MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Giới thiệu chung
1.2 Phương hướng xây dựng đề tài
1.2 Các vấn đề đặt ra
CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ DÙNG ĐỂ QUẢN
LÝ XE TRÊN SMARTPHONE
2.1 Tổng quan về GPS
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống GPS
2.1.2. Các thành phần của GPS
2.1.3. Hoạt động của hệ thống GPS
2.1.4. Bộ thu GPS
2.1.5. Phương trình xác định tọa độ
2.1.6. Hiệu chỉnh đồng hộ của bộ thu
2.1.7. Tín hiệu định vị
2.1.8. Nguồn lỗi của tín hiệu
2.2. Hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM và công nghệ GPRS
2.2.1. Các thế hệ phát triển của hệ thống thông tin di động.
2.2.2. Tổng quan về mạng thông tin di động số tế bào.
1
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
2.2.3. Giao diện vô tuyến
2.2.4. Kiến trúc mạng GSM
2.2.5. Các chức năng của mạng GSM
2.3 Dịch vụ số liệu cải tiến GPRS – General Packet Radio Service
2.3.1. Sơ lược
hoạt động thường xuyên và phương thức quản lý cũng đòi hỏi chuyên nghiệp và
hiệu quả hơn. Trên thế giới, cùng với sự ra đời của ứng dụng dân sự của hệ thống
vệ tinh định vị toàn cầu GPS, bài toán quản lý giao thông, trong đó có quản lý
các phương tiện giao thông đã được nghiên cứu và phát triển thành các giải pháp
khá hoàn chỉnh.
Tại Việt Nam hiện nay mạng lưới thông tin di động toàn cầu (GSM) đã và
đang phát triển và hứa hẹn với nhiều công nghệ mới, đem lại nhiều giá trị cao.
Đặc biệt với phạm vi phủ sóng và tính ứng dụng rộng rãi, mạng di động trở
thành một mạng lưới thông tin rất hữu ích. Cùng với số lượng rất lớn các phương
tiện cá nhân đang được sử dụng và có nhu cầu quản lý cao đối với cả cá nhân và
doanh nghiệp.
Với những lý do trên nhóm chúng em đã quyết tâm tìm hiểu và thực hiện một
hệ thống định vị để quản lý phương tiện cá nhân sử dụng hệ thống định vị GPS
và công nghệ GPRS mà cụ thể là đề tài “ Nghiên cứu và sử dụng hệ thống
định vị dùng để quản lý phương tiện giao thông trên smartphone ”
Hà Nội, ngày….tháng…..năm 2012
4
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện, đề tài “Nghiên cứu và sử dụng hệ
thống định vị dùng để quản lý phương tiện giao thông trên smartphone ” do
thầy Bùi Thanh Lâm hướng dẫn đã được hoàn thiện. Trong suốt thời gian
nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng em đã gặp không ít những khó khăn và đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ nhiệt thành và quý báu.
Trước tiên, chúng em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Bùi Thanh Lâm đã tin
tưởng giao đồ án, chỉ đạo và hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề
6
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
- Cắt cử nhân viên theo dõi, ghi nhận các báo cáo bằng văn bản, hoặc đường
điện thoại đối với các phương tiện trong doanh nghiệp (số lượng lớn).
- Sử dụng các module GPS – Galileo: các module này có chức năng thu tín
hiệu từ các hệ thống vệ tinh định vị, qua đó tính toán xác định được vị trí của
thiết bị đó theo hệ tọa độ địa lý: bao gồm kinh độ, vĩ độ và độ cao.
- GIS: là hệ thống phần mềm địa lý có chức năng tiếp nhận thông tin về vị trí
địa lý, sau đó xử lý và hiển thị trên hệ thống bản đồ số. Ví dụ như hệ thống quản
lý tàu đánh cá thông qua bộ đàm, quản lý taxi…
Tuy nhiên trong thực tế vẫn tồn tại các vấn đề :
- Đối với việc quản lý bằng các nhân viên cử theo các phương tiện: tốn kém
về nhân lực và chưa hiệu quả. Khả năng giám sát và điều khiển chưa chuyên
nghiệp, không phù hợp với các phương tiện cá nhân.
- Việc sử dụng các module xác định vị trí bằng GPS còn đơn giản, các thiết bị
hầu hết được nhập khẩu nguyên chiếc, ứng dụng đơn thuần xác định vị trí. Bên
cạnh đó giá thành còn cao và không chủ động được về mặt kỹ thuật.
- Với một số hệ thống quản lý thông tin về bản đồ số như GIS: tuy đã xây
dựng theo mô hình hệ thống mức độ phổ biến chưa cao. Ứng dụng mang tính
chuyên biệt, đặc biệt là mức chi phí đầu tư lớn, chủ động về mặt kỹ thuật bị hạn
chế.
1.2 Phương hướng xây dựng đề tài
Để khắc phục các thực trạng trên và tìm ra một giải pháp tối ưu hơn nhóm đã
kết hợp giữa công nghệ GPS và mạng di động GSM (cụ thể là công nghệ GPRS)
để đưa ra một hệ thống tối ưu hơn:
Sự ra đời của những phương tiện vận chuyển như máy bay, và những con tàu
vũ trụ đòi hỏi điều khiển những thiết bị đó trong không gian ba chiều. Những
phương pháp dẫn đường và những hệ thống dẫn đường vô tuyến điện chỉ xác
định được vị trí theo 2 chiều không gian dùng cho việc dẫn dắt các tàu thủy đã
trở thành lỗi thời và không còn phù hợp. Trước những đòi hỏi về kỹ thuật đó
nhiều nhà khoa học đã được chính phủ Mỹ tài trợ để thực hiện nghiên cứu hệ
thống dẫn đường dựa trên vũ trụ. Bộ Quốc phòng Mỹ là cơ quan thiết kế và điều
khiển hệ thống định vị toàn cầu. Trong nhóm những người tham gia điều hành
dự án GPS của Bộ Quốc Phòng Mỹ cần kể tới sự đóng góp to lớn của TS Ivan
Getting, người sáng lập The Aerospace Corporation, và TS Bradford Parkinson,
chủ tịch hội đồng quản trị của The Aerospace Corporation.
Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS) được Chính phủ
Mỹ thiết lập năm 1995, là hệ thống định vị, dẫn hướng và định thời trên không
trung được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Hệ thống vệ tinh này cung cấp miễn
phí các dịch vụ có liên quan, bao gồm các hoạt động dân sự và quân sự cho
người sử dụng trên toàn thế giới. Việc áp dụng công nghệ GPS không chỉ phổ
9
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
biến cho việc sử dụng dân sự, từ ôtô, máy bay đến điện thoại di động, mà cũng là
một bộ phận không thể thiếu của hệ thống an ninh và bảo vệ quốc phòng.
Hệ thống định vị toàn cầu (GPS-Global Positioning System) là một mạng gồm
24 vệ tinh Navstar quay xung quanh Trái đất tại độ cao 11.000 dặm (17.600 km).
Được Bộ Quốc Phòng Mỹ ấn định chi phí ban đầu vào khoảng 13 tỷ USD, song
việc truy nhập tới GPS là miễn phí đối với mọi người dùng, kể cả những người ở
các nước khác. Các số liệu định vị và định thời được sử dụng cho vô số những
ứng dụng khác nhau bao gồm hàng không, đất liền và hàng hải, theo dõi các
phương tiện giao thông trên bộ và tầu biển, điều tra khảo sát và vẽ bản đồ, quản
minh Châu Âu và Cơ quan Vũ trụ Châu Âu, cuối cùng đã nhận được sự khẳng
định để sử dụng và chương trình này rất giống với trọng tâm chính sách của Mỹ.
Các thực thể quản lý và cơ quan an ninh cũng được yêu cầu phát hiện và bảo vệ
chống lại việc sử dụng các hệ thống này một cách phi pháp và cho các mục đích
chống đối. Nỗ lực duy trì Chương trình GLONASS cho thấy dự định của Nga
ủng hộ GNSS riêng của mình. Hệ thống do Chính phủ liên bang Nga quản lý bao
gồm 21 vệ tinh, có quỹ đạo quay quanh 3 hành tinh khác nhau. Từ sau năm
1995 hệ thống GPS vẫn tiếp tục được duy trì và bảo dưỡng cũng như thay thế
những vệ tinh già tuổi. Năm 2000, số vệ tinh trong chòm GPS đã tăng lên 28 vệ
tinh. Những vệ tinh thế hệ GPS-IIR đã và đang được phóng lên để thay thế
những vệ tinh già tuổi. Vệ tinh được phóng lên ngày 16/9/2005 mang tên GPSIIR-M1, là vệ tinh đầu tiên thuộc thế hệ 8 chiếc vệ tinh hiện đại nhất GPS-IIRM. Theo website Space-Based Postioning, Navigation and Timing của chính phủ
Mỹ “Chính phủ Mỹ cam kết cung cấp tối thiểu 24 vệ tinh GPS hoạt động trên
quĩ đạo với 95% thời gian. Không lực Mỹ (USA Air Force) phóng các vệ tinh bổ
sung có chức năng dự trữ để phòng cho thời gian bảo dưỡng định kỳ các vệ tinh
và bảo đảm tính sẳn có của ít nhất 24 vệ tinh hoạt động. Từ 28/08/2009, đã có 35
11
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
vệ tinh trong chòm GPS, với 30 vệ tinh ‘khỏe mạnh’ cho người sử dụng”. Do đó,
chòm 30 vệ tinh đang thực sự bay như một chòm 24 vệ tinh.
Lịch sử phát triển GPS
Bảng 2.1. Lịch sử phát triển GPS
Thời gian
Sự kiện
Vệ tinh Block I đầu tiên được phóng. Toàn bộ 11 vệ tinh
Block I được phóng trong khoảng thời gian 1978 và 1985 trên
tiếng nổ hạt nhân (NDS) mới hơn
Theo the Soviet downing of Korean Air flight 007, tổng
thống Reagan hứa cho GPS được sử dụng cho các máy bay
16/9/1983
dân dụng hoàn toàn miễn phí khi hệ thống đưa vào sử dụng.
Sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu lan tỏa công nghệ GPS từ
quân sự sang dân sự.
Hợp đồng thiết bị người sử dụng chính đầu tiên được giao
4/1985
cho JPO. Hợp đồng bao gồm việc nghiên cứu, phát triển cũng
như lựa chọn sản xuất các máy thu GPS dùng cho máy bay,
tàu thủy và máy thu xách tay (gọn nhẹ).
Bộ Quốc phòng chính thức yêu cầu Bộ Giao thông
(Department of Transport, DOT có trách nhiệm thiết lập và
1987
cung cấp một văn phòng đáp ứng nhu cầu người sử dụng dân
sự về thông tin GPS, dữ liệu và hỗ trợ kỹ thuật. Tháng 2 năm
1989, Coast Guard có trách nhiệm làm đại lý hướng dẫn Dịch
vụ GPS Dân sự (civil GPS service).
Khảo sát trở thành một thị trường GPS thương mại đầu
bảng được “nâng cánh” Để bù cho số vệ tinh giới hạn có sẵn
1988
đồng xây dựng 20 vệ tinh bổ sung (Block IIR). Chiếc vệ tinh
Block IIR đầu tiên sẵng sàng để phóng vào cuối năm 1996.
Hãng Trimble Navigation, nhà sản xuất bán máy thu GPS
1990
hàng đầu thế giới được thành lập năm 1978 hoàn thành loạt
sản phẩm ban đầu.
DOD theo Kế hoạch Dẫn đường Vô tuyến Liên bang, lần
25/3/1990
đầu tiên khởi động (kích hoạt) SA (Selective Availability) làm
giảm độ chính xác dẫn đường GPS có chủ định.
8/1990
SA được tắt đi trong chiến tranh vịnh Ba tư (Persian Gulf
War). Những yếu tố đóng góp vào quyết định tắt SA bao gồm
việc phủ sóng ba chiều có giới hạn được chòm NAVSTAR
cung cấp trong quỹ đạo vào thời gian đó và số máy thu mã số
chính xác (Precision (P)-code) trong bản kiểm kê của DOD.
DOD đã mua hàng nghìn máy thu GPS dân dụng ngay sau đó
không lâu đã dùng cho lực lượng liên minh trong cuộc chiến
14
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
tranh.
mà GPS đã có khả năng duy trì độ chính xác ở mức độ sai số
100 mét và có sẵn trên toàn cầu liên tục cho người sử dụng
SPS như đã hứa.
17/2/1994
Người quản trị FAA David Hinson thông báo GPS là một
hệ thống dẫn đường đầu tiên đã được thông qua để sử dựng
15
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
làm phương tiện hỗ trợ dẫn đường độc lập cho tất cả các
phương tiện bay thông qua tiếp cận không chính xác
(nonprecision approach).
Người quản trị FAA David Hinson thông báo ngừng phát
6/6/1994
triển Hệ thống Hạ cánh Vi sóng (MLS) cho việc hạ cánh Loại
II và III.
Hãng Orbital Sciences, một nhà sản xuất tên lửa và vệ tinh
hàng đầu thế giới đồng ý mua hãng Magellen Corp., một nhà
sản xuất máy thu GPS cầm tay ở California bằng trao đổi
11/1994
chứng khoán trị giá 60 triệu đô la Mỹ, mang lại cho Orbital
tiến gần tới mục tiêu trở thành công ty viển thông hai chiều
dựa vào vệ tinh.
16/3/1995
tín hiệu GPS cho cộng đồng người sử dụng dân dụng thế giới
trong thư gửi cho ICAO
28/08/2009
Có 35 vệ tinh trong chòm GPS
2.1.2 Các thành phần của GPS
Hệ thống vệ tinh GPS chia làm 3 phần:
• Phần không gian (space segment): Các vệ tinh.
• Phần điều khiển (control segment ): Trạm mặt đất.
• Phần người sử dụng (user segment): Bộ thu tín hiệu.
2.1.2.1 Phần không gian
Gồm 28 quả vệ tinh (24 vệ tinh hoạt động và 4 vệ tinh dự trữ khi có một
chiếc nào bị hỏng) (tính đến năm 2000) nằm trên các quỹ đạo xoay quanh trái
đất. Chúng chuyển động ổn định, hai vòng quỹ đạo trong khoảng thời gian gần
24 giờ. Các vệ tinh này chuyển động với vận tốc 7 nghìn dặm một giờ. Các vệ
tinh trên quỹ đạo được bố trí sao cho các máy thu GPS trên mặt đất có thể nhìn
thấy tối thiểu 4 vệ tinh vào bất kỳ thời điểm nào.
Các vệ tinh được cung cấp bằng năng lượng Mặt Trời. Chúng có các
nguồn pin dự phòng để duy trì hoạt động khi chạy khuất vào vùng không có ánh
17
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
sáng Mặt Trời. Các tên lửa nhỏ gắn ở mỗi quả vệ tinh giữ chúng bay đúng quỹ
19
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
thể bao gồm các bộ phận hiển thị để cung cấp các thông tin vị trí, tốc độ, hay bản
đồ chỉ đường.
Một bộ thu GPS được mô tả với số kênh. Nó cho biết số lượng vệ tinh tối đa
mà bộ thu có thể xử lý đồng thời. Hiện nay, số kênh của bộ thu GPS thường đạt
tới 12 đến 20 kênh.
Đa số các bộ thu GPS có thể truyền tải dữ liệu tính toán được tới máy tính hay
các thiết bị khác sử dụng giao thức NMEA 0183 hay chuẩn mới hơn và ít sử
dụng hơn là NMEA 2000. Ngoài ra cũng có các giao thức khác như SiRF hay
MTK. Bộ thu GPS có thể truyền dữ liệu tới các thiết bị khác thông qua giao tiếp
nối tiếp, USB hay BlueTooth.
2.1.3 Hoạt động của hệ thống
Với GPS, các tín hiệu từ các vệ tinh sẽ đi tới các vị trí chính xác của người
dùng và được đo theo phép tam giác đạc. Để thực hiện phép tam giác đạc, GPS
đo khoảng cách thông qua thời gian hành trình của bản tin vô tuyến từ vệ tinh tới
một máy thu mặt đất. Để đo thời gian hành trình, GPS sử dụng các đồng hồ rất
chính xác trên các vệ tinh, một khi khoảng cách tới vệ tinh đã được đo thì việc
biết trước về vị trí vệ tinh trong không gian sẽ được sử dụng để hoàn thành tính
toán. Các máy thu GPS trên mặt đất có một “cuốn niên giám” được lưu trữ trong
bộ nhớ máy tính của chúng để chỉ thị mỗi vệ tinh sẽ có mặt nơi nào trên bầu trời
vào bất kỳ thời điểm nào. Các máy thu GPS sẽ tính toán các thời gian trễ qua
tầng đối lưu và khí quyển để tiếp tục làm chính xác hơn phép đo vị trí.
Để bảo đảm chắc chắn vệ tinh và máy thu đồng bộ với nhau, mỗi vệ tinh có
bốn đồng hồ nguyên tử chỉ thời gian chính xác tới 3 ns, tức ba phần tỷ giây.
Nhằm tiết kiệm chi phí, các đồng hồ trong các máy thu dưới đất được làm ít
2.1.4 Bộ thu GPS.
Bộ thu GPS tính toán vị trí của nó bằng việc tính toán và so sánh thời gian
truyền tín hiệu từ lúc nó được gửi từ vệ tinh đến khi nhận được tại bộ thu trên
mặt đất. Mỗi vệ tinh truyền liên tục các bản tin có chứa thời gian bản tin được
gửi đi, thông tin quỹ đạo chính xác, tình trạng hệ thống chung. Bộ thu GPS đo
thời gian truyền của mỗi bản tin gửi từ vệ tinh và tính toán khoảng cách tới vệ
tinh đó. Phép đo hình học ba cạnh tam giác được sử dụng để kết hợp các khoảng
cách này cùng vị trí của các vệ tinh để xác định vị trí của bộ thu. Tuy nhiên trên
thực tế, một sai số nhỏ của thời gian nhân với vận tốc rất lớn của ánh sáng (cũng
là vận tốc lan truyền của sóng điện từ) sẽ gây ra sai số về khoảng cách đáng kể.
Do vậy các bộ thu sử dụng thêm một vệ tinh để hiệu chỉnh đồng hồ của chúng.
22
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4
Trong một số trường hợp nếu biết một trong các thông số tọa độ không gian, ví
dụ như độ cao, chúng ta chỉ cần 3 vệ tinh để xác định được vị trí chính xác.
Tính toán được khoảng cách từ bộ thu tới vệ tinh, cho phép xác định vị trí của
bộ thu nằm trên hình cầu có tâm là vệ tinh đó. Do vậy, với 4 vệ tinh ta có thể xác
định được vị trí của bộ thu ở tại hai miền giao của 4 hình cầu có tâm là vị trí các
vệ tinh, bán kính là khoảng cách từ bộ thu tới các vệ tinh đó.
Trường hợp không có lỗi, bộ thu GPS sẽ có vị trí tại một điểm giao của 4 bề
mặt hình cầu. Nếu bề mặt của hai mặt cầu giao nhau tại nhiều hơn một điểm,
giao tuyến của chúng sẽ là một hình tròn. Giao tuyến này và mặt cầu thứ 3 trong
hầu hết các trường hợp sẽ giao nhau tại hai điểm (mặc dù chúng có thể chỉ giao
nhau tại một điểm hoặc không giao nhau). Vị trí chính xác của bộ thu GPS là 1
trong hai giao điểm mà gần với bề mặt trái đất nhất đối với các bộ thu của các
phương tiện di chuyển trên hay gần bề mặt trái đất. Giao điểm còn lại có thể là vị
trí chính xác của một thiết bị khác trong không gian.
giải quyết sự xung đột này dựa trên cách mà các mặt cầu giao nhau.
Hầu hết các khả năng bề mặt của 3 mặt cầu sẽ giao nhau khi đường tròn giao
tuyến của hai mặt cầu đầu tiên thường sẽ đủ lớn và sẽ giao với mặt cầu thứ 3 tại
hai điểm. Tuy vậy, mặt cầu thứ 4 hầu như sẽ không có khả năng giao với hai
điểm của ba mặt cầu đầu tiên, do bất kỳ một sự sai số về thời gian khi thực hiện
các phép tính trên bộ thu. Tuy nhiên, khoảng cách từ vị trí ước lượng của bộ thu
GPS tới bề mặt hình cầu ứng với vệ tinh thứ 4 có thể được sử dụng để hiệu chỉnh
sai số đồng hồ. Chúng ta đặt khoảng cách từ vị trí ước lượng của bộ thu GPS tới
vệ tinh thứ 4 là R4, P4 là giả khoảng cách của vệ tinh thứ 4. Khi đó, khoảng cách
Da từ vị trí ước lượng của bộ thu tới bề mặt hình cầu ứng với vệ tinh thứ 4: Da =
R4 – P4. Thời gian ước lượng cho sự sai số đồng hồ được tính là B= Da / c (với
c là vận tốc ánh sáng). Chúng ta dễ nhận thấy đồng hồ trên bộ thu GPS trễ khi
giá trị B là âm và nhanh khi giá trị B là dương.
2.1.7 Tín hiệu định vị
Mỗi vệ tinh GPS liên tục truyền các bản tin định vị với tốc độ 50bit/s bao gồm
các thông tin: thời gian trong tuần, số tuần và thông tin trạng thái hoạt động của
vệ tinh (tất cả chứa trong phần đầu của bản tin), lịch thiên văn (chứa trong phần
thứ 2 của bản tin) và một niên lịch (phần cuối của bản tin). Dữ liệu lịch thiên văn
25
Hệ thống định vị phục vụ quản lý phương tiện giao thông trên smartphone
Lớp Cơ điện tử 2 – K4