PHẦN TH Ứ HAI
VÃN HOÁ VỚI PHÁT TRIỂN
VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI NHÌN TỪ cục DIỆN
VÃN HÓA CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẨU THẾ KỶ XXI
QUA THỰC TIỄN ĐÔNG Á
241
Chương V
CỤC D IỆN VĂN HOÁ TRONG PHÁT T R IÊN
KHU
Vực
CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
1. V ăn h o á tro n g bối c ả n h to à n cầu h o á kinh tê
Toàn cầu hoá đang ngày càng trở th àn h xu hướng
phô biến, tác động tới các quôc gia - dân tộc, các khu
vực trên th ế giới. Xu hướng toàn cầu hoá nôi bật trưốc
hết ở toàn cầu hoá kinh tê với sự phát triển của lực
lượng sản x u ấ t ngày càng rộng lớn, vượt ra khỏi phạm
vi quốc gia, th ậm chí vượt ra khỏi phạm vi khu vực để
trở th àn h lực lượng sản x u ấ t thê giới. Đà tiến như vũ
bão của cách m ạng khoa học - công nghệ từ những
thập kỷ cuối thê kỷ X X , sự bùng nổ thông tin, tiến bộ
công nghệ và x u ấ t hiện ngày càng nhiều công nghệ
càng có vẻ gặp phải sự mơ hồ và không nhất quán. Một
trong những điêu mơ hồ đó là các xu hướng đồng nhất
văn hoá vôn có của quá trình toàn cầu hoá theo đúng
nghĩa của nó có vẻ như kéo theo một sự pha tạp diễn ra
liên tục hoặc thậm chí còn được tăng cưòng vê m ặt văn
24 4
hóa. Theo các học giả nói trên thì các chuyên gia kinh
tế, các nhà khoa học chính trị và các chuyên gia thông
tin đại chúng là những người đầu tiên công khai đê cập
tới toàn cầu hoá và cố gắng thảo ra một lý thuyết về
tính toàn cầu. Họ nh ấn m ạnh đến n h ữ n g tác độ ng đồng
nhất hoá: Thông qua sự tác động của các công nghệ giao
thông vận tải mới và thông qua việc tăng cưòng lưu
thông hàng hoá và lưu thông con người trên cấp độ toàn
cầu thì sự khác biệt về văn hoá được coi rìhư không còn
nữa. Sự đồng nh ất hoá văn hoá này, dù nhìn nhận một
cách tích cực theo quan điểm không tưởng của Mc
Luhan về "ngôi làng toàn cầu", hay tiêu cực theo quan
điểm của chủ nghĩa đê quốc phương Tây, thì cả hai đều
cùng dựa vào một giả thuyết cho rằng thê giới đ a n g
nh a n h chóng đi tới chỗ đồng nhất. Quá trình đồng nhất
văn hóa đó được nói đến với việc toàn cầu hoá một sô
phong cách tiêu thụ đã gây ấn tượng nhàm chán, đơn
điệu như của Mc Donals và Coca - Cola.
Lại có một khuynh hưống khác, thiên về nhấn
m ạnh những sự khác biệt văn hóa. Theo đó, bản thân
quá trình toàn cầu hoá tỏ ra là đi đến chỗ làm tăng
cường những sự tương phản về m ặt văn hóa hoặc thậm
1. Xem: Peter Geschiere, Birgit Meyer: Toàn cầu hoá và bản
săc: Biện chứng giữa lưu thông và khép kín trong Toàn cầu hoá
với văn hoá, Viện Thông tin Khoa học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tháng 7-2000.
24 6
ch ất văn hoá đích thực, mà sự đồng nhất văn hóa
chính là sự đánh m ất ấy?
P h ải chăng, tính khép kín văn hóa như là một
th ái độ phản ứng, dù là thụ động và không có triển
vọng, nhằm chông lại những m ặt trá i của toàn cầu
hoá, của khuynh hướng sôvanh muốn áp đặt văn hóa
của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, hoặc
của th ái độ thực dân và những hành động xâm lăng
văn hóa của chủ nghĩa đê quốc?
Nói tới văn hóa trong sự phát triển nội tại của nó
cũng như vai trò và sự hiện diện của văn hóa trong
phát triển xã hội, là nói tới một phức hợp chỉnh thê
của thống nhất trong đa dạng, của tính phong phú,
muôn vẻ những sự khác biệt, đa dạng hướng tối thống
n h ất chỉnh thể, biểu hiện ra bởi nền văn hóa của từng
dân tộc.
Không có những sự khác biệt và đa dạng trong
chỉnh thể sẽ không thê hình dung được sự sông động
của các bản thể văn hóa sẽ ra sao. Sự sống động ấy kết
tinh ở bản sắc, phát lộ ra từ bản sắc của mỗi nên văn
hóa dân tộc trong lòng mỗi quốíc gia - dân tộc, dù đó là
một quôc gia - dân tộc thuần nhất hay là một quôc gia dân tộc đa tộc người. Không thể phủ nhận bản sắc cũng
Mỗi dân tộc trong tư cách chủ thể sáng tạo văn hóa
thường đem những bản sắc văn hoá của mình góp vào
kho tàng chung của văn hóa nhân loại, giống như mang
tấm căn cưốc, diện mạo tâm hồn, nhân cách của mình
248
đi vào đời sống văn hóa th ế giới, hiện diện cùng với các
cộng đồng dân tộc khác. Văn hoá, trong hình thức sản
phẩm của nó, hoặc vật thể hoặc phi vật thể đều do
những chủ thể xác định nào đó sáng tạo ra trong hoạt
động. Đến lượt nó, những thành quả, giá trị văn hóa
được tạo ra, không sông đời sông vị kỷ, hẹp hòi và cô độc
mà gia nhập vào đời sông vị tha, hoà hợp và khoan
dung của văn hóa nhân loại. Do đó, như một tính quy
luật của tồn tại và phát triển văn hóa, văn hóa tự biểu
hiện, tự kh ẳ n g đ ịn h mình bằng tính rộng m ờ chứ không
phải tính khép kín.
Hội nhập kinh tế để phát triển đồng thòi là hợp tác,
giao lưu, đổi thoại văn hóa, nó thúc đẩy phát triển và
hướng tới phát triển bền vững, lôgíc lịch sử tự nhiên là
như vậy trong nhận thức và ứng xử văn hóa.
Vấn đề là ở chỗ, làm th ế nào và bằng cách nào để
ph át triển văn hóa dâ n tộc trên con đường hội nhập,
trong sự đối m ặt với toàn cầu hoá chứ không phải làm
suy yếu và tự đánh m ất văn hoá, bản sắc văn hóa dân
tộc mình bằng thái độ chôi từ và hành vi khép kín, đóng
cửa. Chính là trong khung cảnh toàn cầu hoá ngày nay,
văn hóa và bản sắc văn hóa phát triển và phát huy được
vai trò, tác dụng đến đâu, điều đó tuỳ thuộc vào nhãn
của nền văn m inh hiện đ ạ i, Tạp chí Tri thức xã h ội và nhàn
văn, (tiếng Nga), số 4-2003.
252
Q uan niệm về lịch sử như là một quá trình nhiêu
phương án có ý nghĩa lớn để hình thành th ế giói quan
lịch sử1.
Hội nhập toàn cầu, do đó là con đường duy nh ất có
thể đê loài ngưòi tiếp tục phát triển, để có tồn tại trong
hoà bình và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Cuộc hội nhập này, rõ ràn g không chỉ là hội nhập
kinh t ế quốc t ế mà. còn là đôi thoại và hợp tác giữ a các
nền văn hóa, giữ a các nền văn m inh.
Từ cảm quan văn hóa có thể nhận biết rằng, văn
hóa hoà bình, văn hóa khoan d u n g với tinh thần và thái
độ khoan d u n g văn hóa sẽ đóng vai trò tích cực và cần
thiết như thê nào để hoà bình và phát triển từ khả
năng trở thành hiện thực, đem lại những sự thụ hưởng
lợi ích hợp lý và công bằng cho các dân tộc trên trái đất.
Đồng quy vào mục đích đó, các cuộc đôi thoại giữa các
nền văn hoá mới tìm th ấy tính triển vọng của mình,
nhò đó có thể trán h được hoặc ít ra cũng làm giảm thiểu
những mâu thuẫn dân tộc, những xung đột sắc tộc và
tôn giáo, không coi sự đa dạng là mối đe doạ mà thấy ở
đó (sự đa dạng) triển vọng ph á t triển của t h ế giới.
Đối thoại văn hóa để tăng cường sự liên kết lẫn
nhau, từ đó tìm kiếm những khả năng và xây dựng
những cơ chế cho những chương trình, kế hoạch, dự án
động tôi từng quần thể, đặt ra những vain đề vừa tương
đông, vừa khác biệt trong phát triển của những quần thể
đó, ở đây là dân tộc, quốc gia - dân tộc, khu vực và thê giới.
256
c ầ n có sự khu biệt, giới hạn một quan niệm về văn hóa,
làm cơ sở cho việc nghiên cứu, để không sa vào sự dàn trải
trên tất cả các Hnh vực, các lớp nghĩa cũng như các hình
thức biểu hiện vô sô nhiều của các quan niệm khác nhau vê
văn hóa. Đòi hỏi đó thống nhất lý thuyết với phương pháp
trong tiếp cận, nghiên cứu văn hóa - cái đối tượng phức tạp
và rắc rôl nhất trong các đốỉ tượng nghiên cứu khoa học.
Do đó, xem xét văn hoá - đối thoại ván hoá và cục diện văn
hoá xuất phát từ quan niệm và hướng tiếp cận sau đây:
- Văn hoá là hoạt động sáng tạo của chủ thể người
trong môi trường hiện thực của sự tồn tại và phát triển,
thông nhất hữu cơ giữa tự nhiên và xã hội.
- V ăn hoá là g iá trị và hệ g iá trị m à g iá trị cao
n h ấ t tro n g b ả n g g iá trị văn hóa là con người.
- Văn hoá là một cấu trúc hệ thống - chỉn h th ể các
lĩnh vực hợp thành đòi sông xã hội, các lớp quan hệ xã
hội của phát triển cá nhân và cộng đồng, trong thời gian
và không gian, trong sự tiếp biến giữa truyền thông và
hiện đại.
2.
Q uan niệm về c ụ c diện v ăn h o á ch â u Á - T h ái
B ình Dương (q u a th ự c tiể n Đ ông Á) tro n g bối cả n h
đã gây những ảnh hưởng tiêu cực lớn tói các nước vê
tăng trưởng kinh tê và các vấn đề xã hội. Những cơn
bão tài chính đó làm bộc lộ nhiều vấn đề trong cơ chê và
chính sách quản lý của các nước trong khu vực và trên
thê giới nói chung, đòi hỏi phải xem xét lại các lý thuyết
258
và mô hình thực tế trong phát triển, nhất là vai trò của
Nhà nưóc đối vói việc giải quyết các vấn đề kinh tê - xã
hội trong phát triển. Tình huống có vấn đề đó trong
kinh t ế đã tác động tói chính trị, tạo nên tính bức xúc
của những cải cách thể chế, đồng thời xu ất hiện nhu
cầu nhận thức, đánh giá lại về các giá trị Đ ông A, vê vai
trò nhân tô" văn hóa trong phát triển.
Văn hóa châu Á, đặc biệt là các giá trị truyền thông
của Đông Á đã tham dự như thê nào, có tính "lưỡng
diện" - tích cực và tiêu cực ra sao - đối với việc tạo ra
phép lạ kinh tê cũng như sự kiện khủng hoảng tài
chính - tiền tệ vừa qua ở các nước và vùng lãnh thô
quan trọng này?
T rung Quốc và Việt Nam - những nước theo thể
chê xã hội chủ nghĩa, đang cải cách và đổi mới lại là
những quốc gia đ iển h ìn h m ang giá trị Đông Á, chịu
tác động trự c tiếp từ những th àn h tựu và phát triển
đột biến cũng như từ khủng hoảng và suy thoái của
khu vực, lẽ đương nhiên cũng r ấ t chú trọn g tói những
nhận thức và tự nhận thức vấn đê nêu trên.
Có không ít vấn đề được đ ặt ra một cách nghiêm
tú c, duy lý và thực tiễn m à nổi bật là những câu hỏi
X X I, xu ất phát từ thực tiễn Đông Á.
Tuy nhiên, điều nói trên chỉ là một cứ liệu trực tiếp,
có tính thòi sự.
Đê hiểu cục diện văn hóa của khu vực này cần nhìn
nhận vấn đê trong khoảng thời gian dài hơn, từ nhiều
chục năm ở nửa sau thê kỷ X X cho tới bưóc chuyển sang
thê kỷ XXI và hiện nay, nó dung nạp nhiều sự kiện
phản ánh những thành tựu mà cũng tích tụ những tình
26 0
huống, làm bộc lộ những mâu thuẫn, làm xu ất hiện
những vấn đề trong cục diện phát triển. Hơn nữa, cục
diện biến đổi văn hoá không tách rời và biệt lập khỏi
cục diện kinh tế, chính trị và xã hội của khu vực cũng
như của th ế giới nói chung.
Nó như một phân hệ của cả hệ thông chỉnh thể, vừa
p h ả n ánh vừa thăm nhập vào chỉnh thể cũng như vào
từng thực thể của chính cái chỉnh thê ấy.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có hai luận điểm quan
trọng sau đây có thể gợi ý cho chúng ta về cơ sở phương
pháp luận nghiên cứu. Ngươi nhấn mạnh:
T h ứ nhất, đòi sống có bôn lĩnh vực quan trọng
ngang nhau: kinh tê - chính trị - văn hóa - xã hội,
không được xem nhẹ một lĩnh vực nào.
ở luận điểm này, ta rú t ra một nhận xét: Nghiên
cứu văn hóa và cục diện văn hóa như một nghiên cứu
loại biệt trong hệ thông xã hội, trong tính hiện thực
của đời sống xã hội.
T h ứ hai, văn hóa không ở bên ngoài mà ở trong
hình thành n h ữ n g biến đôi của bản thăn cục diện đó
(ví dụ: kinh tê thị trường và kinh tế tri thức trong
toàn cầu hoá kinh tế, cải cách th ể chê chính trị, dân
chủ hoá chính trị và nhà nước pháp quyền dân chủ, xã
hội công dân và đời sông xã hội dân sự, môi trường tự
nhiên - sinh th ái và môi trường x ã hội - nhân văn
trong xã hội hậu công nghiệp, x ã hội thông tin, xã hội
262
học tập và xã hội tri thức với việc mở rộng không
ngừng các quyền của con người...).
Sau hết, cục diện văn hóa đã tá c động trở lại tới
những biến đổi, đ ặt ra những vấn đê đôi với bản th ân
nó, như một loại biệt, một phân thể và đối với bản
th ân xã hội, như một chỉnh thể, một cái toàn thể,
tổng th ể toàn vẹn.
Từ cơ sở phương pháp luận đó, chúng ta xem xét và
đánh giá những thực tiễn lịch sử của cục diện văn hoá
châu Á - Thái Bình Dương, lấy Đông Á làm trọng tâm .
Trong cuốn sách N h ữ n g xu hư ớng vĩ mô năm 2000,
từ năm
1982, các tác giả Johnaisbitt và Patricia
Abrđene đã phân tích thực trạng, dự báo xu hướng và
đưa ra 10 xu hướng lớn, quan trọng nhất, được gọi là
tạo khung, có ảnh hưởng tới đời sống của chúng ta khi
bước vào thập kỷ mối (tức là thập kỷ cuối của thê kỷ XX).
Những dự báo xu hướng đó, trên cái nền chung, tổng
của phương Tây, với điều kiện phương Tây không được
nhắm m ắt trước xu hướng này.
Chuyên biến kinh tê vùng Thái Bình Dương có thể
làm thay đôi hoàn toàn bộ m ặt thê giới. Vòng cung Thái
Bình Dương hiện đang trải qua một thòi kỳ cách mạng
công nghiệp để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá.
Vào cuôi những năm 80 thê kỷ XX, không có một
ngân hàng nào của Mỹ nằm trong số 36 ngân hàng lớn
265