A. ĐẶT VÊN ĐỀ
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những
cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người. Trong các môn học ở tiểu học
cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến thức, kĩ năng
của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người
lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở Trung học. Các
kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành,
luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và
trong đời sống.
Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh Tiểu
học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học
sinh. Ở lớp 3, các em được học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm kết thúc của giai
đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải nắm được chắc tất cả các
cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kĩ năng khác nói chung. Đây là giai
đoạn quan trọng giúp các em hình thành các kĩ năng giải toán có lời văn. Lớp 3 các
em được làm quen với các dạng toán có lời văn như tìm một trong các phần bằng
nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần,…và đặc biệt là học
sinh biết giải toán có lời văn bằng hai phép tính như dạng bài toán liên quan đến việc
rút về đơn vị. Dạng toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em
phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Vì vậy, việc
biết giải toán có lời văn đối với các em là rất quan trọng. Nhờ giải toán các em có
điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và
những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Qua việc dạy học giải toán có lời
văn sẽ giúp các em tự phát hiện vấn đề, giái quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân
tích, tổng hợp, rút ra qui tắc ở dạng khái quát nhất định hay nói một cách khác dạy
học giải toán sẽ phát triển khả năng suy luận, lập luận và trình bày các kết quả theo
một trình tự hợp lý làm cơ sở vững chắc để các em giải tốt các dạng toán có lời văn ở
giai đoạn II bậc tiểu học và là tiền đề cho quá trình dạy học toán ở các lớp cao hơn
sau này.
Năm học 2015- 2016, tôi được Ban giám hiệu phân công giảng dạy lớp 3B.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy khả năng giải toán có lời văn của học sinh còn nhiều
- Bit gii v trỡnh by bi gii cú n 2 phộp tớnh.
- Bit gii v trỡnh by bi gii mt s dng bi nh: tỡm mt trong cỏc phn
bng nhau ca mt s bi toỏn liờn quan n rỳt v n v.
- Mỗi bài toán các em có làm tốt đợc hay không đều phụ thuộc vào các phơng
pháp giải toán đợc vận dụng ở mỗi bớc giải bài toán đó.
- Mt s bc chung gii mt bi toỏn cú li vn nh sau:
*Bc 1: c k u bi, xỏc nh cỏi ó cho, cỏi phi tỡm. Sau ú thit lp mi
quan h gia cỏc d kin ó cho v túm tt bi toỏn bng li, bng kớ hiu ngn gn
hoc minh ha bng s on thng.
* Bc 2: Lp k hoch gii: Suy ngh hng tr li ca bi toỏn v xỏc nh
cỏch gii, cỏc phộp tớnh. (Cn thc hin phộp tớnh gỡ? Mi quan h gia cỏc d kin
ca bi toỏn cú th cho bit c gỡ? Phộp tớnh ú cú giỳp tr li cõu hi ca bi toỏn
khụng?)
* Bc 3: Thc hin k hoch gii (Gii bi toỏn theo trỡnh t ó thit lp).
* Bc 4: Kim tra li gii, ỏnh giỏ cỏch gii. õy l bc bt buc trong quỏ
trỡnh gii toỏn. Thc hin bc ny nhm mc ớch:
- Kim tra, r soỏt li cụng vic gii toỏn.
- Kim tra kt qu va tỡm c v i chiu vi cỏc d kin ca bi toỏn xem
cú chớnh xỏc khụng.
- Tỡm kim cỏch gii khỏc.
Cỏc bc ny nú cú ý ngha rt quan trng v l 4 bc khụng th thiu trong
khi gii bt kỡ mt bi toỏn no.
II. THC TRNG NGHIấN CU:
1. i vi giỏo viờn:
Qua thc t ging dy, d gi thm lp ca cỏc ng nghip tụi thy giỏo viờn
thng tin hnh nh sau:
2
- Học sinh còn lúng túng khi gặp những bài toán có cấu trúc giống nhau về nội
dung nhưng câu hỏi khác nhau. Khả năng suy luận của học sinh còn hạn chế dẫn đến
máy móc, bắt chước, chỉ giải được các dạng toán có sẵn, khi gặp bài toán ở dạng biến
đổi thì không làm được.
- Kĩ năng tính toán còn thiếu chính xác dẫn đến khi giải toán hay sai kết quả.
- Một số em chưa biết cách đặt lời giải cho yêu cầu của bài toán, chưa biết cách
trình bày bài toán. ( Do chưa phân tích được bài toán, chưa biết cách giải bài toán ) .
3. Kết quả khảo sát:
Từ thực trạng trên, ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành ra đề bài khảo sát, từ
đó biết những lỗi mà học sinh thường mắc để có biện pháp giúp đỡ.
Đối tượng khảo sát : Học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Đông Xu©n - Đông
Sơn- Thanh Hóa.
3
Số học sinh tham gia khảo sát : 22 em
Đề khảo sát gồm 2 bài toán có liên quan đến rút vế đơn vị dạng a : b x c
Kết quả khảo sát:
+ Số học sinh làm đúng cả 2 bài : 2 em chiếm tỉ lệ 9%
+ Số học sinh làm được cả 2 bài nhưng lời giải còn chưa phù hợp: 7 em chiếm
tỉ lệ 31,8 %
+ Số học sinh chỉ làm đúng được 1 bài: 10 em chiếm tỉ lệ 45,4%
+ Số hoc sinh chưa biết đặt lời giải hoặc làm tinh nhân chia chưa thạo: 3 em
chiếm tỉ lệ 13,6%
Nhận xét kết quả qua bài khảo sát: Chất lượng làm bài của học sinh còn thấp.
Cụ thể nhiều em còn chưa xác định được cái cần tìm nên giải sai phép tính, sai câu lời
giải hoặc câu lời giải chưa chính xác, chưa phù hợp với phép tính, có học sinh trình
bày lời giải chưa đủ ý.
III. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
- Nhóm 2: Những học sinh giải toán chậm (12 em)
Việc phân loại học sinh giúp giáo viên định hướng cho các hoạt động dạy học
phát huy tính tích cực của mỗi em
Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động nhóm, nếu giáo viên muốn kèm riêng cho một số
học sinh yếu trong lớp thì sẽ chia các em vào một nhóm
Khi học nhóm cần sự hợp tác, chia sẻ giáo viên chia nhóm có nhiều đối tượng
học sinh để các em giúp đỡ nhau để hoàn thành công việc (bài tập)
Hoặc giáo viên tổ chức nhiều “cặp đôi” “Đôi bạn cùng tiến” trong lớp có cùng
sở thích (đôi bạn gần nhà, đôi bạn cùng bàn,…) để giúp nhau trong học tập.
Hàng tuần giáo viên có sự kiểm tra và tuyên dương kịp thời nếu mỗi học sinh
có sự tiến bộ, đồng thời phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập.
* Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài nhận dạng bài toán.
a- Đối với bài hình thành kiến thức mới:
Khi tiến hành giải bài toán có lời văn việc đầu tiên phải làm là đọc và tìm hiểu
kĩ đề bài. Song trình độ ngôn ngữ của các em còn hạn chế hơn nữa để hiểu đúng các
thuật ngữ, khái niệm toán học lại càng khó hơn nên các em thường bị lúng túng dẫn
đến việc tìm hiểu đề bài còn mơ hồ sai lệch không đúng bản chất của dạng toán. Vì
vậy khi hướng dẫn học sinh giải toán cần hướng dẫn đọc kĩ đề bài hiểu được cách
diễn đạt bằng lời của bài toán, xác định được các yếu tố đã cho và yêu cầu cần tìm.
* Tìm hiểu đề bài:
Đối với tiết hình thành kiến thức mới tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
như sau:
Bài toán 1: (trang128 SGK Toán3)
“Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?”
Đây là bài toán đơn học sinh đã biết cách làm ở các tiết học trước nên khi học
sinh đã đọc đề bài nhiều lần, tôi yêu cầu học sinh bằng các lệnh:
+ Hãy gạch một gạch dưới cái đã cho biết.
+ Hãy gạch hai gạch dưới yêu cầu của bài.
Sau đó tôi yêu cầu học sinh diễn đạt bài toán bằng lời theo cách hiểu của mình.
chủ
yếu
tôi
hướng
dẫn
học
sinh
tóm
tắt
bằng
lời.
Ở bài toán 1 phần hình thành kiến thức mới tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau:
7 can : 35 l mật ong
1 can : ? l mật ong
Với bài toán 2 học sinh tóm tắt tương tự:
7can : 35l mật ong
2 can : ? l mật ong
Lưu ý học sinh khi tóm tắt bằng lời thì các giá trị của cùng một đại lượng phải
trình bày thẳng cột.
Với bài toán 1, bài toán 2 phần luyện tập của tiết hình thành kiến thức mới,
các bài toán này không có tóm tắt mẫu nên sau khi tìm hiểu đề bài xong tôi yêu cầu
học sinh tự tóm tắt bài toán. Đa số các em tự tóm tắt được bài toán trước khi giải,
xong cũng có một số học sinh tóm tắt như sau:
Với bài toán 1:
7 bao có : 28 kg
? kg : 5 bao
Hay với bài toán 2:
4 vỉ thuốc : 24 viên
? viên
: 5 vỉ thuốc
Do đã được hiểu rõ các khái niệm, các bước giải ở bài toán 1 nên khi tìm hiểu
bài toán 2 tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng các câu hỏi gợi mở:
+ Muốn tìm hai can có mấy lít mật ong ta phải biết gì? (Phải biết số lít mật ong
ở mỗi can hay một can)
+ Số lít mật ong ở mỗi can đã cho biết chưa?(chưa cho biết)
Giáo viên nhấn mạnh: Vậy ta phải tìm số lít mật ong ở một can. Sau đó ta mới
tìm số lít mật ong trong 2 can.
Giáo viên khẳng định trình tự giải bài toán:
1.Tìm số lít mật ong ở một can.
2.Tìm số lít mật ong ở 2 can.
Giáo viên hỏi tiếp: Tìm số lít mật ong ở một can có tìm được không? (tìm được
như cách làm ở bài toán 1)
Giáo viên yêu cầu học sinh giải bài toán.
Bài giải:
1 can đựng số lít mật ong là:
35 : 7 = 5 ( l )
2 can đựng được số lít mật ong là:
5 x 2 = 10 ( l )
Đáp số : 10 l mật ong
Học sinh giải xong bài toán 2, tôi cho học sinh tìm các câu lời giải khác cho bài
toán.
Học sinh nêu các câu lời giải khác cho bài toán như:
Số lít mật ong ở mỗi can là:
35 : 7 = 5 ( l )
Số lít mật ong trong 2 can là:
5 x 2 = 10 ( l )
7
Đáp số : 10 l mật ong
đơn vị .
b. Đối với tiết luyện tập:
Khi học sinh đã hình thành được cách giải bài toán liên quan đến việc rút về
đơn vị ở tiết hình thành kiến thức mới, sang tiết luyện tập học sinh tiếp tục được luyện
tập củng cố để các em nắm vững hơn về cách giải dạng toán này. Cụ thể:
* Phần tìm hiểu đề : Các bài tập của tiết luyện tập có những khái niệm nào các
em chưa gặp tôi dều cho các em tìm hiểu và nắm vững .
Ở tiết 124 tiết luyện tập :
Bài 1: Có 4500 đồng mua được 5 quả trứng. Hỏi nếu mua 3 quả trứng như thế
thì hết bao nhiêu tiền ?
8
Bài 2: Muốn lát nền một căn phòng như nhau cần 2550 viên gạch . Hỏi muốn
lát nền 7 căn phòng như thế cần bao nhiêu viên gạch?
Các bài toán này các em chưa hiểu khái niệm “như thế” tôi phải giải thích cho
học sinh hiểu “ như thế” ở đây là mỗi quả trứng được mua với giá tiền như nhau hay
mỗi căn phòng được lát số viên gạch như nhau.
Sau khi học sinh tìm hiểu đề bài xong, tôi cho học sinh tiếp tục các bước tiếp
theo của quy trình giải bài toán có lời văn mà các em vẫn thường làm.
Đối với các bài tập ở tiết luyện tập ngoài việc củng cố cách giải dạng toán,
giáo viên cần chú trọng đến việc giúp các em nâng cao kĩ năng giải toán như kĩ năng
tóm tắt bài toán, kĩ năng trình bày bài giải, kĩ năng đặt đề toán …
* Biện pháp 3: Giáo viên linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp, hình thức
tổ chức dạy trong từng tiết học để hướng dẫn học sinh học tập một cách chủ động,
tích cực.
Trong giờ dạy học sinh giải toán nhiều giáo viên còn giữ vai trò là người
truyền thụ, cung cấp cho học sinh. Vì thế kiến thức mà học sinh tiếp thu được còn
thụ động, máy móc, chủ yếu là làm theo khuôn mẫu hay bắt chước nên các em dễ
quên. Nhiều giáo viên khi tiếp cận với phương pháp mới đang còn lúng túng nên ảnh
Bi 2: Cú 2135 quyn v c xp u vo 7 thựng. Hi 5 thựng cú bao nhiờu
quyn v?
Bi 3: Lp toỏn theo túm tt sau ri gii bi toỏn ú:
Túm tt : 4 xe : 8520 viờn gch
3 xe :viờn gch
Yờu cu ca tit luyn tp ny l rốn k nng gii Bi toỏn liờn quan n vic
rỳt v n v. Bi 1 l bi toỏn n gii bng 1 phộp tớnh nờn hc sinh t gii. Bi 2
cỏc em ó bit cỏch gii xong mi i tng hc sinh trong lp cú th lm c
bi tụi cho hc sinh tho lun nhanh theo nhúm ụi nờu cỏc bc gii sau ú cỏc
em t gii cỏ nhõn vo v. Cũn vi bi 3, bi tp ny cú yờu cu mi hn, cao hn
nờn cỏc em hon thnh tt bi tp ny, tụi chia lp thnh cỏc nhúm mi nhúm
khong 4 em, t chc cho cỏc nhúm thi t toỏn theo túm tt, thi gii nhanh gii
ỳng bi toỏn. Nh vy cỏc em s bit cỏch t toỏn theo túm tt v vic t
toỏn v dng toỏn ny khụng cũn l vic lm khú khn vi cỏc em na. Vi hỡnh thc
ny cỏc em s cựng phi hp thi ua nhau lm vic, tt c u tham gia hot ng hc
tp, khụng khớ lp hc s sụi ni, t hiu qu cao hn.
Giỏo viờn cn lu ý khi hc sinh t xõy dng toỏn cỏc em thng mc
khuyt im nh : cỏc s liu chn thiu chớnh xỏc, xa thc t. Vỡ vy giỏo viờn cn
giỳp hc sinh sa cha nhng li ú giỳp cỏc em rốn luyn t duy.
Ngoi cỏc cỏch lm trờn, gi hc t kt qu cao nht l gi hc gii toỏn
cú li vn, ngi giỏo viờn cn phi ng viờn khuyn khớch hc sinh hc tp ch
ng, sỏng to theo nng lc cỏ nhõn.
Nh vy, thc t ging dy cho thy: Nu giỏo viờn bit la chn phng
phỏp v hỡnh thc t chc dy hc hp lý s giỳp cỏc em tip thu kin thc mt cỏch
ch ng vng chc, gi hc t hiu qu cao.
* Bin phỏp 4: Cỏ th húa hot ng dy hc sao cho tt c HS u c hot
ng, u c lm vic trong gi hc.
õy l mt trong nhng nh hng quan trng ca vic i mi PPDH Toỏn
Tiu hc. õy l mt cỏch dy hc bỏm sỏt nguyờn tc Dy hc thụng qua cỏc hot
ng bng tay ca bn thõn tng tr em
giải của bài toán
Thực tế cho thấy khả năng viết lời giải đúng ở lớp tôi phụ trách còn thấp. Một
số lỗi học sinh thường mắc phải khi viết lời giải:
+ Nội dung lời giải sai lệch với phép tính tương ứng: Bài toán hỏi “số hộp bút”
thì các em trả lời “số bút trong hộp”. Bài toán hỏi “số quả cam còn lại” thì các em trả
lời “số cam có” hoặc “số cam bán”. . .
Ví dụ: Bài toán: “Người ta xếp 800 cái bánh vào cái hộp, mỗi hộp 4 cái. Hỏi
xếp được bao nhiêu hộp bánh”
Có đến 6 học sinh trong lớp làm lời giải như sau:
Mỗi hộp có số cái bánh là:
800 : 4 = 200 ( hộp)
Trong trường hợp này tôi nhận thấy học sinh chưa hiểu bản chất của đề. Trong
quá trình giúp học sinh chữa bài tôi đã hướng dẫn các em bám vào câu hỏi là: “ Hỏi
xếp được bao nhiêu hộp bánh?” thì chỉ cần gợi ý cho các em sửa lại câu hỏi một chút
là ra lời giải: “Số hộp bánh xếp được là:”
+ Câu văn sai, lúng túng do sắp xếp các từ ngữ sai trật tự.
Ví dụ: Học sinh viết lời giải “Số kí lô gam con vịt nặng gắp số lần con ngỗng
là: “
+ Diễn đạt thừa (hoặc thiếu hoặc chưa chuẩn xác) dẫn đến câu sai ngữ nghĩa.
11
Ví dụ: Lời giải “Số đường công nhân phải sửa là:” ( sửa lại: “§oạn đường
công nhân phải sửa là:” hoặc “Quãng đường công nhân phải sửa là:”)
Để khắc phục lỗi này, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ lại đề toán để hiểu nội
dung bài toán, trong đó lưu ý cho học sinh đọc 2-3 lần câu hỏi của bài toán để hiểu bài
toán hỏi gì. Từ đó học sinh nắm chắc được nội dung bài toán và ít bị nhầm lẫn và dựa
vào câu hỏi để viết lời giải của bài toán một cách chính xác và đầy đủ.
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
- Tăng cường học tập toán, đặc biệt là giải toán.
- Tập trung nghe giảng, có tinh thần tự học tự rèn, tự giác học tập.
- Học thuộc tất cả quy tắc, công thức, cách giải toán theo từng dạng.
- Nắm được quy trình giải toán có văn.
- Tham khảo nhiều sách, tìm hiểu các đề toán hay.
12
* Đối với giáo viên:
- Cần nắm vững nội dung chương trình, bản chất của dạng toán để có những
phương pháp dạy học phù hợp, huy động được những hiểu biết vốn có của học sinh để
giúp học sinh tự chiếm lĩnh, khắc sâu phương pháp, kĩ năng giải toán. Trong giảng
dạy cần chú ý từng khâu, từng phần nội dung, từng khái niệm, từng thuật ngữ toán
học giúp học sinh nắm vững kiến thức.
- Chú trọng việc dạy học giải toán có lời văn.
- Nắm vững quy trình giải toán có văn.
- Chuẩn bị tốt nội dung, hệ thống câu hỏi đưa ra khai thác.
- Quan tâm đến từng đối tượng học sinh.
- Kịp thời uốn nắn sửa sai cách làm bài, trình bày bài làm của học sinh.
- Giáo viên phải luôn linh hoạt, năng động, sáng tạo trong công tác giảng dạy
không nên phụ thuộc hoàn toàn vào sách giáo viên. Tăng cường sử dụng phương
pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh như học cá nhân,
nhóm, học trên phiếu, tham gia các trò chơi toán học.
- Giáo viên thể hiện tính kiên trì, bền bỉ, nhiệt tình, hết lòng vì học sinh.
- Việc kiểm tra đánh giá học sinh cần thường xuyên và nhiều hình thức để giáo
viên kịp thời bổ sung, sửa lỗi sai cho học sinh.
II. ĐỀ XUẤT
*Đối với nhà trường:
Bổ sung thêm tài liệu, sách tham khảo để giáo viên có điều kiện học hỏi, nâng
Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
Phòng GD & đào tạo huyện đông sơn
Trờng tiểu học đông xuân
~~~~~~*****~~~~~~
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 nắm vững cách
giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị dạng a:b x c
Ngời thực hiện : Nguyễn Thị Vân Anh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác : Trờng tiểu học Đông Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn) : Toán
15
Thanh hãa n¨m: 2015-2016
16
Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
Phòng GD & đào tạo huyện đông sơn
Trờng tiểu học đông xuân
~~~~~~*****~~~~~~
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
20
26.
27.
28.
...........................................................................
1/Phương pháp chung để giải các bài toán:
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán
được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các
bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Cái này biết chưa?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, tự các em
giải được bài toán.
d/ Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ dàng viết được bài giải
một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được,
chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán
đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng
không?” thì nhiều em lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán va
phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông
qua các bước:
- Đọc lại lời giải.
21
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng
chưa.
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách
giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ
độc lập của học sinh.
Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh7 tấm bưu ảnh. Hỏi hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh?
Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như sau:
H: Bài toán hỏi gì? ( Hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh)
H: Muốn biết hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh ta làm như thế nào?( Lấy số bưu ảnh của anh cộng với số bưu
ảnh của em)
H: Số bưu ảnh của anh biết chưa? ( Biết rồi )
H: Số bưu ảnh của em biết chưa? ( Chưa biết). Muốn tìm số bưu ảnh của em ta làm thế nào? (Lấy số bưu ảnh của anh
trừ đi 7 )
Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ:
Tất cả
!!
Anh + Em
!!
Anh – 7
Khi phân tích một bài toán cần hướng dẫn cho học sinh có thói quen tự đặt câu hỏi, chẳng hạn:
+Bài toán hỏi gì?
+Muốn trả lời câu hỏi của bài toán phải biết gì? Phải thực hiện những phép tính gì, và từ những dữ kiện đã cho có
thể biết được gì? Muốn biết thì phải làm phép tính gì?Làm phép tính đó có cần thiết cho việc trả lời câu hỏi của bài toán
không?...
Khuyến khích hướng dẫn học sinh biết nhận xét, tìm cách giải bài toán bằng nhiều phương pháp khác nhau, đồng
thời biết chọn cách giải hay nhất, đơn giản nhất. Điều đó có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tính sáng tạo, rèn luyện
tư duy linh hoạt, phát triển trí thông minh. Đồng thời nó đem lại niềm hứng thú cho học sinh trong khi học toán.
Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải
22
Sau khi học sinh đã tìm được cách giải bài toán bằng phương pháp phân tích, lập sơ đồ giải toán,thì việc trình bày
bài giải không phải là bước khó khăn lắm đối với các em.Tuy vậy cũng cần hướng dẫn cho các em bết viết lời giải và
trình bày bài giải một cách khoa học rõ ràng, chính xác và đầy đủ theo phương pháp tổng hợp, ngược với phương pháp