on tap kinh te chinh tri - Pdf 35

TÀI LIỆU ÔN TẬP
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

VẤN ĐỀ I: SẢN XUẤT VÀ TÁI SẢN XUẤT XÃ HỘI
1. Vì sao Mác khẳng định: Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho sự
tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại?
- Trong đời sống xã hội có rất nhiều những hoạt động khác nhau như hoạt động
chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, Khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật... Nhưng để
thực hiện được mục đích của các hoạt động đó thì trước hết đòi hỏi con người phải tồn tại,
phải sống. Muốn tồn tại, muốn sống thì bắt buộc con người hàng ngày phải tiêu dùng
những tư liệu sinh hoạt cần thiết như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, tư liệu sản xuất ... tất cả
những tư liệu sinh hoạt đó không phải là những sản phẩm do tự nhiên hay thượng đế ban
phát mà nó là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người tạo ra. Vì vậy Mác
khẳng đinh rằng quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho
sự tồn tại và sống còn của lịch sử nhân loại.
2. Phân tích vai trò của các nhân tố cấu thành quá trình lao động sản xuất ra của cải
vật chất và sự hình thành ra các bộ phận trong cơ cấu giá trị của sản phẩm.
Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội. Nhưng muốn có quá trình sản xuất đó thì Các Mác chỉ ra cần phải có 3 nhân tố sản
xuất cơ bản đó là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động.
a) Đối tượng lao động:
- Khái niệm: Đối tượng lao động là toàn bộ các vật mà lao động của con người tác
động vào làm thay đổi nó cho phù hợp với mục đích của con người.
- Đối tượng lao động bao gồm: :
+ Những vật có sẵn trong tự nhiên nhưng đã được thăm dò, qui hoạch đưa vào sản
xuất (quặng, cây trên rừng,…là đối tượng của ngành khai thác, khai khoáng
+ Những vật đã trải qua chế biến (kết quả của quá trình trước là nguyên liệu của
quá trình sau): bông là nguyên vật liệu, là đối tượng lao động của ngành chế biến chế tạo
b) Tư liệu lao động:
- Khái niệm: tư liệu lao động là các vật, hệ thống các vật dùng để truyền dẫn lao
động của con người tác động vào đối tượng lao động.

dụng sức lao động để tiến hành quá trình sản xuất.
- Đặc điểm lao động của con người khác với hoạt động của loài vật:
+ Lao động của con người là hoạt động có mục đích, có dự định, tính toán trước
+ Lao động của con người biết chế tạo và sử dụng công cụ, chính quá trình lao
động hình thành nên ý thức của con người.
+ Lao động của con người có tính sáng tạo, tính tự giác và tính xã hội.
- Bất kỳ sản phẩm nào do lao động của con người tạo ra thì nó cũng có giá trị, trong
cơ cấu giá trị của sản phẩm bao gồm 2 bộ phận cấu thành đó là giá trị cũ (C) và giá trị
mới (V+m) hay tổng cơ cấu giá trị sản phẩm là C+V+m
Vai trò hai mặt của lao động trong hình thành các bộ phận cấu thành của lượng giá
trị hàng hoá:
+ Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ (giá trị tư liệu sản xuất) vào giá
trị sản phẩm (C)
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (V+m)
Giá trị mới nhập giá trị cũ tạo ra tổng lượng giá trị hàng hoá: C+V+m
3. Phương thức sản xuất xã hội là gì? phân tích mối quan hệ giữa 2 mặt cấu thành
2
phương thức sản xuất xã hội.
- Khái niệm: Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa 2 mặt của nền
sản xuất xã hội đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã từng lần lượt trải qua 5 phương thức sản
xuất từ thấp đến cao: xã hôi công xã nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong
kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản (mà giai đoạn đầu của nó là CNXH)
- Hai mặt của quá trình lao động sản xuất:
Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là quá trình kết hợp một cách biện chứng giữa
hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
* Lực lượng sản xuất: hay là sức sản xuất của xã hội nó phản ánh mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, thể hiện khả năng chế ngự tự nhiên của con người.
Lực lượng sản xuất bao gồm:
+ Toàn bộ tư liệu sản xuất, trong đó công cụ lao động giữ vai trò quyết định

lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của nền sản xuất, quan hệ sản xuất là hình
thức xã hội của nền sản xuất:
- Lực lượng sản xuất luôn vận động phát triển đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thay
đổi, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tác
động tích cực đối với lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp thì sẽ thúc đẩy
lượng sản xuất phát triển, nếu không phù hợp (quá chật hẹp, quá mở rộng) đều kìm hãm
lực lượng sản xuất.
- Mối quan hệ biện chứng lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phản ánh qui luật
khách quan đó là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất và suy
đến cùng sự thay đổi lần lượt các phương thức sản xuất trong lịch sử là do qui luật này chi
phối.
* Vậy, Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa 2 mặt của nền sản
xuất xã hội đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nếu vượt khỏi nó chuyển sang
một phương thức sản xuất mới.
4) Thế nào là tái sản xuất? Phân biệt các loại hình tái sản xuất. Trình bày nội dung
và các khâu cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội?
- Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và không ngừng đổi mới.
- Phân loại tái sản xuất:
+ Căn cứ vào qui mô của sản xuất phân thành tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng:
Tái sản xuất giản đơn: là quá trình sản xuất của năm sau được lắp lại với quy mô
như năm trước. Tái sản xuất giản đơn là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ dựa trên lao động
thủ công, năng suất thấp
Tái sản xuất mở rộng: là quá trình sản xuất năm sau lắp lại với qui mô lớn hơn năm
trước. Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng của sản xuất lớn, công nghiệp, tập trung, năng
suất cao. Điều kiện để tái sản xuất mở rộng là phải tích luỹ.
+ Căn cứ vào tính chất của tái sản xuất mở rộng phân thành tái sản xuất mở rộng
theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu.
Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng là tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra bằng

+ GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
+ GNP: Tổng sản phẩm quốc dân
Trong đó: GNP = GDP + Thu nhập từ nướcngoài
- Mức tăng trưởng hàng năm được tính của nền kinh tế sử dụng công thức
(GNP
1
- GNP
0
)
---------------- *100%
GNP
0
GNP
1:
Năm sau
GNP
0:
Năm trước
- Nhân tố tăng trưởng kinh tế:
+ Nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định.
+ Khoa học công nghệ là động lực
+ Tài nguyên và vốn
+ Thể chế chính trị
- Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế ổn định gắn liền với hoàn chỉnh cơ cấu
và thể chế kinh tế
- Nội dung của tăng trưởng kinh tế: Sự tăng trưởng ổn định: Phát triển kinh tế có
nội dung rộng hơn tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả việc chuyển dịch cơ cấu và hoàn thiện
thể chế kinh tế, việc bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, đảm bảo
phát triển bền vững.
- Những nhân tố phát triển kinh tế:

+ Tồn tại sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất (điều kiện đủ)
a) Phân công lao động xã hội
- Khái niệm: Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các
hình thức khác nhau, sự phân chia nền kinh tế thành ngành nghề
Do sự chuyên môn mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài loại sản phẩm nhưng
nhu cầu lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau cho nên người này cần sản phẩm của
người kia, giữa họ hình thành mối quan hệ trao đổi sản phẩm cho nhau. Chính phân công
lao động xã hội là cơ sở của sự trao đổi.
b) Sự tách biệt về kinh tế:
6
Giữa những người sản xuất chia rẽ nhau, độc lập nhau, mỗi người là một chủ thể
tách biệt, trong điều kiện này thì việc trao đổi sản phẩm được thực hiện dưới hình thái là
trao đổi hàng hoá, tức là thông qua quan hệ hàng hoá, tiền tệ.
Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại dựa trên hai điều kiện trên, chừng nào còn tồn tại
hai điều kiện đó thì kinh tế hàng hoá còn tồn tại khách quan.
3. Quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá: qua các hình thức sau đây:
- Sản xuất hàng hoá giản đơn.
- Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa.
Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của những người nông dân, thợ
thủ công, cá thể dựa trên chế độ tư hữu nhỏ và lao động của chính bản thân họ.
Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao,
quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư bản với
sức lao động của công nhân làm thuê.
Phân biệt sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa:
- Giống nhau: Đều là sản xuất hàng hoá dựa trên hai điều kiện.
- Khác nhau:
Sản xuất hàng hoá giản đơn Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa
- Trình độ thấp, qui mô nhỏ, phân tán, dựa
trên lao động thủ công
- Trình độ cao, tập trung, sản xuất công

động kinh tế. Để thu được nhiều lợi nhuận thì từng người sản xuất cải tiến kỹ thuật, nâng
7
cao năng suất, hạ thấp chi phí sản xuất, tạo động lực thúc đẩy kinh tế.
- Kinh tế hàng hoá ra đời, tồn tại dựa trên sự phát triển của phân công lao động
nhưng khi kinh tế hàng hoá phát triển, mở rộng trao đổi thì nó tạo ra tiền đề để thúc đẩy
phân công lao động chuyên môn hoá.
- Kinh tế hàng hoá phát triển thích ứng và hết sức năng động đã tạo điều kiện và
khả năng và cả nhu cầu để nâng cao trình độ tổ chức quản lý.
VẤN ĐỀ III: HÀNG HOÁ
1. Hàng hoá là gì? phân tích các thuộc tính cơ bản của hàng hoá.
* Khái niệm: Hàng hoá là sản phẩm của lao động nó có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của
con người, nó được sản xuất ra để bán, trao đổi trên thị trường.
* Phân tích các thuộc tính cơ bản của hàng hoá: Hàng hoá có hai thuộc tính:
- Thoả mãn nhu cầu của con người, tức là hàng hoá có giá trị sử dụng.
- Dùng để trao đổi, tức là hàng hoá có giá trị trao đổi (hay là giá trị)
a) Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của vật, nhờ thuộc tính tự nhiên của nó có
thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Nội dung của giá trị sử dụng:
+ Công dụng của vật là do thuộc tính tự nhiên quyết định (lý tính, hoá tính)
+ Công dụng và phương pháp để lợi dụng nó dần được phát hiện ra cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật.
+ Giá trị sử dụng được thể hiện ra khi tiêu dùng thoả mãn nhu cầu của con người.
+ Giá trị sử dụng là nội dung của cải, là phạm trù vĩnh viễn, tồn tại lâu dài, không
phụ thuộc vào tính chất xã hội.
+ Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá trị sử dụng là cho người khác thông qua
trao đổi, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
b) Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng giữa giá trị sử dụng này với giá trị sử dụng
khác.
Phương thức trao đổi là 1m vải = 5 kg thóc.
Lúc mới trao đổi chưa có tiền, sản phẩm nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp.

- Giá trị hàng hoá là phạm trù vật chất, không tồn tại hình thái vật thể.
2) Vì sao hàng hoá có hai thuộc tính? Phân tích tính hai mặt của lao động sản xuất
hàng hoá:
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính giá trị (hay giá trị trao đổi) và giá trị sử dụng là
bởi vì lao động của người sản xuất ra hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao
động trừu tượng.
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định hai thuộc tính của hàng
hoá.
* Lao động cụ thể:
- Lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức nhất định, có nghề nghiệp
chuyên môn nhất định, có phương pháp riêng, có đối tượng riêng, mục đích riêng và kết
quả riêng.
VD: thợ may áo ->vải ->kéo, kim -> cắt, may -> áo
Thợ xây -> gạch – Bay, xẻng.. -> xây, trát -> nhà
Nội dung (Đặc trưng) của lao động cụ thể:
+ Lao động cụ thể là lao động khác nhau về chất, ví dụ lao động của người thợ dệt
khác về chất với lao động của người nông dân.
+ Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội.
+ Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của vật.
+ Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn.
* Lao động trừu tượng:
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá nếu xét đó là sự hao
phí sức lao động nói chung của con người mà không kể đến hình thức cụ thể như thế nào.
Ví dụ 1m vải = 5 kg thóc
Xét về lao động cụ thể thì lao động của người thợ dệt và lao động của người nông
dân khác về chất, về đối tượng, về mục đích.
9
Nhưng đổi với nhau thì đằng sau sự khác nhau đó chứa đựng một cái gì chung.
Gạt bỏ hình thức cụ thể của sức lao động đi thì lao động sản xuất ra vải và lao động
sản xuất ra thóc đều là sự hao phí sức lao động nói chung của con người, hiểu theo nghĩa

chất và mặt lượng:
Chất của giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng (lao động xã hội)
Lượng của giá trị chính là số lượng của lao động đó
Số lượng lao động lại được đo bằng thời gian lao động, thời gian lao động được
chia thành ngày, giờ,...nhưng đó không phải là thời gian lao động cá biệt mà là thời gian
lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị
10
hàng hoá trong điều kiện trung bình của xã hội, tức là với trình độ thành thạo trung bình,
năng suất lao động trung bình và cường độ lao động trung bình.
Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết quy định lượng giá trị hàng hoá,
nó nghiêng về với thời gian lao động cá biệt của nhóm người sản xuất ra một khối lượng
hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn cung cấp ra thị trường.
Thời gian lao động trung bình không phải là trung bình số học mà là bình quân gia
quyền:
∑t i qi
T = -------------
∑qi
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá:
Lượng giá trị của 01 đơn vị hàng hoá thay đổi tỷ lệ thuận với số lượng lao
động và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội.
*) Năng suất lao động:
- Năng suất lao động là hiệu quả có ích của lao động nó được xác định bằng số
lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian để sản xuất
ra 1 đơn vị sản phẩm.
- Tăng năng suất lao động là tăng hiệu quả có ích của lao động biểu hiện là tăng số
lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, là rút ngắn thời gian để sản
xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.
Tăng năng suất lao động (khi cường độ lao động không đổi) làm cho số lượng sản
phẩm tăng nhưng lượng giá trị sản phẩm tạo ra trong thời gian đó không đổi, do đó giá trị

động giản đơn về lao động giản đơn trung bình của xã hội.
Vậy: lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động trung bình xã hội
cần thiết.
*) Phân biệt sự hình thành lượng giá trị hàng hoá trong nông nghiệp và trong
công nghiệp:
- Giống nhau: Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần
thiết.
- Khác nhau:
+ Lượng giá trị hàng hoá trong công nghiệp được hình thành dựa trên điều kiện
trung bình của ngành
+ Lượng giá trị hàng hoá trong nông nghiệp hình thành dựa trên điều kiện sả xuất
xấu nhất (độ màu mỡ xấu nhất, xa nơi tiêu thụ nhất) vì:
. Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, chỉ có hạn, là do độc
quyền tư hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng trên ruộng đất có điều kiện
sản xuất thuận lợi thì đã được đưa vào sản xuất kinh doanh.
. Nhu cầu lương thực của xã hội ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu đó thì phải
huy động cả vùng đất khó khăn vào tham gia sản xuất.
Để đảm bảo tái sản xuất trên những vùng đất kho khăn đó trước hết phải đảm bảo
đủ bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi cho nên lượng giá trị của nông sản phẩm
được hình thành trên điều kiện sản xuất xấu nhất.
c) Cơ cấu của lượng giá trị hàng hoá:
Giá trị hàng hoá do lao động tạo ra gồm hai bộ phận:
- Gía trị cũ do lao động quá khứ tạo ra, được vật chất hoá vào lao động sản xuất
(C)
- Giá trị mới do lao động sống trực tiếp tạo ra (V+m)
Tổng lượng giá trị hàng hoá: C+V+m
* Vai trò hai mặt của lao động trong hình thành các bộ phận cấu thành của
lượng giá trị hàng hoá. Lao động sản xuất hàng hoá có hai mặt:
- Lao động cụ thể bảo tồn, di chuyển giá trị cũ, giá trị tư liệu sản xuất vào giá trị
sản phẩm.

+ 5 kg thóc
+ 1 cái rừu
+ 1 con cừu
Trong trao đổi đã xuất hiện mâu thuẫn: Người này cần hàng hoá của người kia
nhưng người kia cần hàng hoá của người khác.
Giải quyết mâu thuẫn trên tức là trao đổi gián tiếp qua một hàng hoá mà ai cũng
cần và trao đổi phát triển.
c) Hình thái giá trị chung:
- Đại phân công lao động xã hội phát triển thì trao đổi thường xuyên hơn, đòi hỏi
cần có một hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, nhiều hàng hoá biểu hiện giá trị ở một
13
hàng hoá là vật ngang giá, đây là sự phát triển mới nhất về chất.
Ví dụ:
+ 5 kg thóc biểu hiện giá trị 5 kg thóc
+ 1 cái rừu biểu hiện giá trị 5 kg thóc
+ 1 con cừu biểu hiện giá trị 5 kg thóc
Nhưng hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá mới chỉ thống nhất trong từng địa
phương.
Khi trao đổi mở rộng vượt khỏi phạm vi thì nảy sinh mâu thuẫn. Giải quyết mâu
thuẫn trên đòi hỏi vật ngang giá phải thống nhất ở một hàng hoá, trao đổi phát triển ở hình
thái cao hơn dẫn đến hình thái tiền tệ.
d) Hình thái tiền tệ:
Khi trao đổi trở nên thường xuyên hơn tất yếu đòi hỏi vật ngang giá phải thống nhất
lại. Khi vật ngang giá thống nhất cố định ở vàng thì tiền tệ ra đời.
Sở dĩ vàng đóng vai trò tiền tệ, bởi vì:
- Vàng do thuộc tính tự nhiên quyết định: không bị oxy hoá, dễ dát mỏng, chia
nhỏ, một trọng lượng nhỏ biểu hiện cho lượng lao động lớn.
- Không phải do thuộc tính tự nhiên đó mà vàng trở thành tiền tệ mà do thuộc tính
xã hội, do yêu cầu trao đổi phát triển mà tiền tệ ra đời.
Tiền tệ ra đời làm thế giới phân chia làm hai: Một bên là tất cả các hàng hoá thông

Lượng tiền cần
thiết trong lưu
thông
Tổng giá cả
hàng hoá
Số tiền đến kỳ
hạn phải trả
Số tiền thanh
toán khấu trừ
cho nhau
Số tiền thanh
toán không
dùng tiền mặt
Số vòng luân chuyển của đồng tiền cùng loại (đơn bản vị)
PQ
M = --------
V
M: Khối lượng tiền
P: Gía cả
Q: Số lượng hàng hoá
V: Tốc độ chu chuyển của tiền
Lạm phát là do phát hành tiền vào lưu thông vượt khỏi số lượng tiền cần thiết trong
lưu thông, làm cho mất cân đối hàng hoá - tiền tệ.
Mức lạm phát: Biểu hiện ở chỉ số giá cả hàng tiêu dùng tăng.
- Chức năng phương tiện thanh toán:
Tiền dùng làm phương tiện thanh toán, chi trả.
- Chức năng phương tiện tích luỹ hoặc cất trữ:
Thực hiện chức năng này phải là tiền có đầy đủ giá trị, tiền vàng, tiền đi vào cất trữ
hay ra lưu thông là do sự biến động của giá cả thị trường.
- Chức năng tiền tệ quốc tế:

Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra
dùng để bán, để trao đổi trên thị trường, nó vận động chịu sự tác động các qui luật kinh tế
riêng có của nó:
+ Qui luật lưu thông tiền tệ
+ Qui luật cung cầu
+ Qui luật giá trị
Trong đó Qui luật giá trị là qui luật cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá.
3) Qui luật giá trị:
Qui luật giá trị là qui luật vận động của hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Quy luật giá trị yêu cầu: Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên hao
phí lao động xã hội cần thiết. Trong lĩnh vực sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải
phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là phải nhỏ hơn hoặc bằng lao động xã
hội cần thiết, cho nên từng người sản xuất bằng mọi cách hạ thấp chi phí cá biệt nhằm thu
nhiều lợi nhuận. Trong trao đổi thì quy luật giá trị yêu cầu phải tuân thủ theo quy luật
ngang giá (mua bán đúng giá trị)
- Tác dụng của qui luật giá trị:
+ Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
. Điều tiết sản xuất là phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành
thông qua sự biến động của giá cả và quan hệ cung cầu trên thị trường, một ngành nào đó
có cung tăng vượt cầu làm cho giá cả hàng hoá giảm xuống (đến chi phí), người sản xuất
bỏ ngành này, di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động sang ngành cung chưa đáp ứng
đủ cầu, cứ như vậy có sự điều tiết qua lại giữa các ngành tạo ra một sự cân bằng.
16
. Điều tiết lưu thông tức là điều tiết nguồn hàng từ nơi có giá thấp đến nơi có giá
cao.
+ Kính thích sản xuất phát triển:
Trong nền sản xuất hàng hoá, lợi nhuận vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy
hoạt động kinh tế, để đạt được mức độ thu nhiều lợi nhuận, người sản xuất không ngừng
cải tiến kỹ thuật, vận dụng công nghệ mới tăng năng suất lao động, giảm chi phí (đến mức
tối thiểu), tối đa lợi nhuận, kích thích sản xuất phát triển.

a) Điều kiện ra đời của sản xuất tư bản chủ nghĩa: hai điều kiện
- Người lao động được tự do về thân thể và bị tước hết tư liệu sản xuất vì vậy
muốn duy trì cuộc sống thì phải bán sức lao động làm thuê, sức lao động trở thành hàng
hoá
- Phải có một lượng tiền của, tài sản đủ lớn tập trung vào tay một số ít người để
lập ra xí nghiệp và thuê nhân công
Hai điều kiện trên ra đời dưới tác động của các nhân tố sau:
17
- Qui luật giá trị (tác dụng 3) nhưng quá trình này diễn ra tuần tự, chậm chạp
- Tích luỹ nguyên thuỷ bằng bạo lực tước đoạt để thúc đẩy nhanh sự ra đời của
chủ nghĩa tư bản.
b) Quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá tư bản
chủ nghĩa:
Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của những người nông dân, thợ
thủ công, cá thể dựa trên chế độ tư hữu nhỏ và lao động của chính bản thân họ.
Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao,
quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư bản với
sức lao động của công nhân làm thuê.
Quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá tư bản chủ
nghĩa diễn ra khách quan, có tính qui luật sau đây:
- Tiến hành cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông nghiệp tập
trung, sản xuất hàng hoá lớn, tạo thị trường cho công nghiệp và tích luỹ cho
công nghiệp hoá.
- Cách mạng trong lĩnh vực lao động: Phân công lại lao động xã hội, chuyển bộ
phận lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, là quá trình phát triển
nguồn nhân lực, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, tạo điều kiện cho các
ngành công nghiệp.
- Chuyển tư hữu nhỏ thành tư hữu lớn tư bản chủ nghĩa thông qua quá trình tích
luỹ, tập trung tư bản, tích tụ tập trung sản xuất.
- Tăng cường vai trò của Nhà nước thông qua các chính sách, luật thuế quan để

kinh tế tư bản dưới các hình thức cạnh tranh cụ thể như cạnh tranh trong nội bộ từng
ngành và giữa các ngành sản xuất. Để tồn tại và phát triển được trong môi trường cạnh
tranh quyết liệt thì bắt buộc các nhà tư bản phải đi đến thoả thuận phân chia nhau lợi
nhuận theo nguyên tắc tỷ suất lợi nhuận bình quân và hình thành ra phạm trù lợi nhuận
bình quân.
P

= tổng m/tổng (c+v)
Đến đây quy luật giá trị, quy luật của kinh tế hàng hoá có hình thức biểu hiện mới
đó là quy luật giá cả sản xuất (giá cả sản xuất = Chi phí sản xuất + lợi nhuận bình quân)
Nhưng sang đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nền kinh tế tư bản xuất hiện
cơ chế độc quyền vì vậy các nhà tư bản có thể đề ra giá cả độc quyền lớn hơn hoặc nhỏ
hơn giá trị hàng hoá để trên cơ sở đó mà thu được lợi nhuận độc quyền. Vì vậy trong giai
đoạn này quy luật giá trị mang một biểu hiện mới đó là quy luật giá cả độc quyền (giá cả
độc quyền = chi phí sản xuất + lợi nhuận bình quân + lợi nhuận độc quyền)
3- Phân tích mối quan hệ giữa các phạm trù giá trị, giá trị thị trường và giá cả?
Khái niệm :
- Giá trị: giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết
tinh trong hàng hoá
- Giá trị thị trường (giá trị xã hội của hàng hoá): là lao động xã hội có tính chất
trung bình của những người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
- Giá cả hàng hoá: là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá trên thị trường.
Mối quan hệ:
- Giá trị hàng hoá bao giờ cũng là nội dung và có ý nghĩa quyết định.
- Giá trị thị trường của hàng hoá là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá trên thị
trường dưới sự tác động của quan hệ cung cầu.
- Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện giá trị thông qua một lượng tiền mặt nhất
định.
Trong 3 phạm trù thì giá trị hàng hoá có ý nghĩa quyết định nhưng trong thực tế giá
cả có thể tách rời giá trị do

Đảng Cộng sản Mác có viết: Lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản đó là những trang đầy
máu và nước mắt của giai cấp vô sản làm thuê, là lịch sử đầm đìa máu và bùn nhơ trong
từng lỗ chân lông của giai cấp tư sản.
VẤN ĐỀ VI: SỰ CHUYỂN HOÁ TIỀN TỆ THÀNH TƯ BẢN
1) Công thức chung của tư bản:
- Tư bản là tiền nhưng không phải mọi tiền là tư bản, chỉ có tiền được sử dụng để
chiếm đoạt lao động của người khác thì tiền đó mới là tư bản.
- Tiền là tư bản hoạt động theo công thức T-H-T’ (T’=T+∆t) (1)
Sở dĩ (1) là công thức chung bởi vì mọi tư bản dù hoạt động trong ngành nào (công
20
nghiệp, thương nghiệp,...) cũng đều vận động theo công thức trên.
- Tiền thông thường vận động theo công thức H-T-H’ (2)
Phân biệt (1) và (2) làm rõ hơn tiền là tư bản và tiền thông thường:
- Giống nhau:
+ Đều gồm các yếu tố: H, T, người mua bán đối diện với nhau
+ Đều là sự thống nhất giữa hai giai đoạn đối lập với nhau.
- Khác nhau:
+ Trình tự tiến hành giai đoạn: ở (1) diễn ra mua - bán thì ở (2) diễn ra ngược lại
mua - bán
+ Khác nhau ở điểm bắt đầu và điểm kết thúc: ở (1) bắt đầu là T, kết thúc là T',
T'>T, còn H chỉ là trung gian; ở (2) bắt đầu là H, kết thúc là H, H khác nhau về giá trị sử
dụng, còn T chỉ là môi giới.
+ Mục đích và giới hạn cuộc vận động thì (1) mục đích tăng thêm là giá trị lớn lên
cho nên vẫn tiếp tục vận động trong lưu thông: T'1, T'2,... không có giới hạn cuối cùng,
còn ở (2) mục đích là H là giá trị sử dụng thì khi đạt mục đích thì rút ra khỏi lưu thông đi
vào tiêu dùng, cuộc vận động chấm dứt tại đây.
2) Mâu thuẫn công thức chung của tư bản:
Ở công thức (1) hình như mâu thuẫn với lý luận lưu thông, mâu thuẫn lý luận giá trị
lao động.
Vậy ∆t có phải do lưu thông tạo ra?

thông, nhưng đồng thời tư bản phát sinh vừa không phải trong lưu thông.
T - H (SLĐ, TLSX)...SX...H' - T'
Điều kiện để tiền là tư bản:
- Sức lao động trở thành hàng hoá
- Phải có lượng tiền đủ lớn.
Chính việc phát hiện ra hàng hoá sức lao động đã mở ra bí mật trong công thức
chung của tư bản và giải quyết mâu thuẫn trên.
3) Hàng hoá sức lao động:
a) Sức lao động và điều kiện sức lao động trở thành hàng hoá:
- Sức lao động là tổng hợp sức thân thể, sức thần kinh, sức cơ bắp có sẵn trong mỗi
cơ thể của con người, sức lao động không tồn tại ngoài con người, sức lao động là khả
năng lao động của mỗi con người.
Lao động là sự vận dụng (tiêu dùng) sức lao động được thể hiện ra trong quá trình
lao động sản xuất.
- Như vậy quá trình lao động sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa sức lao động và tư
liệu sản xuất, trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể, giữ vai trò quyết định; tư liệu sản
xuất là yếu tố khách thể, là điều kiện vật chất không thể thiếu được.
- Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người và nó diễn ra giữa
con người với tự nhiên nhằm cải tạo tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người.
- Phân biệt sức lao động và lao động: Sức lao động là một phạm trù hiện hữu, lao
động là một phạm trù trừu tượng, vì vậy Mác cho rằng người ta không thể nhìn thấy, sờ
mó thấy lao động mà lao động chỉ được thể hiện ra trong thực tiễn khi con người vận
dụng sức lao động để tiến hành quá trình sản xuất.
Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi nền sản xuất nhưng sức lao động trở thành
hàng hoá trong điều kiện nhất định, đó là:
+ Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao
động của mình, và chỉ có khi làm chủ sức lao động của mình mới mang sức lao động của
mình ra bán.
+ Người có sức lao động bị tước hết tư liệu sản xuất, muốn duy trì cuộc sống thì
phải bán sức lao động làm thuê.

thần lịch sử vì sức lao động là năng lực trong cơ thể sống của con người, mà con người
bao giờ cũng sống trong điều kiện lịch sử cụ thể, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn.
Mặt khác, nhu cầu của con người bao hàm cả nhu cầu cả vật chất và nhu cầu tinh
thần (vui chơi, giải trí, tự do tín ngưỡng,...) cấu thành.
* Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động giống hàng hoá thông
thường ở chỗ nó chỉ được thể hiện ra khi tiêu dùng thoả mãn nhu cầu của con người.
Nhà tư bản tiêu dùng sức lao động của công nhân tức là bắt công nhân lao động,
trong quá trình lao động người công nhân tạo ra một giá trị mới (V+m), trong đó có một
bộ phân ngang bằng với giá trị sức lao động (V), nhà tư bản dùng để trả công để tái sản
xuất sức lao động, còn một bộ phận dôi ra ngoài giá trị sức lao động (m) nhà tư bản chiếm
không.
Như vậy, khi tiêu dùng sức lao động, giá trị sử dụng sức lao động có đặc điểm khác
hàng hoá thông thường là khi tiêu dùng nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân
nó.
Còn hàng hoá thông thường nếu là tư liệu sản xuất khi tiêu dùng cho sản xuất thì
giá trị được chuyển dịch vào sản phẩm, còn nếu là tư liệu sinh hoạt khi tiêu dùng cho cá
nhân thì cả giá trị và giá trị sử dụng đều mất đi trong quá trình đó.
Ngược lại hàng hoá sức lao động khi tiêu dùng nó giá trị không những không mất
23
đi mà còn tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu.
Qua đó đã làm rõ bí mật công thức chung tư bản.
VẤN ĐỀ VII: SỰ SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
LÀ QUI LUẬT KINH TẾ CƠ BẢN (QUY LUẬT TUYỆT ĐỐI)
CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
1. Trình bày quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản.
a) Đặc điểm của sản xuất tư bản chủ nghĩa:
- Đó là quá trình sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, sản xuất có tính hai
mặt: Một mặt là sản xuất ra giá trị sử dụng, mặt khác là sản xuất ra giá trị và giá trị thặng
dư đó là mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp

+ Giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra trong 12 giờ (mỗi giờ 0,5 USD): 6
24
USD
Tổng giá trị 10kg sợi là 30 USD.
Nhà tư bản bán 20kg sợi đúng giá trị thu được 30USD, so với tư bản đã bỏ ra 30-
27=3 USD, nhà tư bản thu dôi ra 3 USD đó gọi là giá trị thặng dư
c) Nhận xét:
- Phân tích giá trị 20kg sợi do công nhân tạo ra, lao động của công nhân có tính hai
mặt:
+ Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị của bông, máy móc vào giá trị của
sợi C=24USD. Bộ phận này sau khi tiêu thụ hàng hoá thì được quay trở lại bù đắp tư liệu
sản xuất để tái sản xuất.
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới V+m = 6 USD, trong đó có một bộ phận
ngang bằng sức lao động V=3USD dùng để trả công cho công nhân để tái sản xuất sức
lao động, còn bộ phận dôi ra ngoài giá trị sức lao động m = 3 USD, đó là giá trị thặng dư
thì nhà tư bản chiếm lấy.
Vậy: Giá trị thặng dư là một phần của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân làm thuê tạo ra bị nhà tư bản chiếm không (kí hiệu: m)
Đến chủ nghĩa tư bản dựa trên sản xuất công nghiệp, năng suất lao động cao thì
ngày lao động (12 giờ) được chia thành hai phần:
- Thời gian lao động cần thiết (6giờ) tạo ra giá trị bằng giá trị sức lao động V=3
để tái sản xuất sức lao động.
- Thời gian lao động thặng dư (6giờ) tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản m=3
_______________._______________
Vậy: Sản xuất giá trị thặng dư là quá trình sản xuất giá trị kéo dài vượt khỏi giới
hạn tại một điểm mà giá trị sức lao động được trả ngang giá.
2) Bản chất của tư bản, tư bản bất biến và tư bản khả biến:
a) Tư bản là gì? Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao
động công nhân làm thuê của công nhân.
Tư bản không phải là máy móc thiết bị, không phải là vật mà tư bản là giá trị, giá


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status