5PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM Ở VÙNG ĐẦM PHÁ
VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ
Nguyễn Tài Phúc
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa Thiên Huế, một tỉnh duyên hải miền Trung, có hệ thống đầm phá
ven biển rộng lớn (gần 22.000 ha) được xếp vào loại lớn của thế giới. Hệ thồng
đầm phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô chạy dọc suốt 5 huyện ven biển Thừa
Thiên Huế, từ Phong Điền đến Phú Lộc, là một vùng đầm phá nước lợ với hệ
sinh thái sông biển phong phú và đặc sắc là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho
nhiều loại thủy sinh phát triển, một lợi thế cho nhiều ngành nghề nông lâm, ngư
nghiệp, mà đặc biệt là nghề nuôi trồng thủy sản [7; 8].
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh các ngành khai thác tài
nguyên đầm phá mà chủ yếu là nghề nuôi tôm với nhiều hình thức và trình độ
khác nhau, đã làm thay đổi diện mạo của toàn vùng đầm phá ven biển. Một bộ
phận dân cư trong vùng có đời sống tăng đáng kể, song nhiều vấn đề kinh tế, xã
hội, môi trường sinh thái cần được tiếp tục nghiên cứu. Sự bùng nổ nuôi tôm một
cách ồ ạt và tự phát đã làm cho không gian đầm phá bị chia cắt manh mún, môi
trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, nguồn lợi thủy sản đang giảm sút; những điều
này sẽ để lại hậu quả nặng nề cho vùng đầm phá trong tương lai. Xuất phát từ đó, 6
Chúng tôi lựa chọn vấn đề “Phát triển nuôi tôm ở vùng đầm phá ven biển Thừa
Thiên Huế" làm đề tài nghiên cứu với mục tiêu chủ yếu là:
Vang, Quảng Điền, Hương Trà. Năm 2003 do phát triển ồ ạt diện tích nuôi tôm
mà các yếu tố giống, thức ăn công nghiệp, phòng trừ dịch bệnh không được kiểm
soát chặt chẽ nên số hộ nuôi toàn vùng bị lỗ là 1.094 hộ, chiếm khoảng 21,6% hộ
nuôi [2; 3; 6].
Bảng 1: Hiệu quả sản xuất tôm của các hộ điều tra
theo các hình thức nuôi, tính cho 1 ha
Quảng canh cải
tiến
Bán thâm canh
Bán
TC/QCCT
Phú Lộc
Quảng
Điền
Phú Lộc
Quảng
Điền
Phú
Lộc
Qu
ảng
Điền
Chỉ tiêu
1,31
1,36
2. Chi phí trung gian
(IC)
1000đ 21738,48
1714,17
24029,21
23618,20
1,11
1,20
3. Giá trị gia tăng (VA) 1000đ 19225,64
17709,62
2584,52
27260,68
1,54
1,54
4. Công lao động
Ngày/ngư
ời
lý ao hồ nuôi, lao động là những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến năng suất tôm
đối với cả hai vùng với mức ý nghĩa thống kê cao 99% [6].
Chi phí đầu tư thức ăn tươi có tác động tích cực đến năng suất tôm ở
Quảng Điền và tiêu cực ở vùng đầm phá huyện Phú Lộc là do ở vùng đầm phá
huyện Phú Lộc nguồn nước lưu thông kém, các hộ đã sử dụng quá mức thức ăn
tươi làm môi trường nước bị ô nhiễm [6].
Chi phí đầu tư phòng trừ dịch bệnh có ảnh hưởng tích cực đến năng suất
tôm nuôi ở Quảng Điền cao hơn ở Phú Lộc [6].
Việc lựa chọn hình thức nuôi bán thâm canh hay quảng canh cải tiến có
ảnh hưởng đến năng suất tôm ở cả hai vùng có mức ý nghĩa thống kê cao [6].
4. Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển nuôi tôm của vùng
- Nghề nuôi tôm đã phát triển quá nhanh về quy mô diện tích nhưng thiếu
quy hoạch và kế hoạch đồng bộ, các hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh
chưa được chú trọng đã làm môi trường bị ô nhiễm nặng. 10
- Sự phát triển mất cân đối giữa nuôi tôm và các nghề nuôi trồng thủy sản
khác làm giảm đáng kể tính đa dạng sinh học dẫn đến ô nhiễm, mất cân bằng
sinh thái và sự rủi ro cao cho nghề nuôi trồng thủy sản của ngư dân trong vùng.
- Thị trường thủy sản không ổn định, đặc biệt tôm là mặt hàng xuất khẩu
nên giá phụ thuộc rất lớn vào giá cả thị trường tôm thế giới. Sự biến động của thị
trường Mỹ và một số nước khác đã tác động lớn đến nghề nuôi tôm. Mặc khác,
ngư dân thường thiếu thông tin thị trường và việc mua bán tôm thường diễn ra tại
hồ nuôi nên còn bị tư thương chèn và ép giá.
5. Một số giải pháp phát triển nuôi tôm:
- Giải pháp quy hoạch: Để phát triển nuôi tôm hiệu quả và bền vững phải
có quy hoạch đồng bộ mà trước hết cần phải: quy hoạch chuyển đổi đất nông
nghiệp hiệu quả thấp và nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản; quy hoạch vùng
đất cát bãi ngang ven biển sang nuôi trồng thủy sản; quy hoạch nuôi trồng thủy
- Các nhân tố thức ăn công nghiệp, chi phí xử lý ao hồ và lao động có ý
nghĩa tích cực đối với năng suất tôm ở cả hai hình thức nuôi bán thâm canh và
quảng canh cải tiến.
- Nuôi tôm phát triển nhanh và chiếm hơn 80% diện tích nuôi trồng thủy
sản dẫn đến sự đơn điệu về sản phẩm, có thể tăng rủi ro cho ngư dân, tính đa
dạng thủy sản giảm sút cũng là nhân tố gây ra ô nhiễm môi trường nước đầm
phá. 12
- Tiềm năng nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng ở vùng
đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế đang rất lớn. Vì vậy cần có những giải pháp
toàn diện, đồng bộ mà trước hết là quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản mới làm
cho ngành nghề này phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục thống kê Thừa Thiên - Huế, Niên giám thống kê 2003 (2004)
2. Nguyễn Tài Phúc, Nguyễn Văn Đức. Nghề nuôi tôm ở vùng đầm phá
Cầu Hai - Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, số 8 (2003) 979
3. Hoàng Hữu Hòa. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học công
nghệ cấp bộ: Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đầm phá
Thừa Thiên Huế ven biển theo hướng bền vững và xuất khẩu - Mã số
B2001-12-08
4. Phạm Quyền. Xây dựng phương án sử dụng hợp lý đất, ruộng nhiễm
mặn bãi biển và mặt nước để phát triển bền vững môi trường thuỷ
sản ở một số vùng trọng điểm của đầm phá Thừa Thiên Huế (2002)
5. Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế, Số liệu điều tra cơ bản vùng ven biển
đầm phá Thừa Thiên Huế (2003)
solutions, the environmental consequence would obviously be serious for the
future of the regions in future.