Nghiên cứu khoa học Phát triển du lịch làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh - Pdf 35

1

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học chúng em đã nhận được sự giúp
đỡ rất nhiệt tình từ phía nhà trường, thầy cô. Chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến các thầy cô trong trường Đại học Thương mại, trong khoa Khách sạn – Du lịch,
đặc biệt là giáo viên hướng dẫn ThS. Vũ Thị Thu Huyền đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và chỉ bảo chúng em trong suốt quá trình làm nghiên cứu khoa học.
Em xin chân thành cảm ơn!


2

MỤC LỤC

Từ viết tắt
LN
TNHH
UBND
DV
NXB
CSSX
HTX

Nghĩa đầy đủ
Làng nghề
Trách nhiệm hữu hạn
Uỷ ban Nhân dân
Dịch vụ
Nhà xuất bản
Cơ sở sản xuất

Chiến lược phát triển du lịch của nghành du lịch trong những năm tới là “
Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc mang bản sắc dân tộc có sức cạnh tranh cao
như du lịch làng nghề,du lịch làng quê...”
Các chủ trương chính sách của Đảng,Nhà nước và nghành du lịch đã được
nhân dân hưởng ứng và thực hiện. Hàng trăm làng nghề ở đồng bằng sông Hồng
khôi phục, duy trì và phát triển, trong đó số làng nghề chiếm khoảng 30%. Nhiều
làng nghề đã quan tâm tới việc thu hút khách du lịch tới tham quan làng nghề điều
này đã giúp cho việc khôi phục và phát triển nghề một cách hiệu quả. Song nhìn
chung nhiều làng nghề, việc phát triển du lịch còn mang tính tự phát, sơ khai và có
nhiều khó khăn bất cập. Vấn đề khai thác các tài nguyên du lịch của làng nghề cho


4
du lịch, sự tùy tiện trong việc xây dựng các xưởng sản xuất, ki ốt bán hàng trong
làng nghề, việc thu hút khách tham quan làng nghề... Tất cả đang là những vấn đề
phải được xem xét nhìn nhận đầy đủ.
Để có thể phát triển được du lịch làng nghề và thu hút khách đến tham quan,
trước hết các làng nghề cần có sự hoạch định cho việc phát triển du lịch, có những
biện pháp và chính sách phát triển hợp lý.
Phải cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế làng nghề. Một sự phát triển
cân đối khoa học không những làm cho các mục tiêu đều phát triển mà còn thúc đẩy
hỗ trợ nhau cùng phát triển. Việc phát triển không hợp lí sẽ có nhiều điều bất lợi
xảy ra như sự phát triển sản xuất cùng với làn sóng đô thị hóa, làm cho cấu trúc
không gian làng truyền thống bị phá vỡ, cảnh quan kiến trúc, môi trường sinh thái,
môi trường xã hội dần dần xuống cấp từ đó ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển
làng nghề, phát triển du lịch.
Đề tài nghiên cứu: “ Phát triển du lịch làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh”. Nhằm
nghiên cứu thực trạng du lịch làng ở tỉnh Bắc Ninh, đưa ra các giải pháp hoạch
định phát triển du lịch ở các làng nghề .
2. Mục tiêu nghiên cứu

pháp phát triển du lịch làng nghề thích hợp. Phương pháp lịch sử và logic được sử
dụng liên tục khi xem xét đánh giá hay phán đoán những vấn đề văn hóa, lịch sử
hình thành và phát triển làng nghề.
5. Những đóng góp khoa học của đề tài nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài:
Làng nghề ở Việt Nam: Lịch sử hình thành phát triển và các đặc điểm.
Phân tích thực trạng phát triển du lịch các làng nghề tiêu biểu ở tỉnh Bắc
Ninh. Trên cơ sở đó đánh giá các ưu nhược điểm của giải pháp mà các làng nghề
đang tiến hành để phát triển du lịch.
Đề xuất một số giải pháp về hoạch định phát triển du lịch LN ở tỉnh Bắc Ninh
6.Tóm tắt kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài có kết cấu ba chương, không kể phần mở đầu và kết luận:
Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề và du lịch làng nghề
Chương 2: Thực trạng về phát triển du lịch làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh


6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ
1.1.Một số lý luận cơ bản về làng nghề
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1.Khái niệm làng nghề
Trong xã hội nông thôn Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, làng là một tế bào
của xã hội.Làng Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử dân tộc.Trải qua
hàng ngàn năm với những thăng trầm lịch sử, những nét thuần phong mỹ tục cổ
truyền vẫn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay.
Từ buổi ban đầu, phần lớn người dân trong làng đều sống bằng nông nghiệp.
Về sau để đáp ừng nhu cầu về công việc và sinh hoạt, có những bộ phận dân cư
chuyển sang làm và sống bằng các nghề thủ công khác. Họ liên kết chặt chẽ với
nhau thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải,… Từ

đó và sản xuất ra nhữnghàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã
trở thành sản phẩmhàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng
xung quanh với thịtrường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể
xuất khẩu ra nướcngoài.”
Làng nghề ở đây không nhất thiết là tất cả mọi người dân trong làng đềusản
xuất thủ công, người thợ thủ công cũng có thể là người nông dân làm thêmnghề
phụ trong lúc nông nhàn. Tuy nhiên do yêu cầu về tính chuyên môn hóacao đã tạo
ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàngthủ công truyền
thống ngay tại quê hương của mình. Nghiên cứu một làng nghềthủ công truyền
thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệ thống, toàn diệncủa làng nghề thủ
công truyền thống đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhâncủa làng, sản phẩm
thủ công, thủ pháp kĩ thuật sản xuất và nghệ thuật.
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công,
nơiquy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu
đời,được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất,
bánsản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí
làbán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo những
hươngước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã
hìnhthành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ.
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một số lượnglớn
dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ cônghoặc một
vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối. Sảnphẩm của họ
không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độcđáo, ấn tượng,
tinh xảo.
Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội. Làng nghề đã thựcsự
thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tích cực rất lớnđối
với đời sống kinh tế xã hội.
1.1.2.Đặc điểm làng nghề
1.1.2.1.Làng nghề tồn tại ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề đều ra đời ở nông thôn sau đó tách dần khỏi nông nghiệp

tiêu dùng như đan lát mây tre, chế biến lương thực thực phẩm (làm bánh, làm
tương, làm mắm,…), sản xuất vật liệu xây dựng… Một số nghề còn có thể tận dụng
những phế liệu, phế phẩm trong công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm
nguyên liệu.
Ngày nay cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu cầu nguyên liệu lớn, một số
làng nghề có nguồn nguyên liệu tại chỗ không thể đáp ứng được hoặc không có để
đáp ứng nên phương thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi từ việc thu
gom ở các địa phương khác đến nhập khẩu từ nước ngoài.
1.1.2.4.Lao động trong các làng nghề là lao động thủ công
Lao động trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống chủ yếu
là lao động thủ công. Trước đây, hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất
đều là lao động thủ công giản đơn. Ngày nay, do khoa học công nghệ phát triển
nhiều công đoạn sản xuất đã được áp dụng công nghệ mới song với một số sản
phẩm vẫn đòi hỏi phải duy trì kỹ thuật thủ công tinh xảo ở một số công đoạn nhất
định. Hầu hết các làng nghề dù được hình thành theo con đường nào đi nữa cũng


9
đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt, là người phát triển các làng nghề. Nghệ
nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các làng nghề. Mỗi làng nghề có một
tổ nghề là người thầy đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở
nơi khác về truyền cho làng mình.
Việc dạy nghề, trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong gia
đình từ đời này sang đời khác, ít được phổ biến ra ngoài. Thậm chí có những bí
quyết nghề không được truyền cho con gái, vì vậy hầu hết các nghề chỉ được lưu
truyền trong phạm vi từng làng nghề.
Sau này khi các hợp tác xã làm nghề thủ công, các trung tâm dạy nghề ra đời
thì phương thức dạy nghề, truyền nghề có nhiều thay đổi, các bí quyết nghề nghiệp
không được giữ như trước nữa.Trong nền kinh tế thị trường, việc phát triển mạnh
kinh tế tư nhân và hộ gia đình đã phục hồi phương thức dạy nghề theo phương

địa phương, quốc gia mà còn vương ra các nước trên thế giới. Một số làng nghề đã
tổ chức tìm kiếm thị trường xuất khẩu và chủ động tổ chức xuất khẩu sản phẩm của
mình, đặc biệt là các sản phẩm thuộc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ.
1.1.2.7.Quy mô sản xuất nhỏ
Cho tới nay, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến trong các làng
nghề là hộ gia đình.Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong gia đình
đều tham gia vào công việc khác nhau trong quá trình sản xuất kinh.Tùy thuộc vào
nhu cầu công việc mà các hộ gia đình có thể thuê thêm nhân công thường xuyên
hoặc thời vụ.Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ.Tuy nhiên,
mô hình này hạn chế rất nhiều đên khả năng sản xuất kinh doanh.
Tổ sản xuất là hình thức hợp tác, liên kết một số họ gia đình cùng sản xuất
kinh doanh một mặt hàng. Đây là hình thức được phát triển trong các làng nghề vì
nó làm tăng sức mạnh cho từng thành viên để phát triển sản xuất kinh doanh có
hiệu quả.
Các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được phát triển từ
một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ gia đình sản xuất kinh doanh khá đã bắt
đầu hình thành ở nhiều làng nghề. Ở một số làng nghề, hình thức sả xuất kinh
doanh này không chiếm tỷ trọng lớn về số lượng lao động song lại đóng vai trò
trung tâm liên kết, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết
đầu ra, đầu vào, ơi sản xuất của các làng nghề với các thị trường tiêu thụ khác.
1.1.3.Phân loại làng nghề
Trên những góc độ khác nhau chúng ta sẽ có nhiều cách phân loại khác nhau
về làng nghề.
Nếu dựa trên sản phẩm và phương thức sản xuất chính để phân loại thì có 6
loại làng nghề sau:
-Làng nghề thủ công: làm ra các mặt hàng sử dụng hàng ngày như: dao, kéo,
chiếu, mây tre đan gia dụng…Đặc điểm của các làng nghề này là sản xuất thủ công
bằng tay và các công cụ đơn giản. Do chi phí thấp nên loại hình này khá phổ biến.
-Làng nghề thủ công mỹ nghệ: làm ra các mặt hàng có giá trị văn hóa nghệ
thuật và trang trí như đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tượng gỗ, đá, các đồ mỹ

Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi
hỏi buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ
thống luật pháp như thuế, đầu tư ... sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của các làng nghề.
-Chính sách của Nhà nước.
Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại phát triển của làng
nghề. Trong một thời gian dài trước đây ( mà chúng ta thường gọi trước đổi mới ),
chúng ta phủ nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Chính vì vậy hoạt
động sản xuất kinh doanh trong làng nghề đều là hợp tác, tập thể với chế độ ăn chia
quân bình cho các lao động khỏe, yếu già trẻ, làm nhiều, ít, tích cực hay không tích
cực đều ngang nhau. Trên thực tế chính sách này không kích thích được sự phát
triển kinh tế nói chung và kinh tế làng nghề nói riêng. Nhận thấy những hạn chế


12
trong đường lối chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện
công cuộc đổi mới mà quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trong sự
đổi mới này Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần
kinh tế ( kinh tế hộ, kinh tế tư nhân,…). Chính sách kinh tế mới đã phù hợp với mong
muốn của nhân dân và thời kỳ mới nên đã thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Các làng nghề có điều kiện thuận lợi để khôi phục và phát triển.
b.Yếu tố kinh tế
-Nhu cầu của người tiêu dùng và sức ép kinh tế
Từ trước tới nay nhu cầu của con người đối với các sản phẩm làng nghề là
rất lớn. Đó là các nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng, thờ cúng,
….Trước kia, khi chưa có nền công nghiệp phát triển, mọi loại hàng tiêu dùng từ vật
dụng sinh hoạt hàng ngày đến công cụ sản xuất, đồ thờ cúng, kể cả nhạc cụ, vũ khí,…
đều được làm bằng tay và phương tiện sản xuất khá thô sơ. Các sản phẩm của các
làng nghề lúc bấy giờ đều được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và sản xuất của
người dân.

Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được cụ thể hoá thông
qua luật thuế.
Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc
nguy cơ đối với các làng nghề vì nó làm cho mức chi phí hoặc thu nhập của các làng
nghề thay đổi.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, điện, thủy lợi, bưu chính viễn thông, y tế
giáo dục, các công trình văn hóa công cộng… Một điều hiển nhiên rằng khi cơ sở hạ
tầng yếu kém thì quy mô làng nghề chậm được mở rộng. Cơ sở hạ tầng yếu kém thì
quy mô làng nghề chậm được mở rộng. Cơ sở hạ tầng phải được xây dựng một cách
đồng bộ, cân đối nếu không sẽ tạo ra sự khập khiễng trong đó và không thuận lợi
cho sự phát triển ngành nghề mà còn kìm hãm sự phát triển của nó.
Giao thông: Được ví như là mạch máu trong cơ thể con người, sự hoàn thiện,
thuận lợi của giao thông tạo điều kiện cho việc giao lưu hang hóa dễ dàng, nhanh
chóng. Vì thế các làng nghề thường được hình thành ở những đầu mối giao thông
thủy bộ. Trong thời kỳ kinh tế thị trường, thời gian là vàng bạc, sự phát triển của
thông tin đã tiết kiệm rất nhiều thời gian góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của các làng nghề.
Y tế giáo dục: Tuy không trực tiếp tạo ra của cải cho làng nghề song không
thể thiếu trong sự phát triển chung của làng nghề.
c.Yếu tố văn hoá xã hội
-Nhân tố truyền thống
Thực tế cho thấy các làng nghề tồn tại, phát triển được do có sự kế tục của
đời con, đời cháu, nghề được bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh bằng miệng.
Những bí quyết nghề nghiệp trong làng nghề được giữ bí mật khắt khe. Điều này
không tránh khỏi sự thất truyền vì một số nguyên nhân nào đó. Tóm lại rằng nhân
tố truyền thống có ảnh hưởng quyết định tới sự hưng vong của làng nghề.
-Phong tục tập quán



nó cũng đe dọa tới sự tồn tại của các làng nghề. Hầu hết các làng nghề đều là làng
nghề truyền thống, các sản phẩm sản xuất ra chủ yếu là bằng thủ công. Khi khoa
học công nghệ phát triển sẽ làm mai một hoặc có thể là mất hẳn ngành nghề đang
hoat động kinh doanh, bởi lẽ công nghệ đã dần thay thế những công cụ thô sơ, lạc
hậu.
1.1.4.2.Các yếu tố vi mô
a.Vốn cho sản xuất


15
Vốn là một yếu tố đóng vai trò quan trọng, tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất, kinh doanh của các cơ sở làng nghề.Những năm trước đây nguồn vốn cho
làng nghề chủ yếu là tự có và vay mượn của nhau với số lượng nhỏ không đáp ứng
nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh. Những năm gần đây cùng với
sự mở cửa của nền kinh tế, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh ngày càng cấp
bách hơn, lượng lớn hơn trong khi vốn tự có nhỏ, vay mượn anhem bạn bè cũng trở
nên khó khăn hơn và không mang tính thể chế. Do vậy, Nhà nước đã có những chính
sách phù hợp cho nông thôn. Nhiều hình thức tín dụng đã hình thành nhằm cung
cấp vốn cho sản xuất kinh doanh.
Có 2 hệ thống tín dụng: hệ thống tín chính thống và hệ thống tín dụng phi
chính thống. Hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thống còn nhiều phiền hà về
thủ tục giấy tờ, trong khi hoạt động của các tổ chức phi chính thống lại khá đơn
giản về mặt thủ tục. Nói chung thị trường tín dụng tuy không đáp ứng đầy đủ
nhưng phần nào đã đảm bảo được nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh trong các
làng nghề truyền thống.
b.Yếu tố nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu luôn gắn liền với sản phẩm và chất lượng sản phẩm.Chất
lượng của nguyên liệu có tốt thì sản phẩm mới có chất lượng cao.Tuy vậy giá cả của
nguyên vật liệu phải hợp lý bảo đảm cho sản phẩm và kinh doanh có lãi thì mới
được chấp nhận. Để đáp ứng đa dạng nhu cầu tiêu dùng cần đa dạng nguyên liệu sử

nông nghiệp trong thu nhập của vùng nông thôn, tạo điều kiện rút ngắn khoảng
cách kinh tế giữa nông thôn và thành thị.
Làng nghề không chỉ có vai trò quan trọng trong bản sắc văn hóa dân tộc.
Một số hàng hóa thủ công truyền thống đã vượt lên khỏi hàng hóa tiêu dùng thông
thường mà nó mang tính nghệ thuật cao, đặc trưng cho văn hóa làng xã Việt Nam.
Bạn bè quốc tế biết tới Việt Nam qua những sản phẩm này. Chúng ta cần gìn giữ và
không ngừng phát triển những văn hóa tốt đẹp ẩn chứa trong các sản phẩm này.
1.2.Phát triển du lịch làng nghề
1.2.1.Một số khái niệm về phát triển du lịch làng nghề
1.2.1.1.Phát triển
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật:
hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn... Nhưng nếu
hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản
thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là
tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện.
Phát triển là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia, là sự thay đổi cơ bản
trong cơ cấu kin tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo
ra, do sự đô thị hóa, sự tham gia của một quốc gia trong quá trình tham gia làm
thay đổi các nội dung trên.
Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn
sống, cải thiện giá dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyề công dân.
Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về các tiêu chuẩn
sống, bao gồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường.
1.2.1.2.Du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại du lịch đã được ghi nhận là một sở thích,
một hoạt động tích cực nghỉ ngơi của con người. Ngày nay trên phạm vi toàn thế
giới du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa –


17

Theo quan điểm của tổ chức du lịch thế giới (WTO – 1999): "Du lịch là một
tập hợp các hoạt động và các dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời
của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển,
nghỉ ngơi văn hóa, nghỉ dưỡng và nhìn chung là nhiều lý do không phải kiếm sống".
Luật Du lịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 01
tháng 01 năm 2006, tại chương 1, điều 10 định nghĩa:" Du lịch là hoạt động của con


18
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định ".
1.2.1.3.Du lịch làng nghề
Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề vẫn còn khá mới mẻở nước ta. Du
lịch làng nghề thuộc loại hình du lịch văn hóa.Du lịch làng nghề đang là loại hình du
lịch thu hút được sựquan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước. Xu hướng
hiện đại ngày naycuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những
giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc. Nhu cầu đi du lịch về những miền nông
thôn, làngnghề truyền thống ngày càng cao.
Trước hết phải hiểu thế nào là du lịch văn hóa, vậy du lịch văn hóa là:Theo
Tiến sĩ Trần Nhạntrong“Du lịch và kinh doanh du lịch” thì: “Du lịch văn hóa là loại
hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bềdày lịch sử, di tích văn hóa, những
phong tục tập quán còn hiện diện…Bao gồmhệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các
phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giaotiếp,…”
Đối với làng nghề thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinhnghiệm kỹ thuật, bí
quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chếtác đến chủ đề sáng tạo
trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống.Đó chính là phần văn hóa phi
vật thể. Ngoài ra làng nghề còn cócác giá trị văn hóa vật thể khác như: đình, chùa,
các di tích có liên quan trực tiếpđến các làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng
nghề thủ công truyềnthống…Khách du lịch đến đây chính là để tìm hiểu các giá trị
văn hóa đó. Vì vậy mà dulịch làng nghề được xếp vào loại hình du lịch văn hóa. Từ

đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ nét. Số người đi du lịch tăng, lòng ham
hiểu biết và mong muốn “ mở rộng tầm mắt”. Mặt khác nếu trình độ văn hóa của
nơi đó nâng cao thì địa phương đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ
khách du lịch một cách văn minh lịch sự và làm hài lòng khách đi du lịch tới đó.
Các điều kiện về tài nguyên tự nhiên cũng là một căn cứ để phát triển du lịch
làng nghề. Chúng ta không thể phát triển du lịch làng nghề nếu ở đó không có các
làng nghề truyền thống đặc sắc, có giá trị văn hóa cao. Bên cạnh đó là các điều kiện
về thiên nhiên thuận lợi như điều kiện về khí hậu điều hòa ổn định, lượng mưa ít
vào thời vụ du lịch, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, nhiệt độ trung bình của
không khí và ban ngày và ban đêm không quá cao, và không chênh lệch nhau quá
nhiều, ngoài ra còn có các điều kiện về hệ động thực vật, nguồn nước, vị trí địa lý
nằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch tới nguồn khách
không được quá xa, các điều kiện thành tựu kinh tế của các chính sách kinh tế…..
b.Du lịch làng nghề kết hợp với du lịch trải nghiệm và sinh thái.
Du lịch làng nghề cần kết hợp được du lịch trải nghiệm và du lịch sinh thái.
Lý do rất đơn giản bởi vì đa số khách du lịch họ đều muốn trải nghiệm thực tế,
muốn tự tay thử nghiệm tạo ra các sản phẩm của các làng nghề mà họ đã đi qua.
Mặt khác nữa du lịch làng nghề cũng cần thiết phải kết hợp được cả du lịch sinh
thái vì có như vậy thì khách du lịch mới cảm thấy thật sự thoải mái, hài lòng về
chuyến đi của mình.
1.2.2.2.Phát triển về quy mô du lịch làng nghề
Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:


20
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận.



21
+ Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất
tại các cụm cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
+ Đối với dự án đầu tư đòi hỏi nghiêm ngặt về xử lý ô nhiễm môi trường, bảo
đảm yêu cầu nghiên cứu, sản xuất sản phẩm mới được ưu tiên giao đất có thu tiền
sử dụng đất hoặc thuê đất tại các khu, cụm công nghiệp tập trung.
+ Các cơ sở ngành nghề nông thôn di dời ra khỏi khu dân cư đến địa điểm
quy hoạch được ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và hỗ
trợ kinh phí để di dời.
- Về đầu tư, tín dụng : Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành
nghề nông thôn. Đối với các tỉnh khó khăn về nguồn thu ngân sách, ngân sách trung
ương hỗ trợ một phần trong dự toán hàng năm.
- Về xúc tiến thương mại
+ Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở
ngành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện hành của
chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để hỗ
trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý xuất xứ
hàng hoá, có chính sách bảo hộ sở hữu thương hiệu.
- Khoa học công nghệ
+ Cơ sở ngành nghề nông thôn khi thực hiện các hoạt động triển khai ứng
dụng kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm mới và
thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ hay tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật
từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thì được hưởng các ưu đãi theo chính
sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa
học công nghệ.

BẮC NINH
2.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển làng nghề ở Bắc Ninh
2.1.1. Lịch sử các làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh
Từ bao đời, các vùng nông thôn của Bắc Ninh vẫn lấy trồng trọt và chăn nuôi
là nguồn sinh nhai chủ yếu. Trong quá trình vận động và phát triển của kinh tế-xã
hội xuất hiện các làng làm thêm nghề khác ngoài nông nghiệp. Các làng nghề của
Bắc Ninh xuất hiện khá sớm dần dần xuất hiện các làng nghề thủ công.
Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu dài, thậm chí đã
tìm thấy dấu tích làng nghề từ những thế kỷ trước công nguyên. Ở thiên niên kỷ sau
công nguyên, đã hình thành những trung tâm làng nghề bao quanh thủ phủ Luy Lâu
- Long Biên. Trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, nhất là thời Lý - Trần - Lê, nghề thủ
công và các làng nghề phát triển rộng khắp. Làng nghề thủ công ở đây thật sự
phong phú, đa dạng từ việc chế biến nông sản, thực phẩm làm các món ăn đặc sản,
sản xuất các vật dụng gia đình, chế biến tạo công cụ sản xuất nông nghiệp, đến làm
các mặt hàng mỹ nghệ, các sản phẩm phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,
sinh hoạt lễ hội, các sản phẩm nghệ thuật, làm các nghề xây dựng nhà cửa, đình,
chùa, đền miếu...
Trong mỗi thời kỳ lịch sử làng nghề của Bắc Ninh cũng có những chuyển biến
thay đổi sản phẩm phục vụ kịp thời các nhu cầu quốc kế dân sinh. Có những sản
phẩm mới ra đời, kéo theo các làng nghề mới xuất hiện. Trong từng thời kỳ phát
triển, có những sản phẩm phù hợp với thị trường được mở rộng dần ra các làng
trong xã hình thành các xã nghề. Như nói đến đồng Đại Bái là cả xã Đại Bái làm
nghề đồng dát, gò đồng ; nói gốm Phù Lãng là cả xã Phù Lãng đều làm gốm,…Gần
đây có sự phát triển hàng mộc mỹ nghệ ở 3 xã Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Quang.
Đây là một hình thức mới: một cụm xã liền nhau cùng sản xuất một loại sản phẩm :
cụm hàng mộc mỹ nghệ, cụm sắt thép, cụm hàng nhôm (Yên Phong), cụm đồng,
nhựa (Gia Lương),...
Song quá trình vận động, với sự tác động của khoa học kỹ thuật, thị hiếu và
nhu cầu của thị trường, sản xuất trong các làng nghề thủ công cũng dần bộc lộ
những hạn chế nhất định. Sang thời kỳ kinh tế thị trường đã phân hóa rõ: những

giấy Dương Ổ, làng thép Đa Hội, làng đồng Đại Bái,... Những làng nghề này sản xuất
các sản phẩm phù hợp với thị trường, luôn có sự đầu tư tăng cường năng lực sản
xuất.
Số làng nghề hoạt động cầm chừng không phát triển được: 26 làng nghề,
chiếm 42%. Khó khăn chủ yếu của các làng nghề này là vấn đề tiêu thụ sản phẩm,
không đầu tư thiết bị công nghệ nên hiệu quả kinh tế thấp như: rượu Đại Lâm,
nhôm Văn Môn, dệt Hồi Quan,... Còn lại các làng nghề sản xuất nhỏ mang tính khu
vực, bao gồm những làng nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp
như chế biến từ gạo (mì, bún, bánh, nấu rượu...), nuôi trồng, chế biến tơ tằm, mộc
dân dụng...
Số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất nghề: 16 làng nghề,
chiếm 26%. Đây là những làng nghề mà sản phẩm làm ra không còn thích hợp với


25
thị trường, do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công nghiệp như tranh dân
gian Đông Hồ, làng cày bừa Đồng Xuất, Trung Bạn, gốm Đoàn Kết, Phấn Trung (Phù
Lãng), dao kéo vát (Quế Võ),...
Tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là mô hình hộ gia đình. Trong
thời kỳ bao cấp, làng nghề thủ công được tập thể hóa thành hợp tác xã. Từ khi
chuyển sang cơ chế thị trường, các hợp tác xã kiểu cũ tan rã, sản xuất trong các
làng nghề lại trở về với mô hình truyền thống vốn có là hộ gia đình.
Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho
nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động
thời vụ). Tại các làng nghề, số người giàu và khá giàu ngày càng tăng, 100% số hộ
đều có ti-vi, xe máy, mức thu nhập ở các làng nghề cao gấp từ 3 đến 4,5 lần so với
các làng thuần nông, nhờ vậy góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh. Đây còn là
nơi cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỉ
đến 1.500 tỉ đồng/ năm.
Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề ở Bắc Ninh đang phải đối mặt với rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status