Nghiên cứu và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại - Pdf 24

Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
1

NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
CỦA CARTRIDGE WORLD TẠI VIỆT NAM

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 Nhượng quyền thương mại (NQTM) là một hình thức kinh doanh đã
xuất hiện hơn 100 năm nay và khá thành công trên thế giới. Một số
thương hiệu đã áp dụng mô hình nhượng quyền vào chiến lược kinh
doanh và trở thành những thương hiệu toàn cầu, tiêu biểu như:
McDonald’s; KFC, 7_Eleven, Metro…
 Tuy đã du nhập vào Việt Nam hơn 10 năm nay, nhưng NQTM vẫn
chưa thật sự phát triển. Vẫn còn nhiều người chưa hiểu về hình thức
kinh doanh này cũng như không thấy được những lợi ích có được khi
kinh doanh theo mô hình nhượng quyền do đó họ vẫn chưa mạnh dạn
đầu tư. Cà phê Trung Nguyên là công ty đi tiên phong trong lĩnh vực
nhượng quyền sau đó là Phở 24, Kinh Đô… Hiện nay Việt Nam có
hơn 50 công ty kinh doanh theo hình thức này , tuy nhiên vẫn còn
nhiều khuyết điểm trong cách vận hành ngoại trừ Phở 24 được xem là
khá thành công.
 Nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng cộng với việc gia nhập
WTO, khiến Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu
tư nước ngoài. Ngoài một số “đại gia” nhượng quyền trên thế giới đã
xuất hiện ở Việt Nam từ lâu như KFC, Lotteria, Metro Cash & Carry;
sắp tới sẽ tiếp tục có thêm McDonald, 7_Eleven,… gia nhập vào hệ

 Đề xuất những biện pháp nhằm mở rộng hệ thống nhượng quyền
thương mại của Cartridge World (CW) tại Việt Nam.

III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
 Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả thông qua bản câu hỏi
Đối với nghiên cứu đo lường mức độ cảm nhận của khách hàng
đối với Cartridge World (VN)
o Kích thước mẫu: 100 khách hàng
 20% khách hàng lớn (trung bình mua mực CW từ 10 triệu
trở lên/tháng.
 40% khách hàng TB (trung bình 5 – 10 triệu/tháng)
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
3

 40% khách hàng nhỏ (trung bình dưới 5 triệu/tháng)
 Nghiên cứu tại bàn bằng những dữ liệu thứ cấp như: báo, internet, tài
liệu công ty…
 Phỏng vấn trực tiếp (1-2 người đã mua nhượng quyền của CW)

IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tại địa bàn TPHCM, Vũng tàu.

V. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
A. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI

B. MÔ HÌNH NHƢỢNG QUYỀN THƢỢNG MẠI CỦA CARTRIDGE

 Nhóm các nước điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại theo luật về
chuyển giao công nghệ.
Dựa trên 3 nhóm nước này, ta có một số khái niệm nhượng quyền tiêu biểu sau đây:
 Hiệp hội nhƣợng quyền kinh doanh Quốc tế (The International
Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra
Khái niệm nhượng quyền: "Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo
hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc
phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía
cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
5

nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở
hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn
vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình".
 Khái niệm của Uỷ ban Thƣơng mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal
Trade Commission - FTC): Khái niệm một hợp đồng nhượng quyền thương
mại là hợp đồng theo đó Bên giao:
Hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc
kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận.
Cấp giấy phép nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch
vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và
Yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu.
 Khái niệm nhƣợng quyền thƣơng mại của Cộng đồng chung Châu Âu
EC (nay là liên minh Châu Âu EU): Khái niệm quyền thương mại là một
"tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới

Tất cả các Khái niệm về nhượng quyền thương mại trên đây đều dựa trên quan
điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các điểm
chung trong tất cả những khái niệm này là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân
phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng
khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên
khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả
những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao quy định.
 Nhƣợng quyền thƣơng mại tại Việt Nam
Như đã trình bày ở trên, các quốc gia trên thế giới đã hình thành và phát triển
một cách hợp lý các vấn đề pháp lý liên quan tới họat động nhượng quyền. Do vậy,
những cái tên như: Burger King, Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin
Robbins, Texas Chicken, KFC, Hard Rock Café, Chili's… không những chỉ xuất
hiện tại các nước sở tại mà còn vươn xa đến rất nhiều nước trên thế giới trở thành
những hệ thống nhượng quyền toàn cầu.
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của các hệ thống nhượng quyền quốc tế, đã
xuất hiện các hệ thống nhượng quyền của Việt Nam như: Cà phê Trung nguyên,
Phở 24, Qualitea, Hệ thống chuỗi Bakery Kinh Đô... đã làm cho bức tranh thị
trường của Việt Nam càng trở nên hấp dẫn.
Đến nay, Luật thương mại có hiệu lực ngày 1.1.2006 tại mục 8, điều 284 đã đề
cập đến khái niệm nhượng quyền thương mại và các điều 284, 286, 287, 288, 289,
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
7

290, 291 qui định chi tiết các vấn đề liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương
mại. Nội dung điều 284 như sau:
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho

GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
8

khai đầu tiên về nhượng quyền, trao quyền đã được ghi nhận trong lịch sử mà sau
này nó được mở rộng, phát triển thành kinh doanh nhượng quyền thương mại.
Trong suốt thời kỳ nội chiến, mô hình đầu tiên được phát triển khi Sewing
Singer Machine sản xuất máy may thành lập một hệ thống phân phối trên toàn thế
giới, từ thời gian đó, nhiều công ty mạnh dạn sử dụng franchise để xâm nhập những
thị trường không thể vươn tới bởi vì chi phí cao và các nhân tố rủi ro liên quan đến
việc mở rộng.
Một thời kỳ mới của franchise bắt đầu năm 1950 (có thể gọi đây là phát súng
khởi nguồn cho nhượng quyền thương mại), khi Ray Kroc, một thương gia bán máy
pha chế thức uống quyết định đến San Bernadino, bang California thăm một khách
hàng vì vị khách này đã đặt mua tới 10 cái máy một lúc, trong khi một cửa hàng
bình thường chi cần trang bị một cái, Kroc ngạc nhiên khi thấy một đoàn người xếp
hàng chỉ đợi mua một chiếc bánh kẹp thịt được bán qua các ô cửa sổ, còn nhân viên
phục vụ với tốc độ tất bật nhưng chuyên nghiệp. Kroc nhận ra mô hình kinh doanh
này thật hiệu quả, chi phí thấp và đã thuyết phục hai anh em Dick McDonald và
Mac McDonald là chủ cửa hiệu trên ký hợp đồng ủy quyền cho mình như một đại lý
độc quyền dưới tên công ty McDonald’s System mà sau đó đổi tên thành
McDonald’s Corporation.
Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia đã
có các chính sách khuyến khích phát triển franchise. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên
luật hoá franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp
kinh doanh theo phương thức franchise. Chính phủ các nước phát triển khác như
Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý... cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sách thúc
đẩy, phát triển hoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong
việc bán franchise ra nước ngoài. Nhiều trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách
về franchise của các chính phủ, tư nhân lần lượt ra đời, các đại học cũng có riêng
chuyên ngành về franchise để đào tạo, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế.

quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng Franchise
Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp
hội franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là
Hiệp hội Franchise Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập
năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua
franchise. Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp,
cho các nền kinh tế quốc gia đã được thực hiện như:

Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
10

Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế
Xây dựng niên giám franchise khu vực, và trên toàn thế giới
Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp
thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến
franchise...
Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh franchise.

kinh doanh franchise, bởi vì tất cả từ hình thức trang trí bên ngoài, đến bên trong
các cửa hàng đều thống nhất một tỷ lệ, tiêu chuẩn, kiểu dáng như nhau. Các quy
trình về thời gian hoạt động, phong cách phục vụ khách hàng đều chuyên môn, đội
ngũ nhân viên làm việc theo một “công thức” nhất định. Trang phục nhân viên tiêu
chuẩn có thể nói như quân đội, ai cũng như ai. Phải gọi là hệ thống các gam màu
chủ đạo, nổi bật là điểm đầu tiên đập vào mắt người tiêu dùng. Tất cả các quy trình,
giai đoạn phục vụ khách hàng đều được văn bản hóa, cụ thể hóa theo một tiêu chuẩn
nhất định được quy ước trong một cuốn sách gọi là cẩm nang doanh nghiệp
franchising. Cuốn sách này được giao cho đối tác mua franchise của chủ thương
hiệu khi ký kết mua franchise. Các chi tiết ghi ngắn gọn, dễ hiểu (một sai lầm không
đáng có của hệ thống franchise là cẩm nang quá rườm rà,phức tạp. Chỉ nên ghi
những điều cơ bản phục vụ chính yếu cho nhu cầu kinh doanh sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ mà thôi).
Ví dụ hiện nay ở Việt Nam có Phở 24, cà phê Trung Nguyên, Kinh Đô Food,
đang áp dụng phương thức kinh doanh này. Trong hệ thống nhượng quyền của phở
24 (khá bài bản, và thành công ở Việt Nam) các cửa hàng phở đều một tiêu chuẩn
đồng bộ như nhau, không phân biệt được đâu là của chủ sở hữu, đâu là cửa hàng
nhượng quyền. Một hệ thống franchise mạnh chắc chắn chúng ta không thể nhận ra
sự khác biệt đâu là của chủ thương hiệu đâu là của người mua franchise, các của
hàng như hai giọt nước cùng rơi cùng một vận tốc và kích thước như nhau trong
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
12

không gian hàng trăm giọt nước như vậy Tạo thành hệ thống franchise – hệ thống
kinh doanh nhượng quyền thương mại.
Tóm lại, doanh nghiệp franchise có các tiêu chuẩn riêng biệt cho từng loại hình

GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
13

định trước. Mỗi đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập đều không có tư
cách pháp nhân và hạch toán phụ thuộc vào bên nhận quyền.
 Nhƣợng quyền khởi phát (Master franchise)
Nhượng quyền khởi phát là nhượng quyền thương mại mang tính quốc tế. Nghĩa
là, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. Bên
nhượng quyền trao cho bên nhận quyền, tiến hành kinh doanh theo theo hệ thống
các phương thức, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận quyền
được phép nhượng quyền cho các bên thứ ba Điều này sẽ góp phần khai thác một
cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới. Tuy vậy, đi đôi với nó cũng
sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinh doanh.
Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại
bao gồm:
 Nhƣợng quyền sản xuất (Processing franchise)
Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp
ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng
quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông
tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả
những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có
thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân
phối và cácdịch vụ hậu mãi.
 Nhƣợng quyền dịch vụ (Service franchise)
Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động có tính
chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ
cung cấp thẻ tín dụng…..Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công
một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng, Bên nhận
quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình hình và với thương
hiệu của bên nhượng quyền.
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
15

III. THUẬN LỢI – THÁCH THỨC CỦA HÌNH THỨC NHƢỢNG
QUYỀN THƢƠNG MẠI
1. Thuận lợi
Theo điều tra nghiên cứu của một số chuyên gia kinh tế gần đây cho thấy 90%
công ty theo hợp đồng franchise tại Hoa Kỳ tiếp tục hoạt động sau 10 năm, trong
khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng
franchise thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độc lập.
Bên mua nhƣợng quyền (Franchisee)
- Trước hết, đó là giảm thiểu rủi ro: mục đích chủ yếu của nhượng quyền
chính là giảm thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có nhiều rủi
ro và tỷ lệ thất bại không nhỏ. Lý do chính của tỷ lệ thất bại này là do người
quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất
nhiều thời gian cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại hình kinh
doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn
luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của

- Vốn luôn là một mối lo ngại lớn nhất khi muốn mở rộng hoạt động kinh
doanh. Nhưng trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt
động kinh doanh lại chính là bên nhận quyền. Điều này giúp cho bên nhượng
quyền có thể mở rộng hoạt động kinh doanh bằng chính đồng vốn của người
khác và giảm chi phí cho việc thâm nhập thị trường. Đồng thời việc phải bỏ vốn
kinh doanh là động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố gắng hoạt động có hiệu
quả, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên nhượng quyền.
- Thứ hai, mở rộng hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng. Ngày nay,
những sự thay đổi trên thị trường diễn ra rất nhanh. Lẽ dĩ nhiên là nếu bạn
không thay đổi, phát triển và mở rộng cùng với thị trường thì bạn sẽ bị các đối
thủ cạnh tranh qua mặt, những cơ hội kinh doanh cũng sẽ trôi qua tầm tay.
Thật may, hình thức nhượng quyền sẽ giúp bạn mở rộng hoạt động kinh doanh,
xây dựng sự hiện diện ở khắp mọi nơi một cách nhanh chóng với hàng trăm cửa
hàng trong và ngoài nước mà không một hình thức kinh doanh nào có thể làm
được.
- Thứ ba, thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu. Khi sử dụng hình thức nhượng
quyền, bên nhượng quyền sẽ tạo được những lợi thế trong việc quảng cáo, quảng
bá thương hiệu của mình. Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở khắp nơi của
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
17

chuỗi cửa hàng sẽ đưa hình ảnh về sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng một
cách dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó, vì chi phí quảng cáo sẽ được trải rộng cho rất nhiều cửa hàng,
cho nên, chi phí quảng cáo cho một đơn vị kinh doanh là rất nhỏ. Điều này giúp
bên nhượng quyền xây dựng được một ngân sách quảng cáo lớn. Đây là một lợi


2. Thách thức
Bên bán nhƣợng quyền
- Thách thức thứ nhất mà bên bán nhượng quyền gặp phải nằm ngay trong lợi
thế của nó. Khi mạng lưới phân phối dày đặc rộng lớn tồn tại yếu điểm với một
số lượng lớn cửa hiệu nhượng quyền cách trở về địa lý, thông tin thì việc quản lý
của các nhà quản lý sẽ gặp trở ngại nhất là khi cần có sự xử lý kịp thời và mang
tính chuyên môn (một vấn đề có thể là hạn chế đối với bên mua). Đôi khi chỉ là
thái độ thiếu lịch sự của một nhân viên một cửa hàng franchise hay vết bẩn trong
món ăn dẫn tới tổn hại chung cho cả thương hiệu và các đối tác trong hệ thống.
Trong những năm đầu do là đơn vị đi tiên phong trong lãnh vực franchise tại
Việt Nam nên Trung Nguyên đã khá bối rối trong hướng đi của mình và khá dễ
dãi trong việc bán franchise dẫn đến hiện trạng có quá nhiều quán cafe cùng
mang nhãn hiệu Trung Nguyên nhưng không cùng một đẳng cấp. Nói cách khác
Trung Nguyên rơi vào tình thế mất kiểm soát chất lượng và tính đồng bộ của
mình vì bắt đầu bán franchise với số lượng lớn khi chưa có đủ sự chuẩn bị. Thật
vậy có quán thì khá bề thế có quán lại quá xập xệ, khiêm tốn hay có quán có
máy lạnh phục vụ tốt tay nghề khá và có quán tay nghề kém bình dân, trang trí
nội thất cũng không đồng bộ theo một chuẩn mực chung. Từ cuối năm 2002
Trung Nguyên đã cho mời chuyên gia người Úc sang để khắc phục tình trạng
này nhưng trên thực tế để điều chỉnh lại hệ thống với hơn 400 quán cà phê trải
dài khắp nước quả là một thách thức của người điều hành mỗi quán cafe và của
người chủ thương hiệu nói chung.
- Nguy cơ bị mất cắp bí quyết kinh doanh trong quá trình hoạt động cũng là
một thách thức đặt ra đối với một nhà quản lý thương hiệu. Bên mua franchise
sẽ được chủ thương hiệu đào tạo phương thức hoạt động cung cấp những
phương công thức chế biến đặc biệt mang đặc trưng thương hiệu. Đặc điểm này
khiến cho kinh doanh nhượng quyền thương mại khó có thể diễn ra ở những nơi
có hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh như là ở Việt Nam. Như trường hợp nhãn
hiệu bánh phồng tôm Sa Giang của An Giang khi xuất khẩu sang Châu Âu thông

đảm bảo sự công bằng cho các franchisee khác trong hệ thống không làm ảnh
hưởng đến doanh số của nhau khi có những chương trình khuyến mãi, giảm giá
tự phát của một số cửa hàng”.
- Báo cáo doanh thu và tình hình hoạt động định kỳ. Các franchisee phải đóng
môt khoản phí định kỳ hàng tháng cho các franchisor. Trên thế giới khoản phí
này dao động trong khoảng từ 3 – 10% tổng doanh thu hàng tháng còn ở Việt
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
20

Nam là 2 – 3%. Đây là khoản phí bắt buộc vì vậy nếu bên mua franchise quản lý
chi phí không tốt, kinh doanh thua lỗ thì vẫn phải nộp cho bên chủ thương hiệu
một khoản phí định kỳ dựa trên doanh số bán ra. Đây cũng là một khó khăn lớn
mà bên mua nhượng quyền thường gặp phải.
Mức phí trên tổng doanh thu của các franchisor Việt Nam
Trung nguyên 2 %
Phở 24 3 %
Tapio cup 2%

(Nguồn: www.saga.vn – Công ty cổ phần kỹ nghệ vốn đầu tư Việt Nam)
- Chỉ có thể sử dụng nguồn nguyên liệu chỉ định hoặc cung ứng bởi chủ
thương hiệu do đó không chủ động được giá cả,thậm chí ảnh hưởng đến tiến độ
công việc thay vì có thể sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có chất lượng ngang
bằng thì phải đợi để có được nguồn nguyên
liệu quy định…
Trường hợp các cửa hàng KFC ở Việt
Nam để làm ra món khoai tây chiên mỗi năm

chuyển nhượng trong nằm ở chỗ đội ngũ nhân viên hay trang thiết bị đồng bộ
mà ở chỗ chính đối tác mua franchise – người chủ điều hành quán phở nhượng
quyền. Nếu chủ quán không quan tâm hay thiếu kinh nghiệm vì chỉ là một nhà
đầu tư đơn thuần thì khó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và như thế
mô hình kinh doanh nhượng quyền sẽ không đạt kết quả tối ưu ảnh hưởng ít
nhiều đến hình ảnh chung của thương hiệu. Ngược lại trong một số trường hợp
khác nếu đối tác mua franchise có quá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực nhà
hàng thì lại có xu hướng tự làm theo cách của mình vì nghĩ mình đã quá rành.
Thách thức đối với bên bán và cả bên mua
- Vẫn chưa có khung pháp lý chính thức điều chỉnh hoạt động này gây nhiều
khó khăn cho các doanh nghiệp khi tiến hành nhượng quyền. Thậm chí khi các
quy định trong Luật thương mại sửa đổi về hoạt động nhượng quyền thương mại
chính thức có hiệu lực sắp tới thì cũng tạo nên sự chồng chéo với Nghị định
11/2005/NĐ-CP ngày 2/02/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ sửa
đổi . Theo đó trong chương IV điều 32 thì Bộ Khoa học và Công nghệ, các Sở
Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm xác nhận đăng ký chuyển giao công
nghệ, thương hiệu tùy theo giá trị hợp đồng mà Bộ hay Sở xác nhận. Nhưng
Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
22

Luật Thương mại (sửa đổi và thông qua vào tháng 06/2005) thì lại quy định cơ
quan xác nhận đăng ký nhượng quyền là Bộ thương mại. Sự chồng chéo này có
thể gây ra lúng túng khó khăn tốn kém cho các doanh nghiệp khi áp dụng.
- Nguồn nhân lực có kiến thức nhượng quyền thương mại còn khan hiếm chủ
yếu là do doanh nghiệp tự đào tạo và nhân viên tự học.
- Việc xúc tiến nhượng quyền thương mại hiện vẫn còn nhiều hạn chế, mặc dù

IV. MỘT SỐ MÔ HÌNH NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI NỔI
TIẾNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Mc Donald’s
Thương hiệu đồ ăn nhanh McDonald’s giờ
đây không còn xa lạ với người dân trên khắp thế
giới. Sự thành công của McDonald’s với mô hình
nhượng quyền thương mại (franchising) là một
hình mẫu cho những doanh nhân thành đạt ngày
nay. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã biết tận
dụng hình thức này làm "đòn bẩy" phát triển thị
trường, nâng cao giá trị thương hiệu của mình.
McDonald’s là một tập đoàn bán lẻ đồ ăn nhanh có thế lực toàn cầu với hơn
31.000 nhà hàng địa phương, phục vụ gần 50 triệu người trên hơn 119 nước mỗi
ngày. Đó là những con số sơ bộ nhất về McDonald’s nhưng cũng đủ cho thấy quy
mô đồ sộ và sự phát triển phi thường của doanh nghiệp này. Năm 1940, anh em nhà
McDonald là Dick và Mac đã khai trương nhà hàng đầu tiên tại Bernardino,
California. Nhưng phải tới khi có sự tham gia của Ray Kroc – nhà phân phối độc
quyền của hãng sữa Multimmixer và là một người có tài thiên bẩm về marketing,
công việc kinh doanh của tập đoàn này mới thực sự cất cánh. Ban đầu, Ray Rock đã
học hỏi và áp dụng thành công cách thức quản lý mà hãng đồ ăn nhanh White
Castle đã từng đi tiên phong. Đó là việc xây dựng một thương hiệu nổi bật. Và ông
đã làm được nhiều hơn cả White Castle là phát tán thương hiệu này đi khắp thế giới.
Ông đã khám phá ra rằng chìa khóa thành công phải là sự mở rộng nhanh chóng các
cửa hàng nhượng quyền (franchisee). Khi đó, mỗi giấy phép nhượng quyền của
McDonald’s được bán với giá 950USD. Cho tới nay, McDonald’s không ngừng lớn
mạnh và trở thành một thương hiệu được ưa chuộng tại những nơi có sự xuất hiện
của sản phẩm mang tên McDonald’s.
(Nguồn: www.vietnambranding.com & www.mcdonalds.com)
hảo trong phục vụ khách hàng của ông sẽ luôn là một phần quan trọng trong truyền
thống của KFC. Và món gà rán chế biến từ thịt gà ngon và tươi nhất được trộn với
11 loại thảo mộc, gia vị cho ra loại Gà rán Kentucky độc đáo với vỏ bột vàng rộm,
hương vị thơm ngon mà chỉ có KFC mới làm được.
Hiện nay, KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất và nổi tiếng nhất
trên thế giới với hơn 10.000 nhà hàng tại 92 quốc gia. KFC và hệ thống nhượng

Nghiên cứu và phát triển mô hình
nhƣợng quyền thƣơng mại của Cartridge World (VN) GVHD: Th.s Đinh Tiên Minh SVTH: Nguyễn Quốc Khánh
25

quyền đang tạo việc làm cho hơn 200.000 người trên toàn thế giới. Mỗi năm, KFC
phục vụ hơn 4.5 tỉ miếng gà và khoảng 7 triệu thực khách một ngày trên toàn thế
giới.
(Nguồn: KFC Việt Nam – www.kfcvietnam.com)

3. Phở 24
Phở 24 không phải là người đi tiên
phong trong hình thức kinh doanh nhượng
quyền thương mại tại nước ta, tuy nghiên
phở 24 lại là mô hình nhượng quyền thành
công nhất trong số các doanh nghiệp Việt
Nam kinh doanh nhượng quyền.
Rút kinh nghiệm từ “người đi trước” – Cà Phê Trung Nguyên, Phở 24 đã tập
trung xây dựng tính đồng bộ xuyên suốt tất cả các khâu của hoạt động kinh doanh
Phở 24 với mục đích tạo nền tảng vững mạnh cho chiến lược franchise dài hạn sau
này. Nói khác đi, Phở 24 chọn hướng đi tập trung vào chất lượng và chiều sâu của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status