PHẦN MỞ ĐẦU:
I.
Lý do chọn đề tài:
Nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay
là công việc hết sức cần thiết và cập nhật.
Một trong những tư tưởng lớn, quan trọng hình thành và phát triển từ khi Hồ
Chí Minh tìm đường cứu nước là tư tưởng kinh tế của Người. Trong kho tàng
lý luận và thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã để lại nhiều bài nói, bài viết
ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ hiểu. Quan điểm kinh tế của Người thường gắn
chặt với hòan cảnh lịch sử của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử. Người chỉ
viết những gì đất nước cần, cách mạng cần, nhân dân cần. Vì vậy khi nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải gắn chặt với hoàn cảnh lịch sử khi Người nêu
ra những quan điểm, những tư tưởng đó, đồng thời phải xuất phát từ chính
điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước để thấy rõ sự vĩ đại của những tư tưởng
của Người.
Hiện nay Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trinh đổi mới, xây dựng và phát triển kinh
tế là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu; trên cơ sở tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng
vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội, văn hóa; gắn tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ và công bằng xã hội. Đó cũng chính là tiền đề cần thiết cho sự phát
triển bền vững.
Vấn đề nông nghiệp là một mảng đề tài lớn, quan trọng Tư tưởng Hồ Chí
Minh
II.
Tình hình nghiên cứu đề tài:
Với khóa luận này, tác giả đã
III.
cách mạng vô sản đã thắng lợi ở nước Nga (10.1917), mở ra thời đại giải
phóng các dân tộc thuộc địa khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, và trong
điều kiện đất nước Việt Nam mất nước, sau thắng lợi của cách mạng tháng
Tám năm 1945, lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
xâm lược lâu dài, gian khổ, nhằm gianh lại độc lập hoàn toàn, thống nhất trọn
vẹn, đồng thời, từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội.
Quan điểm về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa MácLênin: Con người cần phải có ăn, mặc, ở và sinh hoạt trước khi nghĩ đến
những vấn đề xa hơn như làm chính trị, làm văn hóa, khoa học và nghệ thuật.
Trong lễ an táng C.Mác, Ph.Ăngghen đã đọc:” Giống như Darwin đã tìm ra
quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của
lịch sử loài người, cái sự thật giản đơn mà đã bị những lớp tư tưởng phủ kín
2
cho đến ngày nay là: con người trước hết cần phải ăn, mặc, ở đã rồi mới có
thể làm chình trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…và vậy, việc sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và do đó, mỗi giai đoạn phát triển
kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại, tạo thành một cơ sở trên
đó người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ
thuật, và thậm chí cả những quan điểm tôn giáo của những người nhất định, vì
vậy phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái này, chứ không phải
ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã làm”1.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn.
Quan điểm, tư tưởng của một bậc vĩ nhân bao giơ cũng hình thành và phát
triển trong một điều kiện lịch sử nhất định. Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh
về kinh tế nói chung và quan điểm của Người về phát triển một nền nông
nghiệp toàn diện nói riêng cũng vậy.
Lí do 1: …NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN NÓI CHUNG VÀ
An có thể bằng cách này hay cách khác, vừa vỡ hoang tăng vụ, vừa làm xem
thế này thế khác để có hai ngàn mẫu tây rộng, tăng thêm chín ngàn tấn lương
thực, đỡ để Trung ương phả hỗ trợ”1.
Nhưng nâng cap đời sống nhân dân không có nghĩa là đủ về lương thực. Phải
làm sao cho bữa ăn của người nông dân ngoài về lương thực còn đủ chất dinh
dưỡng. Khái niệm ăn no ngày nay phải hiểu là bữa ăn đủ chất dinh dưỡng.
Bữa ăn ngoài co cơm ra phải có thịt, cá, có hoa quả. Nước ta dù có nhiều
thành tựu trong đổi mới, đời sống nhân dân đã được cải thiện nhiều, nhưng số
trẻ em suy dinh dưỡng vẫn chiếm tỷ lệ vào loại cao trên thế giới. Phấn đấu để
ăn no theo nghĩa đầy đủ chất dinh dưỡng còn là cả một quá trình. Vì thế
những nhắc nhở của Hồ Chí Minh về chăn nuôi trâu, bò, gà, lợn, dê, cũng như
chú trọng thả cá ở vùng chiêm trũng hoặc nơi có nhiều ao hồ, đẩy mạnh trồng
lạc, trồng vừng là thể hiện sự suy nghĩ chu đáo của Người.
Nâng cao đời sống nhân dân nói chung, nông dân nói riêng, không thể không
nói đến chỗ ở. Hồ Chí Minh nói nhiều đến trồng cây lấy gỗ vì vấn đề ở của
nông dân nông thôn rất bức xúc. Người nói: “Nông dân của ta, nhà ở của
đồng bào phần nhiều đang ọp ẹp, tối tăm, chẳng ra sao, chẳng có hàng lối
gì…Dân sinh là câis gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở. Ba cái đó đều quan trọng.
Ăn, mình tăng gia sản xuất được. Mặc, mình tăng gia sản xuất được. Chứ còn
nhà ở thì sao? Muốn làm nhà thì phải có cái gì? Gỗ. Muốn có gỗ thì phải
trồng cây”2
1
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 10, tr 444.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, tr 446.
4
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, tr 240.
5
- Loại ngành nghề sản xuất hàng tiêu dùng thông thường hoặc cao cấp để
phục vụ sinh hoạt cho người dân như đồ gỗ, quạt giấy, chạm khảm, đồ
gốm, đồ dệt, may mặc…
- Loại ngành nghề cung câos nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như
nghề làm giấy, dệt tơ lụa, dệt vải, thép xây dựng…
Trong ba loại trên, loại 1 có vai trò trực tiếp tác động vào phát triển nông
nghiệp. Các loai sau tuy không tác động trực tiếp nhưng tận dụng được nguồn
lao động dư thừa và tay nghề cổ truyền khéo léo của nông dân, tạo nên thu
nhập cao, giải quyết việc làm tại địa phương nông thôn, khiến cho nông
nghiệp có điều kiện phát triển. Thực tế cho thấy đất đai, năng suất cây trồng
vật nuôi ở những vùng làng nghề không những không bị giảm sút mà còn cao
hơn những vùng khác do ở đây có những điều kiện về vốn và các điều kiện
cần thiết cho thâm canh.
Việc đẩy mạnh ngành nghề bổ sung cho nông nghiệp làm cho nền nông
nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì các
lý do sau đây:
- Có ngành nghề buộc những người nông dân phải tổ chức sản xuất một
cách khoa học dựa trên sự phân công, hợp tác. Việc người nông dân
quen với lối làm ăn công nghiệp rất có lợi cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Phát triển ngành nghề sẽ giải quyết được việc làm tại chỗ, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn.
Các ngành nghề sẽ thu hút lực lượng lao động rất lớn: chỉ một xã ở Đa Hội có
hoặc lấy nông sản mà đổi, ví dụ lấy lạc đều đổi lấy gang”1.
Nông nghiệp phát triển toàn diện sẽ trở thành thị trường để phát triển nền kinh
tế hàng hóa; “ Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, đồng thời là
một nguồn xuất hẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện
nay”2.
Từ các lý do trên, Hồ Chí Minh coi nông nghiệp là cơ sở để phát triển nông
nghiệp: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy
việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông
nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp
nguyên liệu cho, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công
nghiệp làm ra”.
1
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, tr 525.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, tr 14.
7
Lý do thứ 4: XUẤT PHÁT TỪ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHONG PHÚ,
THUẬN LỢI CỦA ĐẤT NƯỚC TA.
Nói chuyện tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam (khóa III)0, Người nói rõ: “Ở các nước xứ rét, mỗi năm tuyết
giá dai dẳng, chỉ trồng trọt được một mùa. Khí hậu nước ta ấm áp cho phát
triển quanh năm trồng trọt, thu hoạch bốn mùa. Như thế là thiên thời rất thuận
lợi. Vùng đồng bằng miền Bắc tuy ruộng ít, người nhiều; nhưng chúng ta
trồng xen, tăng vụ thì một mẫu đất có thể hóa ra hai. Miền ngược thì có nhiều
vùng đất rộng mênh mông và màu mỡ, tha hồ cho chúng ta vỡ hoang. Như thế
là địa lợi rất tốt”1. Như vậy là khi chủ trương phát triển nền nông nghiệp toàn
thu hàng chục triệu tấn.
Trong nông nghiệp không chỉ có trồng trọt mà còn có chăn nuôi. Sự phát triển
trồng trọt đa dạng vừa có lúa, vừa có màu thì sẽ đẩy mạnh được chăn nuôi.
Chăn nuôi phát triển thì lại có nhiều phân bón để đẩy mạnh trồng trọt. Sự phát
triển của cả trồng trọt và chăn nuôi sẽ làm nông nghiệp phát triển.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp. Nếu phát
triển cả nông, ngư nghiệp thì nông nghiệp Việt Nam sẽ trở thành ngành kinh
tế đóng góp to lớn cho nền kinh tế. Việt Nam lại có tiềm năng to lớn về lâm,
ngư nghiệp. Riêng ngư nghiệp (bao gồm cả nuôi trồng cá nước ngọt) chúng ta
có trữ lượng 4 triệu tấn cá biển một năm và có 2 triệu hécta mặt nước để nuôi
trồng; năm 2000 đã xuất khẩu trên 1,4 tỷ USD thủy, hải sản.
Nông nghiệp toàn diện còn bao gồm ngành nghề phụ và ngành nghề truyền
thống ở nông thôn. Việc phát triển ngành nghề bổ sung cho nông nghiệp sẽ
làm cho nền nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa với các lí do
sau:
+ Ngành nghề đòi hỏi cách quản lý theo lối công nghiệp: việc tổ chức
sản xuất chặt chẽ, khoa học dựa trên sự phân công hợp tác lao động phù hợp
với từng loại hình nghề nghiệp. Do đó người nông dân sẽ quen với lối làm ăn
tập công nghiệp rất có lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
+ Phát triển triển ngành nghề sẽ đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở nông thôn theo hướng tăng dần công nghiệp, dịch vụ, giảm dần nông
nghiệp. Những số liệu điều tra cho thấy: ở những vùng nông thôn có ngành
nghề truyền thống thì thì tỷ trọng lao động làm nghề đều chiếm từ 60 đến
70% hoặc hơn nữa, lao đọng nông nghiệp chỉ còn trên dưới 20% thu nhập từ
nhành nghề, do vậy cũng rất cao.
+ Phát triển ngành nghề sẽ có điều kiện và sự thúc bách phải xây dựng
kết cấu hạ tầng ở nông thôn, tạo điêu kiện thuận lợi cho phát triển công
nghiệp trên địa bàn nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Đến những làng
1
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 8, tr 174.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 4, tr 215.
10
khi xã hội đảm bảo được an ninh lương thực thì mọi lĩnh vực khác cũng trở
nên ổn định.
Trong cơ cấu kinh tế kinh tế quốc dân, nông nghiệp không chỉ cung cấp lương
thực, thực phẩm để nuôi toàn xã hội mà nông nghiệp còn là nguồn cung cấp
nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và một phần hàng hóa cho xuất khẩu.
Từ năm 1955, khi bắt tay vào công cuộc khôi phục nền kinh tế, Hồ Chí Minh
đã chỉ ra vai trò to lớn của nền nông nghiệp. Người viết “để đẩy mạnh việc
củng cố miền Bắc, làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà…
Chính phủ sẽ thi hành kế hoạch khôi phục kinh tế năm 1956 bao gồm nông
nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, nhưng sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu.
VỀ VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP.
Phải nói rằng, trong tư duy Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế cũng như việc nâng cao đời sống của
nhân dân Việt Nam. Tư tưởng này thể hiện nhất quán trong các bài nói, bài
viết của Người về phương hướng phát triển kinh tế của đất nước khi Người
nhắc nhở cán bộ và nhân dân ta mọi ngành và mọi địa phương. Có thể chứng
minh nhận định này qua những dẫn chứng sau đây:
Ngay sau ngày đất nước giành được độc lập trong "Thư gửi điền chủ
nông gia Việt Nam",ngày 11.4.1946, Người nêu rõ: " Việt Nam là một nước
nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, nhưng sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu.
Yêu cầu của sản xuất nông nghiệp năm 1956 là:" bước đầu giải quyết
vấn đề lương thực, cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu thương
nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp và cung cấp lâm thổ sản để mở rộng
buôn bán với nước ngoài"1. Như vậy, không chỉ trong chiến tranh mà trong
thời kỳ đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc, nông nghiệp vẫn còn được coi như
một mặt trận chủ yếu, mặt trận hàng đầu. Ở đây, nông nghiệp được coi là nền
tảng của toàn bộ cơ
cấu nền kinh tế quốc dân. Nền nông nghiệp phát triển thì trước hết có lương
thực, thực phẩm nuôi sống cả xã hội. Nông nghiệp phát triển, nông dân sẽ có
nhiều sản phẩm hàng hóa để đưa ra thị trường. Ở đây, vai trò của thương
nghiệp sẽ được phát huy. Theo Bác, thương nghiệp chính là cầu nối giữa nông
nghiệp và công nghiệp. Khi nông nghiệp phát triển và có nhiều sản phẩm dôi
ra thì thương nghiệp sẽ phát triển. Trao đổi hàng hóa giữa công nghiệp và
nông nghiệp tăng lên. Công nghiệp được cung cấp nguyên liệu để sản xuất.
Khi công nghiệp phát triển thì trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp tăng
lên và như vậy là thương nghiệp lại được đưa lên một bước cao hơn. Người
chỉ rõ:"thương
nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa
nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu thụ"2.
Bác cũng đã nhấn mạnh đến việc sử dụng nguyên liệu sản xuất tư nông
nghiệp để đổi lấy ngoại tệ. Bác viết:" trong việc xây dựng ta cố gắng, các bạn
hết lòng giúp đỡ, ta còn phải mua hàng của các nước khác. Muốn buôn bán
với các nước ấy, ta chưa có máy móc, đồ kĩ nghệ, ta chỉ có nông, hải sản. Cán
bộ, đảng viên ta phải giúp chính phủ mua và xung phong bán. Mua của người
khác mà mình không xung phong bán là không tốt" 3. Để phát triển nền kinh tế
quốc dân một cách toàn diện phải chú ý đến tất cả các ngành, các lĩnh vực,
triển đất nước, Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn định hướng, trong đó nhấn
mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tề nước ta.
Vậy tại sao Hồ Chí Minh lại coi trọng nền nông nghiệp trong nền kinh
tế Việt Nam như vậy? Qua các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh cũng như
qua những hoạt động thực tiễn của Người, chúng ta thấy sở dĩ Người coi
trọng nông nghiệp như vậy bởi những lý do sau đây:
Một là, nông nghiệp nông nghiệp Việt Nam cung cấp lương thực, thực phẩm,
do đó có vai trò quyết định giải quyết vấn đề ăn, một vấn đề bức xúc của đời
sống nhân dân ở những nước có nền kinh tế lạc hậu. Với Hồ Chí Minh, đảm
bảo cho người dân được ăn no là quan trọng nhất bởi nói nâng cao đời sống
của người dân ở một nước có nền kinh tế lạc hậu, thì trước hết phải lo cho
người dân được ăn no. Người nói:” quan trọng nhất trong đời sống nhân dân
là vấn đề ăn”1, “có thực mới vực được đạo”2, đó là duy vật, đó là gốc của chủ
nghĩa Mác-Lênin. Người lại nói :”Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách
của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, rét, dốt,
bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”3.
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị thực dân Pháp đô hộ hàng trăm năm,
người dân Việt Nam đã từng sống ở mức tận cùng của sự đói khổ. Nạn đói
năm 1945 làm chết hai triệu người là nỡi ám ảnh của mội nguời dân Việt Nan,
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, tr 352.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr 420.
3
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr 572.
1
2
16
cũng là nỗi la hagf ngày của người lãnh đạo. Vì thề, vừa giành được độc lập,
3
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 180.
1
2
17
nông nghiệp cũng khó khăn. Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau tấ
khăng khít”1.
Có điều đáng lưu ý là nói đến vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tề, Hồ
Chí Minh đã gắn nông nghiệp với nông thôn. Với Người nông nghiệp, nông
dân, nông thôn là một. Điều này không có gì là lạ bởi nông dân sống ở nông
thôn và nông nghiệp là nghề chính của họ. Người nói:” Nông đan giàu có sẽ
mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời sẽ cung cấp đầy
đủ lương thực cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông dân giàu có giúp
cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển sẽ giúp nông nghiệp phát
triển mạnh mẽ hơn nữa”2. Thực tiễn phát triển kinh tế trong những năm đổi
mới ở Việt Nam vừa qua càng minh chứng cho nhận định trên của Người.
Cùng với những chính sách đổi mới, mở cửa, nền kinh tế,( bao gồm cả lâm,
ngư nghiệp) đã đảm bảo lương thực đủ ăn cho hơn 80 triệu dân Việt Nam, lại
còn xuất khẩu nhiều tỷ đôla hàng nông sản. Trong số hơn 10 mặt hàng chủ
lực, ngành nông nghiệp chiếm trên một nửa. Nếu như chúng ta có sự đầu tư
thỏa đáng hơn nữa cho nông nghiệp, cùng với việc đẩy mạnh cơ cấu nông
nghiệp theo hướng tăng mạnh kinh tế hàng hóa thì nông nghiệp sẽ còn đóng
góp nhiều cho nền kinh tế của đất nước.
Ba là, Hồ Chí Minh coi trọng nông nghiệp còn xuất phát từ tư tưởng tự lực
cánh sinh mà suốt đời Người quán triệt và nhắc nhở mọi người. Theo Người
muốn giành độc lập tự do cho dân tộc phải tự lực cánh sinh, nay muốn phấn
đấu giành no ấm, hạnh phúc cũng phải tự lực cánh sinh. Người nhắc nhở::
và mở rộng nền kinh tế, do đó cũng chỉ mới phát huy được một phần nội lực.
Chúng ta đã gặt hái được nhiều kết quả đầy ấn tượng: Việt Nam trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Nếu như tăng cường đầu tư thêm
về vốn, kỹ thuật, công nghệ và cán bộ kỹ thuật tăng thêm sức cạnh tranh, mở
rộng thị trường…thì chắc chắn chúng ta còn thhu được kết quả khả quan hơn
nữa.
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển một nền nông nghiệp
toàn diện ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh rất coi trọng nông nghiệp. Ngay sau khi đất nước giành độc lập,
Người đã viết “ Việt Nam là một nước nông nghiệp.Nền kinh tế của ta lấy
canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông
mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.
Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”1.
Từ đó, Người khẳng định “muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói
chung phải lấy phát triển nông nghiệp lám gốc, làm chính” 2. Có lúc Nguời đã
đặt vấn đề “công cuộc phát triển nông nghiệp, nền tảng để phát triển kinh tế
xã hội chủ nghĩa”3. Với Hồ Chí Minh, nền nông nghiệp Việt Nam phát triển
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr 215.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 180.
3
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, tr 612.
1
2
19
phải là một nền nông nghiệp toàn diện và chính nền nông nghiệp toàn diện lại
phản ánh một nền nông nghiệp phát triển. Khi về thăm và nói chuyện với
đồng bào Hưng Yên, Người nói: “Sản xuất phải toàn diện, sản xuất thóc là
4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 337.
5
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 405.
6
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 481.
7
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 418.
8
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 478.
9
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 14.
1
2
20
lúa “sản xuất thóc là chính”1. Người động viên đồng bào xã Đại Nghĩa “coi
trọng cây lúa là tốt”. Ngoài cây lúa, Người rất chú trọng đến các cây hoa màu
như ngô, khoai, sắn là nguồn chính sản xuất thức ăn cho chăn nuôi. Người nói
“phải hết sức phát triển hoa màu. Chỉ có thóc, không có hoa màu là không
được. Hoa màu không những là cây lương thực quý của người, mà còn dùng
để chăn nuôi. Xã Đại Nghĩa vì thiếu chú ý đến hoa màu cho nên chăn nuôi
kém”. Nói chuyện với đồng bào Nghệ An, Người nói rõ: “Lúa là chính nhưng
ngô, khoai sắn cũng phải có, cũng phải chú trọng. Nếu chỉ chú trọng lúa mà
không chăm nom ngô, khoai, sắn cũng không được”. Trong bài đăng trên báo
Nhân dân ngày 17.04.1962 với tiêu đề “Cần ra sức trồng nhiều hoa màu”,
Người viết “Ngô, khoai, sắn là những thứ lương thực rất cần thiết cho người
và gia súc. Nếu hoa màu thu hoạch kém thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến nhiều
có thể tận dụng đất đai và cho hiệu quả kinh tế cao. Với cây dâu tằm, Người
nhắc nhiều nơi vì cây dâu giúp cho người dân thu hoạch tơ dệt lụa- một thứ
vải quý, ngoài ra tơ còn kéo sợi dệt lưới giúp cho phát triển nghề cá.
Trong trồng trọt, Hồ Chí Minh rất chú trọng trồng cây ăn quả. Đến thăm
những nơi có điều kiện như Hưng Yên, Hà Giang, đảo Cô Tô (Quảng Ninh),
Người đều nhắc nhở phải phát triển cây ăn quả.
Hồ Chí Minh là người quan tâm đến từng chi tiết của đời sống lao động. khi
về thăm nông trường Đông Hiếu (Nghệ An), Người nhắc công nhân phải
trồng lấy ớt để ăn.1
Trong trồng trọt, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải coi trọng trống cây lấy gỗ. Với
vùng đồng bằng, Người luôn động viên trồng cây để có gỗ làm nhà. Người
nêu rõ lợi ích của việc trồng cây: “Mỗi tết trồng được 15 triệu cây. Từ năm
1960 đến năm 1965…chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa,
vừa cây làm cột nhà. Và trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng
tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn” 2. Ra đảo Cô Tô (Quảng
Ninh) Người còn nhắc phải trồng cây để ngăn gió. Người tính toán rất cụ thể:
“Nếu mỗi năm, mỗi người trồng 4 cây, trong 5 năm sẽ có đủ gỗ làm nhà, đóng
giường, bàn ghế, làm nông cụ”3. Nói chuyện với thanh niên trong buổi trồng
cây tại vườn hoa Thanh niên ở Hà Nội, Người cũng tính rõ hiệu quả kinh tế
của việc trồng cây: “Nếu mỗi cháu thanh niên một năm trồng 3 cây, chăm sóc
cho tốt thì 8 triệu thanh niên miền Bắc sẽ trồng được 24 triệu cây. Năm năm
liền các cháu sẽ trồng được 120 triệu cây. Hãy tính rẻ mỗi cây 3 đồng thôi,
sau năm năm sức lao động của các cháu bỏ ra sẽ thu được một số tiền rất lớn
là 360 triệu đồng, có thể xây dựng được 8 nhà máy cơ khí loại khá…” 4. Vì
thế, Người nhiều lần nhắc nhở mọi tầng lớp nhân dân trồng cây. Chính Người
đã phát động tết trồng cây và viết nhiều bài báo tuyên truyền cho phong trào
này, tạo nên một phong tục đẹp ở nước Việt Nam-phong tục Tết trồng cây.
Cũng từ phong trào này chúng ta thấy sự vĩ đại của Hồ Chí Minh: Những việc
1
xây dựng cơ sở kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đất nước còn nghèo, lại đang
chia cắt thì sự nhắc nhở của Người là hoàn toàn cần thiết.
1.2.2.3
Lâm nghiệp.
Nông nghiệp toàn diện, theo Người phải phát triển lâm nghiệp; trồng cây, gây
rừng, khai thác lâm, thổ sản có kế hoạch. Khi thăm các tỉnh đồng bào miền
núi như Tuyên Quang, Hà Giang, Người đều nhắc nhở phải bảo vệ rừng,
trồng cây gây rừng vì “cây và rừng là nguồn lợi lớn” 4. Với đồng bào tỉnh
Tuyên Quang, Người nói: “Đồng bào…phải chú ý bảo vệ rừng và trồng cây
gây rừng. Tục ngữ nói “rừng vàng, biển bạc”. Chúng ta chớ lãng phí vàng mà
phải bảo vệ vàng của chính chúng ta” 5. Người còn nói: “phá rừng thì dễ
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 63.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, tr 149.
3
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 406.
4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, tr 149.
5
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 321.
1
2
23
nhưng để lại gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như
vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất rất nhiều”
Nghề phụ gia đình.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 327.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 610.
3
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 354.
4 4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 407.
1
2
24
Khi nói đến nông nghiệp toàn diện, ngoài nông, lâm, ngư nghiệp, Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở chú trọng phát triển nghề phụ gia đình. Hồ Chí Minh cho
rằng; “Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi
để tăng thu nhập”1. Người nhắc nhở “phát triển thich đáng kinh tế phụ gia
đình xã viên”
Thông thường ở những vùng nông thôn, khi năng suất trong trồng trọt và chăn
nuôi đạt đến trình độ nhất định, có một số lao động dư thừa thì cần chuyển
sang làm nghề khác để có thêm thu nhập. Lao động nông nghiệp lại mang tính
thời vụ nên trong một năm có nhiều ngành nông nhàn, nông dân lúc này có
thể chuyển sang làm nghề phụ. Nắm chắc tình hình thực tế đó, Hồ Chí Minh
nhắc nhở đồng bào các địa phương, khai thác mảnh vườn, làm thêm nghề phụ
là hết sức phù hợp. Người Việt có bàn tay khéo léo và óc sáng tạo nên từ lâu
đã tao nên những ngành nghề mang tính truyền thống, các làng nghề xuất
hiện, tồn tại và phát triển ở các vùng đông dân như đồng bằng Bắc Bộ (Bắc
Ninh,, Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định…) hoặc xung quanh Thành phố Hồ Chí