Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Mục lục
Nhóm 2 – KH13KT
Page 1
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Lời nói đầu
Với hơn 25 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. quá trình đô thị hóa ở Việt
Nam đã và đang diễn ra nhanh chóng dẫn đến có nhiều khác biệt về hoạt động kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng giữa đô thị và nông thôn. Vì vậy buộc nhà
quản lý có những thay đổi về cách thức tổ chức và quản lý phù hợp nhất với chính
quyền ở đô thị cũng như nông thôn, thay những cái cũ không còn phù hợp với tình
hình thực tế hiện nay nữa.
Mô hình chính quyền đô thị đã có một sự đột phá của Bộ Nội vụ đã trình
Chính Phủ ở phiên họp Chính Phủ. Mô hình này hứa hẹn sẽ có nhiều kết quả tốt và
nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân.
Dưới đây là bài tìm hiểu của nhóm chúng em về chủ đề Thí điểm tổ chức
chính quyền đô thị ở Việt Nam. Mong cô cho chúng em những góp ý để bài làm
được hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn cô!
Nhóm 2 – KH13KT
Page 2
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
yếu tố cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, vừa với tư cách chính quyền của
địa phương
Mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam thể hiện trên hai
điểm cơ bản sau:
•
•
Nhóm 2 – KH13KT
Mỗi đơn vị hành chính thành lập hai loại cơ quan là Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân.
Giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương và giữa
các cấp chính quyền địa phương không có tính độc lập cao, tuy
rằng trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước đã đẩy mạnh việc
Page 3
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
phân cấp quản lý cho các cấp chính quyền địa phương. Nguyên tắc
cơ bản và hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính
quyền địa phương là tập trung dân chủ. Đây là điểm rất đáng chú ý
trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta.
Nó chứng tỏ rằng, chính quyền địa phương Việt Nam không có “chủ
quyền” trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Điều 7 của Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thể hiện rõ hơn điều này khi ghi
nhận trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân
dân cấp xã có sự chỉ đạo trong quản lý nhà nước từ trên xuống dưới. Đây chính là
điểm khác biệt cơ bản để phân biệt chính quyền địa phương với chính quyền địa
phương tự quản.
nhiệm của mỗi cấp chính quyền cũng như thực hiện việc kiểm soát quyền lực mới
có hiệu quả.
Thứ ba, khoản 3 Điều 112 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, chính
quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp
trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.”
Trên thực tế rất nhiều nhiệm vụ của Trung ương được giao cho địa phương
thực hiện, nhưng chỉ giao việc mà không kèm theo các điều kiện để thực hiện công
việc, do đó, gây rất nhiều khó khăn cho địa phương. Quy định tại khoản 3 Điều 112
của Hiến pháp tạo cơ sở hiến định giải quyết nhiều khó khăn của các địa phương
hiện nay.
2.
a.
Chính quyền ở đô thị
Đô thị
Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009: “Đô thị là khu vực tập trung dân
cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông
nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có
vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ,
một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị
của thị xã, thị trấn”.
Ở Việt Nam, khái niệm đô thị chỉ chung cho các thành phố, thị xã, thị trấn
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập. Đó là khu tập trung dân cư khi
hội tụ đủ 2 điều kiện:
Thứ nhất về cấp quản lý: đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thành lập.
Thứ hai về trình độ phát triển, đô thị phải đạt những tiêu chuẩn:
-
quyền quyết định nhanh và tức thì nhiều vấn đề quan trọng với đô thị.
Mô hình chính quyền đô thị là mô hình tập trung quản lý ở cấp TP. Vai trò
của người dân cũng được đề cập trong việc xây dựng chính quyền đô thị hiện đại.
Nhiều ý kiến cho rằng chính quyền đô hiện đại là "nhà nước thu nhỏ lại, tư nhân
phình ra", Nhà nước chỉ làm chức năng quản lý, đề ra chính sách hợp lý, còn huy
động người dân tham gia phát triển TP; xây dựng trong người dân thói quen ứng xử
đô thị, tuân thủ luật pháp triệt để... Mô hình chính quyền đô thị áp dụng sẽ không tổ
chức HĐND quận, phường. Chính quyền thành phố trực thuộc TƯ, ở khu vực nội
thành chỉ có HĐND cấp thành phố. Khu vực nội thành của thành phố trực thuộc
tỉnh cũng chỉ tổ chức HĐND thành phố mà không có HĐND phường. Khi đó,
UBND cấp huyện, quận, phường chỉ là cơ quan đại diện hành chính của cơ quan
hành chính cấp trên đặc tại địa bàn.
Đặc điểm
Chính quyền đô thị trên thế giới thường mang hai đặc điểm: “rút bớt cấp
hành chính lãnh thổ” và “thị trưởng do dân bầu trực tiếp”. Xuất phát từ đặc thù về
quản lý nhà nước ở vùng đô thị, chính quyền đô thị thường có hai đặc điểm khác
biệt so với chính quyền nông thôn.
Thứ nhất, được tổ chức rút gọn một số cấp chính quyền. Đặc điểm này xuất
phát từ thực tế đường kính các đô thị thường bé hơn đường kính các đơn vị hành
chính cùng cấp ở vùng nông thôn. Nên giảm bớt cấp chính quyền, nhưng vẫn bảo
đảm khoảng cách “nhân dân – chính quyền“ không quá xa về mặt không gian.
Nhóm 2 – KH13KT
Page 6
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Thứ hai, người đứng đầu chính quyền đô thị do dân bầu trực tiếp hay nói
cách khác bộ máy chính quyền được tổ chức theo mô hình thị trưởng. Điều này
Xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị theo 3 cấp hành chính như
hiện nay
Xác định rõ mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mới đối với chính quyền đô
thị theo hướng phân biệt với chính quyền nông thôn.
Phương án 2:
Nhóm 2 – KH13KT
Page 7
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị theo 3 cấp hành chính như
hiện nay
Nhưng có sự đổi mới về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động phù hợp với
xu hướng tổ chức chính quyền đô thị hiện đại của các nước trên thế giới.
Phương án 3:
Đổi mới căn bản mô hình chính quyền địa phương, xây dựng mô hình chính
quyền đô thị một cấp đại diện, hai cấp hành chính.
Theo đó, chính quyền thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc
tỉnh, thị xã gồm có HĐND và ủy ban hành chính thành phố, thị xã.
Tất cả các đơn vị hành chính trực thuộc cấp dưới đều không tổ chức
HĐND. Cơ quan hành chính nơi không tổ chức HĐND là cơ quan đại diện của cơ
quan hành chính cấp trên trực tiếp.
Người đứng đầu cơ quan hành chính ở đô thị là chủ tịch ủy ban hành chính
(hoặc thị trưởng).
Theo đó Hiến pháp năm 2013 Chương IX Chính quyền địa phương cũng
quy định cần tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô
thị…
Điều 111
dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp.
+ Về cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng ở đô thị nhiều và tốt hơn ở nông thôn. Đô
thị là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính liên thông, đồng
bộ. Chính cơ sở hạ tầng liên thông, đồng bộ này góp phần làm cho mỗi đô thị trở
thành một cơ thể sống có tính thống nhất, không thể chia cắt một cách giản đơn. Sự
“chia ranh giới” để quản lý theo quận, phường phải tôn trọng tính đồng bộ, liên
thông này. Ngoài ra, đô thị cũng thường có lợi thế về “giao thông” (ít bị chia cắt về
địa hình) nên khoảng cách giữa trung tâm đô thị tới các vùng ngoại vi không phải
là trở ngại quá lớn nếu đô thị có hạ tầng giao thông phát triển tốt. Trong khi đó, ở
các huyện vùng sâu, vùng xa, từ huyện tới thôn, bản xa nhất có lẽ mất tới cả ngày
đường. Do vậy, nói tới đô thị là nói tới “giao thông” (nhất là hạ tầng giao thông),
“nước” (cấp thoát nước), “điện” v.v. và là nói tới “quy hoạch”. Kinh nghiệm thực
tế không chỉ ở ta mà cả các nước phát triển đều chỉ ra rằng, thiếu vắng quy hoạch,
để các khu đô thị phát triển tự phát, tất yếu sẽ kéo theo các vấn đề lớn cho cộng
đồng về ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, lây lan bệnh dịch.
+ Về lối sống, văn hóa: thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối
sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị
dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự
khác biệt giữa đô thị và nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh
thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,... đến khía cạnh dân
số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,... ngay cả đến hệ thống đường xá, năng
lượng, nhà ở đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống
Nhóm 2 – KH13KT
Page 9
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
trách nhiệm người đứng đầu và trách nhiệm cá nhân dẫn đến hội họp nhiều, phản
ứng chậm, kém hiệu quả.
Nghị định 93/2001/NĐ-CP có mở rộng phân cấp cho thành phố trên bốn
lĩnh vực như: Quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội;
quản lý nhà, đất và hạ tầng kỹ thuật đô thị; quản lý ngân sách nhà nước và tổ chức
Nhóm 2 – KH13KT
Page 10
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
bộ máy và quản lý cán bộ, công chức. Nhưng đến nay, nghị định này đã không còn
phù hợp do việc ra đời của nhiều luật chuyên ngành.
Trong thực tế, về tổ chức bộ máy, Chính phủ quy định khá cứng các cơ
quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, riêng cấp xã thì khống
chế số lượng cán bộ, công chức. Chính vì thế mà có những phường-xã dân cư đông
đến gần 100.000 dân cũng có bộ máy tương tự như những nơi có 10.000 dân và số
lượng cán bộ, công chức có được tăng thêm nhưng vẫn không đáp ứng yêu cầu.
Thành phố muốn có lực lượng cảnh sát đô thị trực thuộc Chủ tịch Ủy ban hành
chính thành phố. Mặc dù, hiện nay thành phố được thí điểm thanh tra xây dựng với
lực lượng khá đông nhưng vẫn bất cập trong quản lý trật tự đô thị.
Về tài chính, ngân sách thành phố cũng rất khó khăn vì đang cần nguồn vốn
lớn, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xử lý các vấn đề về môi trường...
Nhiều lần, thành phố có đề xuất những cơ chế chính sách về việc được ổn định tỷ lệ
điều tiết, về việc giao cho Hội đồng nhân dân quyết định các định mức chi và được
quy định một số khoản thu, mức thu về phí để phát triển cơ sở hạ tầng... hoặc có
thẩm quyền tạo nguồn thu khác mà luật pháp hiện hành không cấm... nhưng chưa
được xem xét. Trong khi nguồn lực, tiềm năng của thành phố còn lớn mà chưa
được thu hút cho sự phát triển bền vững theo yêu cầu.
1/3 ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ trọng xuất khẩu
thu hút FDI của thành phố đang có xu hướng giảm. Trong khi đó, Đà Nẵng tuy có
quy mô nhỏ nhưng đang có xu hướng gia tăng đầu tư phát triển, và trình độ nguồn
nhân lực cao hơn, hệ thống hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin, hệ thống
truyền tải, cấp điện cấp nước... thuộc diện tốt nhất cả nước.
Đà Nẵng còn có tỷ lệ đô thị hóa cao vào khoảng 87,16% (92% vào năm
2020), tập trung dân cư, mật độ dân số và tỷ lệ dân nhập cư cao, mặt bằng dân trí
của dân cư đô thị nhìn trung cao hơn nông thôn. Kinh tế chủ yếu là phi công
nghiệp,dịch vụ chiếm tỷ trọng cao, phát triển các trung tâm thương mại và các tài
chính, dịch vụ khoa học.
Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận (huyện), xã (phường)
từ năm 2009 đến nay, hoạt động của chính quyền các cấp tại TP Đà Nẵng đang ổn
định, thông suốt, người dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn TP hài lòng
với cách thức phục vụ của chính quyền về chất lượng dịch vụ công.
Nhờ ứng dụng tốt các phương thức quản lý mới, hiện đại, từ năm 2006 đến
năm 2012, Đà Nẵng luôn thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu và có chỉ số tốt về
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin; chỉ số
quản trị hành chính công cấp tỉnh… Nhiều mô hình mới, cách làm mới về quản lý
đô thị trong điều kiện đặc thù của Đà Nẵng được đánh giá tốt, có hiệu quả như:
thực hiện tập trung, thống nhất cách quản lý đối với các lĩnh vực đất đai, xây dựng,
tổ chức các ban đền bù và giải tỏa, bố trí tái định cư thành phố; cung ứng dịch vụ
công về đất đai; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cải cách hành chính;
hình thành trung tâm Hành chính tập trung, trung tâm một cửa…
Đây là những tiền đề chứng tỏ bước đi đúng hướng và sẵn sàng cho việc
hình thành phương pháp quản lý Nhà nước theo mô hình đô thị hiện đại. Chủ tịch
Nhóm 2 – KH13KT
Page 12
Giai đoạn 1
Đối với giai đoạn 1, vai trò của HĐND thành phố được nâng cao với việc
thực hiện chức năng quyết nghị những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát
triển kinh tế, xã hội của thành phố; thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện
nghị quyết và các hoạt động của các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố.
Nhóm 2 – KH13KT
Page 13
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Trên cơ sở đó bổ sung thêm nhiệm vụ cho HĐND thành phố trong việc chủ
động huy động và tổ chức các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, khoa học công
nghệ) để phát triển kinh tế, xã hội thành phố. HĐND thành phố được ban hành một
số chính sách văn bản quy phạm nhằm điều chỉnh những vấn đề mới hoặc riêng có
của thành phố. Đây chính là một ưu điểm nổi bật của HĐND thành phố trong mô
hình CQĐT. Với mô hình hoạt động như trên, HĐND thành phố được đề cao và
xác định rõ vị trí là cơ quan đại diện của nhân dân, thể hiện tính chất tự chủ của
CQĐT thành phố. Việc tiếp nhận ý kiến cử tri sẽ được trực tiếp đến cơ quan có
thẩm quyền, thay vì phải qua nhiều tầng lớp trung gian như trước đây, đồng thời
việc giải trình trách nhiệm sẽ được yêu cầu cao hơn.
Chính quyền vẫn phân thành 3 cấp như hiện nay đó là UBND thành phố,
UBND quận, huyện, UBND phường, xã. Các cơ quan chuyên môn của thành phố
sẽ được chuyển từ chức năng tham mưu sang chức năng quản lý nhà nước, tổ chức
sắp xếp lại thành các nhóm chính đó là, nhóm tổng hợp (thanh tra, kế hoạch, tài
chính, nội chính, tư pháp, nội vụ), nhóm quản lý chuyên ngành (đô thị, kinh tế, xã
hội). Cơ quan hành chính cấp quận, huyện cũng sẽ được tinh gọn với các công chức
chuyên môn trực tuyến theo dõi ngành, lĩnh vực.... Việc sắp xếp, phân công lại một
cách hợp lý các nhiệm vụ thực hiện giữa UBND các cấp, mỗi công việc do một cấp
hoạch - Kiến trúc nên quy hoạch của Đà Nẵng là quy hoạch tích hợp, không bị
phân cấp, cắt khúc thiếu đồng bộ
Đà Nẵng đã có những biện pháp quản lý mang tính sáng tạo, thể hiện được
vai trò của người đứng đầu, hướng dần đến một mô hình chính quyền đô thị, các
chức năng quản lý thống nhất trên địa bàn, tập trung cơ quan tham mưu và cơ quan
hành chính về một đầu mối. Cơ quan giám sát là HĐND thành phố làm việc có
trách nhiệm như những đại biểu chuyên trách đảm bảo quyền lợi cho người dân và
cộng đồng doanh nghiệp. Một số chính sách thu hút nhân tài của Đà Nẵng (cấp đất,
tiền thưởng cho người được thu hút) dường như cũng mang lại hiệu quả cao thể
hiện qua tinh thần và thái độ làm việc, tính chuyên nghiệp và hiệu quả công việc
của đội ngũ công chức. Khi nói về mô hình chính quyền đô thị, thì dường như các
cán bộ công chức thuộc các sở, quận của Đà Nẵng đều nắm rất rõ về mô hình chính
quyền đô thị mà thành phố đề xuất.
Mức độ hài lòng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với các dịch
vụ công, dịch vụ đô thị do chính quyền cung cấp tại Đà Nẵng cao. Ý kiến của cộng
đồng doanh nghiệp và người dân ở TP. HCM cho rằng, hiện các thủ tục hành chính
còn phức tạp, còn nhiều đầu mối dẫn đến vòng xoáy thủ tục. Bằng chứng vì sao
người dân, doanh nghiệp ở Đà Nẵng hài lòng hơn là do cơ sở hạ tầng như đường sá,
cầu cống của Đà Nẵng phát triển nhanh trong các năm gần đây, trật tự an ninh xã
hội được đảm bảo, thời gian thủ tục hành chính cho giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giấy phép xây dựng được cắt giảm. Thời gian thủ tục thực hiện dự án xây
dựng của doanh nghiệp ở Đà Nẵng ngắn hơn rất nhiều so với thời gian thủ tục tại
TP. HCM. Kết quả này cũng trùng với kết quả điều tra mức độ hài lòng của người
Nhóm 2 – KH13KT
Page 15
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
về quản lý đô thị. Nhu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững về kinh tế, nhu cầu cải
thiện đời sống, nâng cao mức sống của nhân dân đang đối mặt với sự không cân đối
về cơ sở hạ tầng, sự gia tăng chóng mặt về dân số, sự ô nhiễm về môi trường ngày
càng nặng nề; trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức, của bộ máy quản lý
đô thị chưa tương xứng và chưa đáp ứng yêu cầu trong điều kiện và hoàn cảnh
mới...
Nhóm 2 – KH13KT
Page 16
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Nhìn một cách tổng thể, công tác quản lý đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu
của một đô thị văn minh, hiện đại: “Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, sự quản lý
điều hành của Chính quyền Thành phố còn chưa tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi
của tình hình. Hiệu lực và hiệu quả quản lý của Thành phố trên nhiều lĩnh vực còn
thấp, thiếu những biện pháp cụ thể, kiên quyết để thực hiện các nhiệm vụ đề ra...
Một số cơ chế, chính sách vĩ mô của Nhà nước chưa đồng bộ, chưa phù hợp với
điều kiện đặc thù của thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh”. Chính sự bất
cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ, chất lượng phát triển của Thành phố.
2.
Những vấn đề mang tính định hướng khi xây dựng mô hình chính quyền
đô thị TP. Hồ Chí Minh
Thứ nhất
Phải xuất phát từ quan điểm “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...”, cho nên mô hình chính quyền đô thị phải
dân không có thực quyền quyền phế truất, chừng đó, khó có thể nói chính quyền là
của dân, do dân và vì dân.
Thứ hai
Chính quyền đô thị cần được xây dựng theo mô hình vừa gọn nhẹ, vừa đảm
bảo sự quản lý thống nhất, thông suốt và kịp thời đối với các hoạt động kinh tế, văn
hóa, xã hội...vốn liên quan mật thiết với nhau trên toàn địa bàn. Khác với nông
thôn, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... ở đô thị là liên thông với nhau, không
chỉ giải quyết độc lập hoặc cắt khúc trong phạm vi từng quận và càng không thể
trong phạm vi một phường. Đó phải là một chỉnh thể thống nhất không chia cắt, với
các hoạt động động đồng bộ và liên hoàn. Do vậy, xây dựng chính quyền đô thị ít
cấp, mang tính thống nhất là xu hướng tương đối phổ biến.
Thứ ba
Mô hình chính quyền đô thị được xây dựng trên cơ sở được trao những
thẩm quyền mang tính độc lập và tính tự chủ (ở mức độ khác nhau) với chính
quyền trung ương hoặc chính quyền cấp trên. Tuy nhiên, cách thức trao quyền
mang tự chủ và sự độc lập đến đâu, tùy thuộc vào phương thức thực hiện:
Phân cấp mạnh mẽ về thẩm quyền theo kiểu phân quyền: Thực chất là sự
phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền của chính quyền đô thị (với trung ương).
Mỗi đô thị (dù lớn hay nhỏ) thường được coi là một pháp nhân công quyền và là
một cấp ngân sách, được tự mình quyết định các nhiệm vụ của địa phương trên cơ
sở pháp luật.
Trao quyền tự quản: Ngày nay, sự phát triển của các đô thị hiện đại có xu
hướng nhằm vào việc khẳng định vai trò quan trọng của chính quyền cơ sở và trả
lại cho họ những quyền tự quản theo nguyên lý của nhà nước pháp quyền và xã hội
công dân. Đây là vấn đề không chỉ của riêng quốc gia nào, mà là vấn đề mang tính
toàn cầu. Liên minh châu Âu đã có công ước về tự quản địa phương từ 1999 và đó
Nhóm 2 – KH13KT
Page 18
Với nhận thức và quan điểm như trên, chúng tôi đồng ý với ý kiến của Ông
Peter Wood - Phó Chủ tịch Hội chính quyền địa phương thế giới, Chủ tịch Hội
chính quyền địa phương châu Á Thái Bình Dương “Mục đích cuối cùng của việc
đổi mới này tức là tạo ra được sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp ra quyết định với
các cấp thực hiện quyết định nhằm tạo ra được một chính quyền chịu trách nhiệm
và chịu trách nhiệm hơn nữa trước nhân dân, ở đây sự đổi mới này là một quá trình,
quá trình này làm cho sự tham gia của nhân dân vào việc quản lý nhà nước một
cách có hiệu quả hơn vai trò của nhân dân trong công cuộc quản lý nhà nước...”.
Điều này càng đúng đối với chính quyền đô thị. PGS.TS Nguyễn Minh Hòa – một
chuyên gia xã hội học về chính quyền đô thị, mặc dù có cách hiểu về các hình thức
Nhóm 2 – KH13KT
Page 19
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
dân chủ trực tiếp chưa thật chuẩn xác, nhưng đã có lý khi nói rằng “dân chủ hóa
trực tiếp – linh hồn và bản chất của quản lý đô thị hiện đại”. Đúng như vậy, nếu xét
về tính chất, dân chủ phải là linh hồn của quản lý đô thị. Chính quyền đô thị phải là
“sản phẩm” của nhân dân, do nhân dân “tạo dựng” và quan trọng hơn, chính quyền
đô thị phải là một “cỗ máy” có năng lực quản lý, tạo ra cơ chế, biện pháp để động
viên, phát huy và sử dụng mọi khả năng vật chất và trí tuệ vốn tiềm tàng, vô biên
của các tầng lớp cư dân đô thị.
Về nguyên lý, việc mở rộng thực hiện dân chủ trực tiếp là phương thức
quan trọng để tăng cường vai trò của người dân, tuy nhiên việc tổ chức thực hiện
trong thực tiễn, nhất là đối với các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh trong điều kiện
trình độ quản lý, tổ chức như hiện nay là vấn đề không hề dễ dàng.. Do đó, phương
án khả thi và phù hợp nhất trong điều kiện hiện nay, đối với đô thị nói chung và TP.
Hồ Chí Minh nói riêng là cần phải từng bước mở rộng dân chủ trực tiếp (trong điều
mà họ tín nhiệm có thể không đạt được, thay vào đó, việc bầu cử còn nặng về sự
định hướng của Đảng, sự cơ cấu, thỏa hiệp của các tổ chức chính trị, chính trị xã
hội, chế độ trách nhiệm của các cơ quan dân cử và hệ thống chính quyền trước
nhân dân còn rất hạn chế và không rõ ràng. Chúng tôi cho rằng đây là một trong
những nguyên nhân mang tính gốc rễ dẫn đến tình trạng quan liêu, thiếu trách
nhiệm trước nhân dân của các cơ quan chính quyền. Do vậy, đổi mới chính quyền
nói chung và chính quyền đô thị nói riêng, cần phải đổi mới trước hết từ chế độ bầu
cử, cũng như các qui định của pháp luật về việc giải trình và chế độ trách nhiệm
trước nhân dân của các nhà lãnh đạo và chính quyền.
Mặt khác, về mô hình HĐND, theo chúng tôi, trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh chỉ cần có HĐNDThành phố. Hình thành nên HĐND Thành phố là các đại
biểu được bầu từ các phường theo đơn vị bầu cử một đại diện. Mỗi phường là một
đơn vị bầu cử và chỉ bầu một đại biểu. TP. Hồ Chí Minh hiện nay (tính đến 2006)
có 19 quận với 254 phường[21] (mô hình này chỉ nên áp dụng đối với đô thị, tức là
khu vực nội thành, các địa bàn nông thôn như các huyện ngoại thành nên áp dụng
theo mô hình chính quyền nông thôn). Theo mô hình này, HĐND TP. Hồ Chí Minh
sẽ có 254 đại biểu đại diện cho tất cả các phường trên địa bàn.
b.
Mô hình Ủy ban nhân dân (cơ quan hành chính)
Với mô hình HĐND như trên, thì cơ quan hành chính (Ủy ban nhân dân)
được thiết kế như thế nào?
Với cách đặt vấn đề nêu trong phần II, chúng tôi cho rằng, chỉ nên thành lập
cơ quan này ở một cấp là cấp thành phố. Chính quyền đô thị Thành phố phải là một
chỉnh thể thống nhất không chia cắt, với các hoạt động động đồng bộ và liên hoàn.
Có thể về địa lý, nó có thể được chia thành các quận và phường, nhưng không phải
là hai cấp chính quyền (hai cấp đơn vị hành chính lãnh thổ) như hiện nay, mà chỉ là
“cánh tay nối dài”- nơi trực tiếp xử lý, giải quyết các dịch vụ, các công việc hành
chính để tránh dồn về trụ sở chính và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân.
Một vấn đề khác cũng cần trao đổi là phương thức nào thành lập Ủy ban
nhân dân (cơ quan hành chính) Thành phố?
Hiện nay, có nhiều quan điểm liên quan đến vấn đề này, như HĐND cùng
cấp bầu, Thủ tướng bổ nhiệm người đứng đầu, trực tiếp nhân dân bầu... Chúng tôi
cho rằng, liên quan đến vấn đề này cần xác định:
(1) Mô hình chính quyền đô thị mà Thành phố đề nghị nằm trong khuôn
khổ qui định của Hiến pháp hiện hành hay nếu cần có thể sửa đổi cả Hiến pháp;
(2) Trong tương lai, nếu sửa đổi Hiến pháp (vấn đề này tất yếu sẽ xảy ra),
thì: quan hệ giữaHĐND với Ủy ban nhân dân (UBND) là mối quan hệ gì?; Mối
quan hệ giữa chính quyền Trung ương với địa phương và Thành phố theo nguyên
tắc và định hướng nào: tập trung hóa hay phi tập trung hóa? ...
Nhóm 2 – KH13KT
Page 22
Thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Việt Nam
Nếu mô hình thí điểm này nằm trong giới hạn Hiến pháp hiện hành thì
đương nhiên UBND TP. Hồ Chí Minh do HĐND Thành phố bầu ra, nhưng nên
theo hướng: Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh không nhất thiết là đại biểu HĐND
Thành phố. Trong tương lai, nên gọi cơ quan này là Ủy ban hành chính, và người
đứng đầu (Thị trưởng) nên do nhân dân trực tiếp bầu.
4. Một số ưu điểm và những chú ý của mô hình đô thị đề xuất
a. Ưu điểm
Thứ nhất: Chính quyền đô thị sẽ gọn nhẹ, khắc phục tính tầng nấc, chồng
chéo, giẫm đạp lên nhau của cơ quan đại diện ở ba cấp như hiện nay. Đây là một
yêu cầu quan trọng của đô thị hiện đại. Không thể phủ nhận một số mặt tích cực
của mô hình chính quyền đô thị ba cấp hoàn chỉnh như hiện nay, như nó cho phép
thu nhận đầy đủ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ở phạm vi các cấp khác
Thứ ba: Với việc thiết kế mỗi phường là một đơn vị bầu cử một đại diện
(single–member districts), so với đơn vị bầu cử nhiều đại diện hiện nay(multi–
member districts), thì đơn vị bầu cử một đại diện có tính cạnh tranh cao hơn rất
nhiều, có thể nói rằng với kiểu đơn vị bầu cử này, sự cạnh tranh giữa các ứng cử
viên là “khốc liệt” nhất. Chúng tôi cho rằng, nếu thực hiện theo cách này, thì đây sẽ
là sự “cách tân”, chứ không theo kiểu “giật gấu vá vai” như một số phương án đã
đưa ra. Cách thiết kế mới về bầu cử (đơn vị bầu cử một đại diện) sẽ là tiền đề quan
trọng: (1) cho sự vận hành của hệ thống bầu cử, nhất là đề cử, ứng cử, vận động
bầu cử sẽ chuyển sang cơ chế cạnh tranh thực sự và hữu hiệu; (2) tạo điều kiện cho
cử tri xác định đúng đắn nhất năng lực các ứng cử viên, từ đó lựa chọn chính xác
nhất người đại diện; (3) tạo cơ chế và tâm lý và hiệu ứng bầu cử theo hướng các lá
phiếu của cử tri sẽ có “chính kiến” hơn, không mang tính “ầu ơ”, “vô hồn” như
trước đây, vì đơn giản, cử tri không muốn “phí” lá phiếu của họ; (4) quan trọng
hơn, đơn vị bầu cử một đại diện sẽ làm cho chế độ trách nhiệm giữa đại biểu được
bầu với cử tri rõ ràng, minh bạch, sòng phẳng, khắc phục tình trạng “cha chung
không ai khóc” như đơn vị bầu cử nhiều đại diện hiện nay: chính đại biểu đó, chứ
không ai khác, là người đại diện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong phường đó,
chính họ là người “công hưởng, tội chịu” trước cử tri và trước cơ quan nhà nước
cấp trên, và như vậy, đương nhiên họ sẽ đem hết khả năng và nhiệt tình để hoạt
động, chứ không phải chức danh đại biểu phần nhiều nặng về tính “đánh bóng” như
hiện nay. Đây sẽ là một mã số quan trọng trong dãy số mà chúng ta đang tìm kiếm
để giải mã cho bài toán chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền; từng bước làm cho
từng “tế bào” của cơ quan dân cử và của chính quyền thực sự là của dân, do dân, vì
dân, chứ không phải là khẩu hiệu “cửa miệng” chung chung.
Thứ tư: xét về bài toán kinh tế, mô hình mới hiệu quả, tiết kiệm hơn nhiều
so với hiện nay. Chúng ta thử làm so sánh phép tính về số lượng đại biểu: Mô hình
đề xuất chỉ là 254 đại biểu, trong khi đó, chỉ riêng đại biểu HĐND cấp phường đã
gấp 35 lần (254 phường x 35), cộng với số lượng đại biểu HĐND cấp quận (19
quận x 40) và cộng thêm số lượng đại biểuHĐND Thành phố (95). Như vậy, riêng
về số lượng đại biểu đã gấp hơn 38 lần. Rõ ràng, chi phí về bầu cử, chi phí cho việc
chính như hiện nay (không phải cứ mỗi phường là một đơn vị bầu cử), mà cốt lõi
của vấn đề là HĐND Thành phố bao gồm các đại biểu được bầu từ đơn vị bầu cử
một đại diện[24]. Trong điều kiện hiện nay, để đơn giản vấn đề và tránh xáo trộn
lớn trong việc tổ chức, có thể chúng ta chưa nên thực hiện như vậy. Trước mắt, mỗi
phường, dù lớn hay nhỏ, nên có một đại diện. Sau một thời gian thực hiện, sẽ tổng
kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh cho phù hợp.
Hai: với mô hình này, đương nhiên có sự thay đổi rất lớn về bộ máy chính
quyền (thay đổi về mô hình cơ quan hành chính, hệ thống Tòa án, hệ thống Viện
kiểm sát..), hệ thống tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc...
Đây là một thách thức đối với chúng ta. Chúng tôi cho rằng, đã đặt ra việc
đổi mới tức là chúng ta phải chấp nhận sự xáo trộn đó, miễn là có cơ sở, có luận cứ
Nhóm 2 – KH13KT
Page 25