ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ
BÀI
TIỂU
LUẬN
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ 2
CƠ CẤU LẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI
CHÍNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015.
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
SVTH: Nhóm 7 – K13401
TP. HCM, ngày 14 tháng 04 năm 2016
DANH SÁCH NHÓM 7
STT
HỌ VÀ TÊN
MSSV
1
Phan Đinh Hải My
1
2
3
4
5
MÔ TẢ CÔNG VIỆC
Phần mở đầu
Hiếu
Chương 1: cơ sở lý
thuyết và các tiêu chí
Hiếu
đánh giá.
Chương 2:Thực trạng
hiện tại hệ thống ngân
Nguyên+Tr
hàng thương mại và các
ang
tổ chức tài chính ở VN
Chương 3: Hoạt động tái
cấu trúc hệ thống ngân
Ninh + My
hàng thương mại và các
tổ chức tài chính
Chương 4: Đánh giá
31/03
MỨC ĐỘ
HOÀN THÀNH
95%
95%
Deadline:
19h ngày
31/03
95%
Deadline:
19h ngày
31/03
95%
Deadline:
19h ngày
31/03
95%
Deadline:
19h ngày
31/03
95%
quá trình tái cấu trúc ............................................................................ 18
Bảng 2 : Tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng Việt Nam/mức dự nợ.............. 33
ii
DANH MỤC ĐỒ THỊ HÌNH VẼ
Trang
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng nợ xấu trong các NHTM Việt Nam............11
Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng thương mại.......................12
Hình 3: Tổng tài sản của các tổ chức tín dụng năm 2015......................15
Hình 4: Khảo sát các giải pháp trong tái cấu trúc ngân hàng. .............17
Hình 5: Các chỉ tiêu của SHB trước và sau sáp nhập............................22
Hình 6 : Tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn
2010 – 2015. ..........................................................................................34
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT/ KÝ HIỆU
CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
NHTM
TCTD
NHNN
NHTW
TCTDPNH
với nhiều chính sách mới chặt chẽ hơn, tác động lên hoạt động của
toàn bộ hệ thống và tình hình kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn,
bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng vẫn chưa có điểm sáng rõ
rệt. Chỉ số giá cổ phiếu ngành ngân hàng trong một năm qua có
mức tăng trưởng thấp hơn so với VN-Index, đặc biệt trong 6 tháng
trở lại đây.” (Báo tầm nhìn tri thức và phát triển – 2014)
Trước cơ hội và những thách thức lớn như hiện nay, các ngân
hàng và các tổ chức tài chính đã có nhiều nỗ lực trong việc khai
thác các nguồn lực của xã hội để phát triển hoạt động của tổ chức,
công ty mình. Tuy nhiên quá trình khai thác gặp nhiều khó khăn
buộc Nhà nước và các ngân hàng Trung Ương phải đề ra các giải
pháp, công cụ hỗ trợ các tổ chức, các ngân hàng thương mại và
việc sáp nhập và cơ cấu lại là một trong những biện pháp hiệu
quả.
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
Từ thực tế, các chính sách của Nhà nước và việc quyết định
sáp nhập cũng như tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và các
tổ chức tài chính đã mang lại hiệu quả và đem lại tình hình khả
quan và dấu hiệu phục hồi sau khoảng thời gian khủng hoảng của
hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính tại Việt Nam. Thông
qua việc nghiên cứu đề tài chúng ta hiểu hơn về hiệu quả việc sáp
nhập và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ
chức tài chính.
dụng các số liệu trên báo cáo tài chính để phân tích và đưa ra
hướng giải quyết.
Theo cách tiếp cận này, dựa trên các lý thuyết được xây
dựng, đồng thời kết hợp với các kết quả dưới đây sẽ trả lời cho các
vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
5.1. Về mặt lý thuyết: Bài tiểu luận đã tổng quan về lý thuyết cơ cấu và tái cấu
trúc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, mô hình tái cấu trúc của
các ngân hàng.
5.2 Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu bài tiểu luận có ý nghĩa các mặt sau
đây:
Giúp cho người đọc nhìn nhận lại quá trình tái cấu trúc và cơ cấu lại hệ thống các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính của Việt Nam giai đoạn 2010 –
2015.
Từ kết quả nghiên cứu chúng ta có cái nhìn tổng quan về hệ thống ngân hàng
tại Việt Nam đồng thời đưa ra những nhận định cho sự phát triển của hệ thống ngân
hàng.
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI:
Kết cấu tiểu luận gồm phần mở đầu, 4 chương và kết luận
Phần mở đầu: giới thiệu sự cần thiết của đề tài, tổng quan về đề tài nghiên
cứu, mục tiêu và đối tượng nghiện cứu, phương pháp và ý nghĩa của đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cơ cấu lại, sáp nhập các tổ chức tài chính, các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015.
Chương 2: Thực trạng hiện tại về hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ
chức tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015.
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
11
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
12
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
kinh doanh của DN. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản
dài hạn.
1.1.2 Cấu trúc, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp là cấu trúc, tái cơ cấu lại nguồn vốn
chủ sở hữu.
Đối với nguồn vốn chủ sở hữu. DN không phải cam kết thanh toán, người
chủ sở hữu vốn chỉ kỳ vọng vào lợi ích được mang lại từ hiệu quả hoạt động cuối
cùng của DN. Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của người chủ sở hữu đối với
toàn bộ tài sản của DN. Vì vậy, khi xét khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn
này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sỡ hữu trong tài trợ hoạt động sản xuất
kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sỡ hữu, thặng dư
vốn cổ phần, vốn khác của chủ sỡ hữu, cổ phiếu quỹ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sỡ hữu, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ
bản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, nguồn kinh phí quỹ khác,…
1.1.3 Vai trò của cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tài chính.
Mục tiêu của mọi DN là hoạt động SXKD có hiệu quả và hướng đến sự phát
triển bền vững. Mục tiêu này có đạt được hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố
quan trọng có tính quyết định, một trong số đó là vấn đề tái cấu trúc, sáp nhập các
tổ chức tài chính lại với nhau, hình thành 1 tổ chức vững mạnh và phát huy được
tính hiệu quả, giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Doanh
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CƠ CẤU LẠI, TÁI CẤU
TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH.
1.3.1 Quy mô của ngân hàng, tổ chức tài chính
Quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính được xem là
một dấu hiệu cho các nhà đầu tư bên ngoài. Các ngân hàng, tổ chức tài chính
thường có khuynh hướng công bố thông tin bên ngoài nhiều hơn. Mặt khác, các tổ
chức tài chính lớn thường niêm yết giá trên thị trường chứng khoán nên dễ dàng
huy động được nhiều nguồn vốn hơn và có khả năng duy trì một tỷ lệ nợ cao. Như
vậy, quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính có quan hệ thuận
chiều với cấu trúc tài chính của ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính.
1.3.2 Công nghệ khoa học kĩ thuật
Chúng ta cũng biết rằng mỗi tổ chức có thể sẽ áp dụng
những công nghệ khác nhau để hoạt động và kinh doanh. Do đó cơ
cấu tổ chức phải phù hợp với đặc thù công nghệ của doanh
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
14
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
nghiệp. Hai yếu tố làm cơ sở cho tổ chức quyết định một cơ cấu
phù hợp với công nghệ của mình là tính đa dạng và khả năng phân
tích. Tính đa dạng được hiểu là số trường hợp ngoại lệ so với tiêu
chuẩn đã được đề ra. Tính phân tích đề cập đến quá trình sản xuất
có thể chia thành các bước theo chuyên môn hóa đến mức nào.
Khi tính đa dạng thấp và khả năng phân tích cao, đây là công
chức dựa trên các đặc điểm: năng động, phức tạp, đa dạng và mức
độ cạnh tranh.
Khi môi trường bên ngoài năng động, tổ chức cần một cơ cấu
hữu cơ để nhanh chóng thích ứng với những thay đổi.
Khi môi trường bên ngoài phức tạp, cơ cấu tổ chức theo dạng
phân quyền có thể sẽ phù hợp vì tính tiếp cận của tổ chức với môi
trường gần hơn, có thể có nhiều thông tin hơn.
Khi môi trường đa dạng, tổ chức nào làm việc trong đặc điểm
môi trường này sẽ đa dạng về sản phẩm, dịch vụ, khách hàng hoặc
phạm vi địa lý.
Càng đa dạng bao nhiêu tổ chức lại càng cần bộ phận hóa theo
sản phẩm.
Khi môi trường mức độ cạnh tranh cao, mức độ cạnh tranh
này bao gồm cả sự khan hiếm về nguồn tài nguyên và nhiều đối
thủ cạnh tranh. Cơ cấu hữu cơ thích hợp với yếu tố môi trường này.
Tuy nhiên khi mức độ cạnh tranh quá cao thì tổ chức tạm thời phải
tập quyền để nhanh chóng ra quyết định và nhà điều hành cảm
thấy dễ dàng kiểm soát hơn.
1.3.4. Chiến lược của tổ chức tài chính, ngân hàng thương
mại
Thông thường tổ chức sẽ lựa chọn một trong 3 dạng chiến
lược sau đây để hoạt động:
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
16
Macroeconomics
2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Cho đến nay, hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã có
sự phát triển khá mạnh mẽ xét cả về mặt lượng lẫn mặt chất: Nếu như đầu những
năm 1990, tại Việt Nam, 4 NHTMNN chiếm gần như toàn bộ thị trường tiền gửi và
cho vay ở Việt Nam thì cho đến nay, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN), hiện cả nước có hơn 100 ngân hàng hoạt động. Cùng với đó là việc thành
lập và hoạt động của hàng loạt công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, quỹ
tín dụng từ trung ương tới địa phương. Có thể nói, với thời gian trên 20 năm thực
hiện quá trình đổi mới kinh tế, hệ thống ngân hàng và định chế phi ngân hàng đã có
sự phát triển vượt bậc, đóng góp những vai trò to lớn đối với những thành tựu về
kinh tế - xã hội nước ta những năm qua. Bên cạnh các tổ chức tín dụng (TCTD) còn
có sự hiện diện và ngày càng phát triển của các TCTD phi ngân hàng. Các định chế
tài chính này đã và đang có sự cạnh tranh khá quyết liệt với các NHTM trong một
số lĩnh vực dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các NHTM hiện nay đang gặp một số
vấn đề như sau:
Thứ nhất, năng lực tài chính của hầu hết các NHTM còn rất thấp. Hiện nay,
theo các tư liệu thống kê thì các NHTM Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu của Nghị
định 141. Tuy nhiên, nếu đi sâu xem xét thì có không ít NHTM chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu do tình trạng “sở hữu chéo” rất phức tạp, khó kiểm soát trong nội
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
18
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
bộ hệ thống này mà thực chất là để “lách luật”. Thậm chí do kinh doanh yếu kém
19
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
mức khoảng 125 tỷ USD (tương đương 120% GDP) - Một mức dư nợ cho vay quá
cao so với hầu hết các nước khác (Thái Lan 100%, Hàn Quốc 80%...). Dư nợ tín
dụng cao trong khi chất lượng tín dụng lại khá thấp do có không ít NHTM thực hiện
các hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao. Cụ thể:
Một số NHTM nhỏ cho vay lĩnh vực bất động sản quá cao (chiếm tới xấp xỉ
50% tổng dư nợ tín dụng). Một số NHTM tồn một tỷ trọng không nhỏ khoản cho
vay bất động sản dưới hình thức các tài sản thế chấp. Do thị trường bất động sản
trầm lắng, nên rủi ro gia tăng trong một bộ phận không nhỏ NHTM.
Một số NHTM không chỉ cho vay mà còn trực tiếp đầu tư vàng, ngoại tệ rủi
ro tiềm ẩn lớn, đồng thời gây rối loạn thị trường, khó khăn cho NHNN trong điều
hành thị trường tiền tệ (những bất ổn trên thị trường vàng gần đây phản ánh rất rõ
thực tế này).
Trong hoạt động cho vay, các NHTM chưa thực sự chú trọng công tác sàng
lọc khách hàng nên chất lượng tín dụng chưa cao. Mặt khác, do lãi suất cho vay khá
cao, vượt quá sức chịu đựng của hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, nên
vốn tín dụng thường không đến đúng các địa chỉ cần thiết (thường là đổ vào các thị
trường bất động sản, vàng, ngoại tệ…), làm giảm hiệu quả nguồn vốn trong nền
kinh tế. Theo thống kê, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khá cao
(theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình thì nợ xấu hiện nay ở mức khoảng
8,86%, Moody’s đưa ra dự báo con số nợ xấu trên 8,6% trong khi đó tổ chức Fitch
Rating lại dự báo nợ xấu lên đến trên 13%) và tốc độ tăng trưởng nợ xấu hiện vẫn
rất đáng quan ngại.
bức thiết, xuất phát từ bối cảnh thị trường tài chính quốc tế diễn biến ngày càng
phức tạp, đã và đang tác động rất bất lợi đến môi trường tài chính trong nước, trong
khi đó, bản thân các định chế tài chính trong nước còn khá nhiều yếu kém và bất
cập, khó khăn trong việc cải thiện và tăng cường năng lực cạnh tranh trong quá
trình hội nhập tài chính khu vực và quốc tế;
Môi trường tín dụng có sự thay đổi căn bản không chỉ từ sự gia tăng khá ồ ạt
số lượng các NHTM và mức độ khá “đậm đặc” các chi nhánh, phòng giao dịch đã
và đang gây khó khăn trong công tác quản lý vĩ mô hệ thống tiền tệ ngân hàng và
thanh toán.
Sự hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao gắn với các cuộc “chạy đua” về tăng lãi suất
huy động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua làm tăng chi phí về vốn
và lãi suất cho vay vượt quá sức chịu đựng của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh
doanh (những quyết sách của NHNN thời gian qua nhằm uốn nắn thị trường tín
dụng và đưa lãi suất về mức thị trường có thể chấp nhận được, song điều này có vẻ
như khó khăn).
Ðiều này đang tiếp tục đặt ra vấn đề cấp bách phải có giải pháp mạnh nhằm
tiếp tục chấn chỉnh thị trường nếu như không muốn làm suy giảm thêm niềm tin của
công chúng về khả năng có thể làm tròn bổn phận hay không của một trung gian tài
chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế này. Không những thế, các cú sốc trên
thị trường ngoại tệ trước đây hay thị trường vàng những ngày qua đã cho thấy rằng
hệ thống các định chế tài chính tại Việt Nam chưa thực sự làm “tròn vai” của mình
trong việc kiểm soát sự ổn định của các thị trường này.
Như trên đã phân tích cho thấy rằng, hiện hệ thống ngân hàng Việt Nam
đang có khá nhiều bất cập cần phải nhanh chóng xử lý nhằm làm lành mạnh hóa
hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, do đặc điểm hoạt động của hệ thống ngân hàng là
kinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm và có liên quan mật thiết đến hầu hết các tổ
chức và cá nhân trong xã hội; hơn nữa, sự hoạt động của chúng luôn mang tính chất
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
tài chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội.Chúng
góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợi
ích thiết thực: tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nhỏ lẻ thúc đẩy cạnh tranh
và tiến bộ tài chính…
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
23
Macroeconomics
Nhóm 7 – K13401
2.2.2 Thực trạng về cơ cấu các tổ chức tài chính phi ngân
hàng (TCTCPNH) ở Việt Nam
Nếu như từ 1992 trở về trước, cả nước chỉ có 2 công ty tài chính, 2 công ty
bảo hiểm thì đến năm 2001 đã có 7 công ty tài chính; 8 công ty cho thuê tài chính;
18 công ty bảo hiểm; 8 công ty chứng khoán. Ngoài ra, còn có các công ty đầu tư,
quĩ đầu tư, quĩ tiết kiệm bưu điện (Quĩ này đã sáp nhập vào NHTMCP Liên Việt).
Số lượng các TCTCPNH hoạt động trên thị trường Việt Nam thường xuyên thay đổi
theo thời gian, và đã có sự tăng lên đáng kể so với đầu những năm 2000. Tính đến
nay, tại Việt Nam có sự hiện diện của 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài
chính, 105 công ty chứng khoán, 78 công ty môi giới chứng khoán, 2 công ty bảo
hiểm nhà nước, 16 công ty cổ phần bảo hiểm, 3 công ty liên doanh bảo hiểm, 17
công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, 1 công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia,
10 công ty môi giới bảo hiểm. Một thực tế là sự cạnh tranh giữa các tổ chức tài
chính trong lĩnh vực huy động vốn và cho vay diễn ra rất quyết liệt, khiến môi
trường tín dụng trong nhiều giai đoạn là rất bất ổn. Hơn nữa, cũng cần một lưu ý là
sự cạnh tranh quá mức lại chủ yếu tập trung tại một số khu vực đô thị lớn như TP.
nhằm cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tương đồng. Các ngân hàng cạnh tranh
với nhau chủ yếu dựa trên chính sách giá hơn là đa dạng hóa danh mục sản phẩm
cung cấp. Việc hợp nhất các ngân hàng sẽ góp phần tăng khả năng cạnh tranh cũng
như hiệu quả hoạt động, tuy nhiên đó không phải là mục tiêu cốt lõi của quá trình
tái cơ cấu. Có một thực tế là nhiều ngân hàng nhỏ vẫn hoạt động tốt hay việc nhiều
GVHD: TS. Nguyễn Văn Luân
25