngập cùng cai trò
(Hậu Ngô Vương). Thời Hậu Ngô Vương, chính quyền Trung ương không đủ
mạnh nên các thủ lónh đòa phương có xu hướng cát cứ. Năm 965, Ngô Xương
Văn chết trận, các thủ lónh đòa phương chia nhau hùng cứ các vùng đất bản bộ,
chống đánh lẫn nhau, lòch sử gọi là loạn 12 sứ quân.
- Sau đây là danh tính 12 sứ quân:
1. Ngô Xương Xí (con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập), chiếm giữ
đất Bình Kiều, nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên.
2. Trần Lãm (xưng là Trần Minh Công), chiếm giữ đất Bố Hải khẩu (nay
thuộc Tiền Hải, Thái Bình). Đinh bộ Lónh là thuộc tướng của Trần Lãm.
3. Nguyễn Thủ Tiệp (xưng là Nguyễn Lệnh Công), chiếm giữ vùng Tiên
Sơn, Bắc Ninh.
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 11 -
đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo, chủ trương dùng
hụừnh luaoùt hà khắc để cai trò. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là
Đinh Liễn bò một viên quan hầu là Đỗ Thích ám sát. Đinh Toàn - lúc đó mới có
6 tuổi- lên nối ngôi. Quyền nhiếp chính trong tay Dương Thái Hậu.
- Thế thứ triều Đinh (968 - 980)
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 12 -
1.Đinh Tiên Hoàng (968 - 979) ; họ, tên : Đinh Bộ Lónh, sinh năm Giáp Thân
(924), tại Hoan Châu, Nghệ An.
2. Đinh Phế Đế (980); họ, tên : Đinh Toàn, con thứ của Đinh Tiên Hoàng
Đế, mẹ người họ Dương. Vua sinh năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5
(974), mất năm Tân Mão (991).
3. Triều Tiền Lê
Nhân vua Đinh còn nhỏ tuổi, quyền phụ chính lọt vào tay quan Thập Đạo
Lê Hoàn. Lê Hoàn quê ở ái Châu, ông sinh năm 941, trước kia phục vụ trong đội
quân của Đinh Liễn. Nắm binh quyền trong tay, những hành động chống đối của
các cựu thần triều Đinh đều bò Lê Hoàn trấn áp.
Được sự ủng hộ của Dương Thái Hậu, năm 980, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng
Đế, lập ra triều Lê (Tiền Lê). Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã tổ chức thắng lợi
cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981. Năm 982, để củng cố
cương giới phía Nam, Lê Hoàn thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa, buộc Chăm
Pa phải thần phục. Triều Tiền Lê tồn tại đến năm 1009 thì chấm dứt.
- 13 -
Nhà Tống là một trong những triều đại lớn của chế độ phong kiến Trung
Quốc. Nước Tống cũng là một nước lớn, có số dân đông nhất thế giới lúc bấy
giờ. Theo sử Tống, riêng số dân ở Kinh sư cũng đã có trên 100 vạn người.
Nhà Tống chiếm một cương vực đòa lý rất lớn: phía Bắc giáp nước Liêu (các
tỉnh thuộc Đông Bắc Trung Quốc ngày nay) và nước Mông Cổ (gồm cả nội
Mông ngày nay); phía Tây Bắc giáp nước Tây Hạ (miền đất Tân Cương ngày
nay); phía Tây Nam giáp nước Nam Chiếu (sau đổi thành nước Đại Lý, miền đất
Vân Nam bây giờ) và phía Nam giáp Đại Cồ Việt.
Đi theo vết xe của các triều Tần, Hán, Đường, nhà Tống cũng tự coi mình là
“thiên triều” có quyền trò bình thiên hạ, thảo phạt và “giáo hóa” Man Di. Khát
vọng bành trướng xâm lược của nhà Tống rất lớn. Trong khi còn đánh dẹp các
thế lực phong kiến cát cứ như Nam Đường (Giang Tây 975), Ngô Việt (Chiết
Giang, 978), Bắc Hán (Sơn Đông, 979), nhà Tống cũng ráo riết chuẩn bò chiến
tranh để xâm lược các quốc gia kế cận. Năm 979, chúng tập trung đại binh tiến
công nước Liêu ở phía Bắc, đồng thời tiến đánh nước Hạ ở phía Tây và gấp rút
chuẩn bò xâm lược nước Đại Cồ Việt ở phía Nam.
Trong lúc nước ta đang đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm
lược lớn thì Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bò viên nội quan là Đỗ
Thích giết hại ngay tại hoàng cung. Bọn thám tử nhà Tống biết được tin này,
liền cấp báo về nước. Nhà Tống coi đó là thời cơ tốt để xâm lược Đại Cồ Việt.
Hầu Nhân Bảo (quan trấn thủ Quảng Tây) dâng thư lên vua Tống, tâu rằng:
“An Nam quận vương và con là Đinh Liễn đều bò giết, nước đã gần mất, có thể
nhân lúc này đem quân đòa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này không mưu
lấy sợ mất cơ hội. Xin đến cửa khuyết để trình bày trước một tình trạng có thể
đánh lấy được”.
Lư Đa Tốn cũng hiến kế: “An Nam nổi loạn, đó là lúc trời làm mất, triều
đình ta trong lúc bất ý đem quân đánh úp, tức như nói: sét đánh không kòp bòt tai,
nếu gọi Nhân Bảo về thì mưu tiết lộ, họ biết tất sẽ sẵn dựa núi cách biển mà
thư, Tống Thái Tông lại thô lỗ đe doạ: “có muốn ra khỏi rợ Di ngoài đảo mà
xem nhà Minh Gường Bích Ung không? Có thích trút áo quần cỏ lá mà mặc áo
bào cổn thêu núi rồng không? Ngươi có theo không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta
đương chuẩn bò xe ngựa quân lính, sắp sửa các thứ chiêng trống, nếu quy phục
thì ta tha cho, nếu trái mệnh thì ta quyết đánh. Theo hay không, lành hay dữ, tự
ngươi nghó lấy”.
- Cuộc kháng chiến của triều đình Lê Hoàn.
Vấn đề củng cố bộ máy lãnh đạo của nươc ta vào lúc này để đối phó với
cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống là một việc làm vừa cấp bách vừa có
can hệ đến sự an nguy của cả dân tộc. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được
tướng só cùng văn quan trong triều suy tôn lên ngôi vua, đứng đầu quốc gia Đại
Cồ Việt vào lúc này đã làm cho bộ máy lãnh đạo quốc gia được củng cố vững
mạnh, đủ sức để lãnh đạo dân tộc tiến hành chiến tranh cứu nước thắng lợi.
Thái hậu Dương Vân Nga không đứng về phía Đinh Điền, Nguyễn Bặc để
chống lại Lê Hoàn mà còn “sai lấy áo long cổn mặc cho Lê Hoàn, mời Lê Hoàn
lên ngôi hoàng đế”; việc làm này của Dương Vân Nga là một hành động yêu
nước cao cả đáng được ca ngợi.
Triều Tiền Lê được thiết lập với sự mệnh gấp rút tổ chức, lãnh đạo nhân
dân ta tiến hành kháng chiến, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống.
Trước khi chiến tranh bùng nổ, Lê Hoàn đã để ra chính sách để xây dựng, củng
cố khối đoàn kết dân tộc, làm cho “trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia”,
cả nước hợp sức cùng nhau chống giặc Tống xâm lược. Xây dựng thành công
khối đoàn kết dân tộc trong lúc này đã khiến cho mọi âm mưu chính trò nhằm
chia rẽ nội bộ nươc ta của nhà Tống không thể thực hiện, đồng thời còn loại trừ
được những hành động chống đối, chia rẽ của một số quan lại thuộc phái bảo
hoàng họ Đinh. Chính trò của quốc gia ổn đònh, vững mạnh; khối đoàn kết dân
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
vượt biên giới về đất Tống.
Đạo kỳ binh của nhà Tống do Trần Khâm Tộ chỉ huy, tiến quân bằng đường
biển, đồng thời với đạo thủy binh Lưu Trừng, Giả Thực. Trong khi thủy quân ta
đang chặn đánh thủy binh Tống tại vùng biển Đông Bắc thì Trần Khâm Tộ bí
mật tiến quân sâu vào vùng Tây Kết (Khoái Châu) hòng tạo nên một đòn đánh
hiểm. Lực lượng của đạo kỳ binh này không lớn lắm. Chúng lập tức bò quân và
dân đòa phương vây đánh quyết liệt. Bởi thế, kỳ binh Tống không những không
phát huy được tác dụng mà còn sớm sa vào thế cô lập, tiến lui không được.
Sau khi tiêu diệt được đạo chính binh của Hầu Nhân Bảo, Lê Hoàn liền
tung khối quân dự bò chuyển sang vây đánh đạo kỵ binh Tống. Lúc này quân ta
ở thế áp đảo. Đạo kỳ binh của Trần Khâm Tộ nhanh chóng bò tiêu diệt. Giặc
chết “quá nửa, thây chất đầy đồng”, quân ta “bắt được tướng giặc là Quách
Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư”.
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 16 -
Đạo quân thủy của đòch cũng bò trúng kế nhử đòch của Lê Hoàn, bò chặn
đánh tơi tả ở của sông Bạch Đằøng.
Khoảng đầu mùa hạ năm 981, chiến sự kết thúc, gần chục vạn quân Tống bò
tiêu diệt, bò tan tác trên chiến trường Đại Cồ Việt. Sau thất bại hết sức nặng nề
và cay đắng này, vua Tống phải tuyên bố bãi binh, chấm dứt chiến tranh. Song,
để giữ được uy danh và tỏ rõ Thiên tử bao giờ cũng “sáng suốt”, vua Tống đã
trút tất cả tội lỗi gây ra thua trận lên đầu bọn tướng lónh còn sống sót: Lưu
sách chiến lược, chiến thuật đánh đòch của ông thật là kỳ tài. Có thể nói thắng
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 17 -
lợi của cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 cũng là thắng lợi của nền nghệ
thuật quân sự Đại Cồ Việt. Năm 1300 – Trần Quốc Tuấn đã viết trong lời di
chúc: “Thời Đinh – Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh
mà phương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia,
dựng thành Bình Lỗ, mà phá được quân Tống”.
Sau cuộc phá Tống bình Chiêm thắng lợi, Lê Hoàn bắt tay xây dựng chính
quyền quân chủ tập trung.
Cũng như các triều đại trước, Tổ chức của chính quyền tự chủ thời kỳ này
còn mô phỏng thiết chế triều đình phong kiến Trung Hoa. Đấy là điều dễ hiểu
khi mà tổ tiên ta bắt đầu làm quen với việc tự mình quản lý đất nước. Những
người đứng đầu nhà nước ngoài việc nhận các chức tước của Hoàng Đế Trung
Quốc ban cho, đều tự xưng Đế. Điều đó khẳng đònh ý chí độc lập dân tộc, thống
nhất quốc gia của nhân dân ta. Trong các thời kỳ Đinh - Lê, chính quyền Trung
ương được củng cố một bước đáng kể. Các thế lực đòa phương bò trấn áp mạnh
mẽ. Đến triều Tiền Lê, triều đình đã quản lý một cách chặt chẽ hầu hết lãnh thổ
nước ta, từ biên giới Việt- Trung đến Hoành Sơn.
- Thế thứ triều Tiền Lê (981 - 1009)
1.
Lê Hoàn (981 - 1005), Miếu hiệu là Lê Đại Hành. Vua sinh nămTân
Biều hiện của xu hướng này là các lực lượng cát cứ thời Hậu Ngô Vương, các
cuộc ám sát, tranh giành quyền lực thời Đinh - Tiền Lê.
Đặc điểm nổi bật của xã hội Việt Nam thế kỷ 10 là sự tranh giành quyền
kiểm soát các làng xã giữa các thế lực cát cứ và chính quyền trung ương. Tình
hình đó đã tạo nên sự mất ổn đònh trong nửa sau thế kỷ 10, dẫn đến sự tồn tại
ngắn ngủi của các triều Ngô - Đinh - Tiền Lê. Sau sự khủng hoảng chính trò cuối
các triều Ngô, Đinh, đến triều Tiền Lê đã có nhiều nỗ lực để trấn áp các thế lực
đòa phương. Xu thế tập trung cuối cùng đã chiến thắng, đáp ứng nguyện vọng
của dân tộc, xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất, tạo tiền đề cho sự ra đời
của các triều đại Đại Việt cường thònh thời Lý - Trần. Cuộc kháng chiến của
triều Tiền Lê chống cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống và cuộc bình
Chăm Pa giành được thắng lợi trong các năm 981 và 982 đã khẳng đònh xu thế
đó.
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 19 -
CHƯƠNG II: THỜI KỲ CƯỜNG THỊNH CỦA NƯỚC ĐẠI VIỆT
(Nước Đại Việt dưới các triều đại Lý – Trần – Lê sơ)
I. Triều Lý:
1.Tình hình chính trò – xã hội.
Năm 1009, Lê Long Đónh chết. Được sự ủng hộ của thế lực Phật giáo và
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 20 -
2. Cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077)
Vào nửa sau thế kỷ thứ 11, nhà Tống bò các tộc Khiết Đan và Đảng Hạng
xâm lấn ở phía Bắc. Các “biến pháp’ của tể tướng Vương An Thạch không thu
được kết quả.
Chính trong thời điểm này, triều đình nhà Tống quyết đònh chấm dứt tình
trạng thụ động trong chính sách đối ngoại và bắt đầu tiến hành các cuộc chiến
tranh xâm lược, với mục đích vừa để mở rộng lãnh thổ, vừa củng cố uy tín đang
bò giảm sút của “Thiên triều”, bằng việc “dạy” cho các nước láng giềng “một
bài học”. Vào năm 1069, Vương An Thạch được gọi về triều giữ chức Tể tướng.
Ông đề ra và thực hiện một loạt cải cách nhằm ổn đònh tình hình kinh tế - xã hội
trong nước, tổ chức lại quân đội. Vua Tống và Vương An Thạch chủ trương trong
một thời gian ngắn nhất phải giành được chiến thắng đối với “các chư hầu
phương Nam”, tức là đối với Đại Việt. Theo họ, một thắng lợi như vậy sẽ làm
cho các nước Liêu, Tây Hạ – một mối nguy hiểm lớn ở phía bắc – phải khiếp sợ.
Vì thế, nhà Tống tăng cường lực lượng vũ trang ở các tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây. Tham vọng xâm lược của nhà Tống ngày một nung nấu hơn. Các
quan cai trò ở miền nam Trung Quốc thường báo cáo lên triều đình xuyên tạc
tình hình thực tế. Như sau thắng lợi của Đại Việt đối với Chămpa vào năm 1069,
một viên quan ở Quế Châu là Phan Bội báo cáo lên vua Tống: “Giao Châu bò
đại bại ở Chămpa, quân không còn đến một vạn, lúc này có thế lấy được”.
Năm 1071, Tiêu Chủ, kẻ chủ trương tiến hành các chính sách cứng rắn đối
với Đại Việt được bổ nhiệm cai quản Quế Châu. Ngay từ năm 1053, y đã tham
gia việc đàn áp Nùng Trí Cao. Tiêu Chủ thông qua các bộ tộc sống ở vùng giáp
giới, tích cực do thám tình hình Đại Việt, biết rõ thắng lợi của Đại Việt trong
Quốc nhưng không loại bỏ việc xâm chiếm bằng lực lượng vũ trang lãnh thổ của
các bộ tộc không thực lòng liên minh với Đại Việt. Như vào năm 1074, Tiêu
Chủ tâu lên vua Thần Tông việc một châu bò chiếm mất.
Giữa lúc đó, tình hình ở vùng biên giới phía bắc nước Tống trở nên căng
thẳng. Nước Liêu đe doạ xâm lược, đòi phải cắt cho một phần đất mới. Vua
Tống buộc phải điều toàn bộ binh lính mới tuyển lên phía bắc. Vì vậy, Thẩm
Khởi lúc này đang xúc tiến chuẩn bò cuộc chiến tranh với phương nam, bất đắc
dó bò gọi về triều đình, vì sợ Đại Việt trả thù. Thẩm Khởi bò bãi chức. Một viên
quan khác là Lưu Di được cử thay thế, có nhiệm vụ hòa hoãn quan hệ với các
“chư hầu”. Tuy nhiên, điều đó không có nghóa là cuộc tấn công xuống phía nam
bò bãi bỏ, mà theo nhà Tống, thời điểm này chưa thích hợp.
Vào đầu năm 1075, nhà Tống cắt một phần lãnh thổ ở phía bắc cho nước
Liêu, cuộc xung đột giữa nhà Tống và Liêu tạm chấm dứt. Một lần nữa, nhà
Tống lại nhòm ngó xuống phía nam. Lưu Di được lệnh tăng cường quân đội và
đình chỉ việc buôn bán qua biên giới.
Trong triều đình Lý, phái của Lý Thường Kiệt – người nắm gần như toàn bộ
quyền hành trong nước thắng thế. Đại Việt chú ý theo dõi các chính sách của
nhà Tống và nắm vững được tình hình ở các tỉnh miền nam Trung Quốc.
Lý Thường Kiệt biết rõ cuộc xâm lược của nhà Tống là không tránh khỏi,
đồng thời ông cũng nhận thấy lúc này người Tống chưa sẵn sàng phát động
chiến tranh, lực lượng vũ trang của họ ở phía nam cũng mới chỉ ở giai đoạn
chuẩn bò bước đầu. Ngoài ra, một nhà nho ở tỉnh Quảng Tây bất mãn với chính
quyền nhà Tống, đã gửi tới triều đình Đại Việt một bức thư, thông báo về việc
chuẩn bò xâm lược của nhà Tống, khuyên nên đánh đòn phủ đầu, cũng như sẽ
giúp đỡ khi quân đội Đại Việt tiến vào đất Tống. Toàn bộ tình hình này khiến
Lý Thường Kiệt thấy cần phải đánh một đòn mạnh vào các tỉnh phía nam Trung
Quốc. Dự đònh của Lý Thường Kiệt được Hoàng thái hậu Ỷ Lan và quần thần
ủng hộ. Lý Thường Kiệt bắt đầu tập trung quân lên biên giới. Đồng thời, Đại
Việt cũng gây áp lực về ngoại giao với nhà Tống, đòi trả Thiên Mỹ và những
vùng đất đai bò chiếm. Điều này được lợi dụng như một cái cớ để Đại Việt tấn
bằng thuyền chiến.
Số lượng quân Đại Việt không được ghi chép rõ ràng. Các sử liệu Trung
Quốc cho biết có từ sáu đến tám vạn người, còn các sử liệu Việt Nam thì lại đưa
ra con số là mười vạn. Vấn đề phức tạp bởi những ghi chép trên không tính cụ
thể số binh lính của các bộ tộc miền núi, việc phỏng đoán hoàn toàn chỉ có ý
nghóa tương đối. Có lẽ số quân thực tế tham gia chiến dòch không quá tám đến
mười vạn người. Nếu lưu ý một chút, ta biết trong cuộc hành quân tới Chămpa
có gần năm vạn binh lính tham gia hoàn toàn bằng đường thủy, trong trường hợp
này còn có cả lực lượng bộ binh và đối phương ở đây rất mạnh – do đó, quân số
rõ ràng phải đông hơn rất nhiều.
Trang bò của quân đội Đại Việt bao gồm cung, tên, giáo, súng bắn đá. Voi
chiến được sử dụng như một lực lượng xung kích tấn công, có số lượng lớn .Vào
tháng 10 - 1075, lực lượng bộ binh bắt đầu tiến đánh các trại Tống dọc biên giới.
Theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt, lực lượng bộ binh sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho thủy quân đổ bộ. Kế hoạch đã thành công. Những toán quân của các bộ lạc
miền núi chiếm một cách dễ dàng lãnh thổ vùng giáp giới, tiêu diệt các đồn binh
nhỏ của nhà Tống cùng với chỉ huy của họ. Đúng lúc đó, chiến thuyền của Lý
Thường Kiệt đã tiến đến Khâm Châu, sau đó tới Liêm Châu và đổ bộ lên đất
liền, tạo sự bất ngờ đối với nhà Tống. Vào thời điểm đó, quan cai trò Khâm
Châu là Trần Vinh Thái vẫn đang ăn uống vui vẻ. Các đồn binh Tống bò đánh
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 23 -
vậy, một khó khăn lớn đặt ra trước Lý Thường Kiệt trong việc chiếm thành, hơn
nữa quân đội Đại Việt lại chưa có kinh nghiệm trong việc đánh thành. Nhiều lần
quân đội Đại Việt tấn công không hạ được thành. Từ Quế Châu, Lưu Di phái
một lực lượng tới Ung Châu cứu viện. Viên chỉ huy đạo quân này là Trương Thủ
Tiết không kiên quyết, tiến quân chậm chạp và tới đầu tháng giêng năm 1076
thì bò Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn. Trương Thủ Tiết và hầu như toàn bộ
tướng lónh đều bò giết, binh lính tan vỡ.
Sau đó, Lý Thường Kiệt tập trung toàn bộ lực lượng của mình chiếm Ung
Châu. Việt sử lược ghi lại đầy đủ nhất về cuộc bao vây này như sau: Quan coi
Trần Văn Bảo
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 24 -
châu (Ung) là Tô Giám giữ thành cố thủ. Ta làm phi thê (thang mây) để trèo lên
thành; kẻ kia đem dùng hoả cụ (đuốc lửa), phi thê không thể đem đến gần, ta lại
dùng tên thuốc độc bắn, người ngựa ở trên thành chết chồng chất lên nhau. Kẻ
kia dùng cung thần tí bắn, tượng quân của ta có nhiều người chết. Thành cao và
kiên cố, ta đánh hơn 40 ngày không hạ được. Ta bắt được người Tống, họ dạy ta
cách dùng bao đất áp vào thành mà trèo lên. Thường Kiệt nghe theo. Thành bèn
bò hãm. Tô Giám chạy về châu thự, trước tiên giết bọn gia thuộc 36 người, sau
đốt lửa tự thiêu mình. Quân só tìm Giám không thấy, bèn giết hết lại dân hơn
năm vạn người.
Sau khi chiếm được thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt muốn nhân đà thắng
lợi tiến quân lên phía bắc. Giữa lúc đó, nhà Tống đã cử một lực lượng lớn để
Khoa Lòch Sử
Lòch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
- 25 -
về phía Tống, nguyên nhân tại sao hoàn toàn chưa rõ. Đại Việt sử ký toàn thư
cho biết: Vào tháng 8-1075, Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Chămpa. Theo
tài liệu này thì cuộc tiến quân không đạt được thắng lợi, ông bèn họa đòa đồ
hình thế núi sông của ba châu Bố Chính, Đòa Lý, Ma Linh. Đoạn ghi chép trên
đây nằm sau đoạn ghi chép về cuộc tiến quân sang nam Trung Quốc đã nói ở
trên, nhưng về thời điểm xảy ra lại sớm hơn một năm so với ghi chép trong Việt
sử thông giám cương mục. Việt sử thông giám cương mục không hiểu vì sao lại
chép sự kiện nêu trên xảy ra vào tháng 8-1075, tức là trước cuộc tiến quân sang
đất Tống. Cuộc tiến quân đánh Chăm Pa có thể diễn ra vào năm 1076 nhằm
ngăn chặn việc nhà Tống dùng Chămpa uy hiếp Đại Việt từ phía nam. Trong
trường hợp này, Lý Thường Kiệt sẽ rất mạo hiểm nếu đem quân đi đánh
Chămpa như đã diễn ra vào năm 1069, bởi vì nguy cơ một cuộc xâm lược quy
mô lớn của nhà Tống đã đến gần. Chiến tranh có thể sẽ kéo dài và các khu vực
phía bắc đất nước (kể cả Thăng Long), sẽ không được bảo vệ trước cuộc tiến
công của nhà Tống. Lý Thường Kiệt dường như chỉ biểu dương sức mạnh quân
sự vung biên giới và điều này đã đạt được mục đích – Chămpa không dám
chống lại Đại Việt.
Nhà Tống tổ chức một lực lượng lớn để tiến công Đại Việt. Lực lượng bộ
binh bao gồm trên mười vạn người, trong đó có một vạn quân chính quy được
điều động từ biên giới phía bắc xuống. Những binh lính này được huấn luyện
chu đáo và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu qua các cuộc chiến tranh với người
Khiết Đan và Đột Quyết. Bộ phận kỵ binh gồm một vạn người, ngựa, là lực
phía sau bảo vệ kinh đô và vùng Thiên Đức – quê hương của nhà Lý, nơi có
nhiều lăng tẩm của các vua Lý.
Cuối năm 1076 đầu năm 1077, lực lượng chủ yếu của quân Tống chia thành
nhiều bộ phận đã vượt qua vùng núi phía bắc. Họ mua chuộc được một số thủ
lónh đòa phương. Ở nhiều nơi, quân Tống phải giao chiến với các nhóm phục kích
hoặc tìm cách tránh không đụng độ để tiến về phía trước. Chúng đi vòng tránh
đèo Động Giáp; quân Tống cho rằng lực lượng chính của Lý Thường Kiệt phục
kích ở đó cho nên cho cánh quân bảo vệ sườn ra ứng chiến để đội hình chính
tiến về Thăng Long. Nhưng cuộc tiến quân của quân Tông bò chặn lại bởi phòng
tuyến sông Cầu. Chiêu thảo sứ Quách Quỳ hy vọng chiến thuyền sẽ từ phía biển
tiến vào. Một viên tướng của y tên là Miêu Lý liều mạng vượt sang bờ nam
bằng cầu phao. Lực lượng đột kích của quân Tống bò quân Lý Thướng Kiệt tiêu
diệt hoặc bắt sống. Thất bại này buộc Quách Quỳ phải tạm hoãn cuộc tiên
squân của đại binh, chờ thuỷ binh tiến vào. Nhưng đòn tiến công của Đại Việt
vào quân Tống cũng không thành công. Hai hoàng tử Hoàng Chân và Chiêu
Văn chỉ huy vài ngàn quân trên 400 chiến thuyền tiến sang bờ bắc tấn công đối
phương nhưng thất bại và khi rút lui phải chòu tổn thất lớn. Quân Tống dùng súng
bắn đá bắn trả quyết liệt. Hai hoàng tử hy sinh.
Quách Quỳ loan tin “thắng lớn” quân Đại Việt nhưng không mang quân
đuổi theo vì thực tế, y không có thuyền để chở quân sang. Theo kế hoạch, thuỷ
binh Tống sẽ vượt qua Động Kênh, sau đó qua sông Bạch Đằng tiến vào, hợp
với bộ binh của Quách Quỳ. Kế hoạch này không thực hiện được. Thủy binh
Tống bò chặn đứng ở Vónh An. Trong khi đó, bộ binh của cả hai phía vẫn tiếp tục
đóng ở hai bên bờ sông. Gần 40 ngày trôi qua kể từ sau cuộc tiến công không
thành của phía Đại Việt. Quân Quách Quỳ lâm vào tình thế phải đối mặt với sự
thiếu lương thực và dòch bệnh của mùa hè phưng nam. Tuy nhiên, Quách Quỳ
vẫn chưa quyết đònh rút quân vì biêt rõ rằng làm như vậy y sẽ bò trò tội.
Lý Thường Kiệt sau khi phân tích tình hình, cho rằng nếu quân Tống buộc
phải rút lui trong tình thế như vậy sẽ là một nỗi nhục đối với nhà Tống. Kẻ thù
có thể sẽ mở những cuộc xâm lược mới với quy mô lớn hơn. Vì thế, ông quyết