Tư tưởng hồ chí minh về đảng cộng sản việt nam vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc xây dựng và chỉnh đốn đảng hiện nay - Pdf 35

Mục lục

Trang
A. Lời Nói Đầu
2
Chương 1: Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về 3
Đảng Cộng Sản Việt Nam
I. Cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng 3
Sản
I.1.Cơ sở lý luận
3
I.2. Cơ sở thực tiễn
3
II. Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng 4
Sản Việt Nam
II.1. Tính tất yếu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
4
II.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ 6
nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước
II.3. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp 7
công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc
Việt Nam
II.4. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa 10
Mác- Lênin làm “cốt
II.5. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải được xây dựng 11
theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô
sản
II.6. Tăng cường và củng cố mối quan hệ bền chặt 14
giữa Đảng với dân
II.7. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải thường xuyên tự 15

nước đã hun đúc cho dân tộc ta những phẩm chất cao đẹp và
những truyền thống vô cùng quý báu. Trong đó, yêu nước trở
thành tình cảm thiêng liêng, là chuẩn mực đạo lý cao nhất và
đứng đầu trong thang giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc, là
động lực nội sinh to lớn tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã
trải qua một chặng đường lịch sử với nhiều thử thách, hy sinh
nhưng cũng đầy khí phách anh hùng, dũng cảm.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh
dấu bước chuyển biến quyết định của cách mạng Việt Nam. mở ra
thời đại mới: Thời đại Hồ Chí Minh. Có thể nói, một trong những
di sản cực kỳ quan trọng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh để lại cho
dân tộc ta là tư tưởng của Người về Đảng Cộng Sản. Tư tưởng đó
được hình thành và phát triển từng bước qua các thời kỳ của cách
mạng Việt nam. Từ những năm cuối của thập niên thứ hai của thế
kỉ XX, Người đã có ý thức về vai trò to lớn của một chính đản của
giai cấp vô sản. Đặc biệt từ năm 1930, Người đã sáng lập, xây
dựng và rèn luyện, lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến
cuối đời mình. Nhờ vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong suốt
chặng đường lịch sử của mình, luôn luôn là một Đảng cách mạng
chân chính, là bộ tham mưu lãnh đạo của giai cấp công nhân và
dân tộc Việt nam. Đảng đã có khả năng tập hợp, lãnh đạo các tầng
lớp dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản không
chỉ có ý nghĩa lý luận – khẳng định những cống hiến to lớn của
Người với sự phát triển học thuyết Mác- Lênin về Đảng Cộng
Sản, đặc biệt là Đảng Cộng Sản ở những nước thuộc địa phụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản được hình thành
trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về
Đảng Cộng Sản, gồm hai giai đoạn: Những nguyên lý C.Mác và
Ph.Ăng ghen và quan điểm của Lênin về Đảng cộng sản trong
giai đoạn mới
Những nguyên lý C.Mác và Ph.Ăng ghen trình bày trong tác
phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào Cộng sản và công nhân quốc
tế, đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về Đảng và xây dựng
Đảng.
Giữa thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đạt
tới trình độ phát triển; đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã phát
triển ở một số nước châu Âu. Cùng với sự phát triển của nền đại
công nghiệp, giai cấp vô sản hiện đại ra đời và sớm bước lên vũ
đài đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Trong những năm 30 và
40 của thế kỷ XIX, ở một số nước tư bản phát triển, giai cấp vô
sản đã vùng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản đòi thực hiện
những yêu sách của mình cả về kinh tế lẫn chính trị. Sự lớn mạnh
của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đòi hỏi bức thiết
phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính
trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cuối tháng 111847, Đại hội lần thứ hai Liên đoàn những người Cộng sản đã
thảo luận và thông qua những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản
do Mác và Ăng ghen trình bày. Trên cơ sở sự nhất trí ấy, Mác và
Ăng ghen được Đại hội uỷ nhiệm thảo ra bản tuyên ngôn chính
thức. Việc công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là thông báo


về sự ra đời của một học thuyết cách mạng, một thế giới quan
khoa học của chủ nghĩa Mác.
Bên cạnh đó, quan điểm của Lênin về Đảng cộng sản trong giai

hèn của triều đình Nhà Nguyễn, cuối thế kỷ XIX đàu thế kỷ XX,
xã hội Việt Nam đã dấy lên nhiều phong trào yêu nước với hai
khuynh hướng:
- Khuynh hướng phong kiến: tiêu biểu là Phong trào Cần
Vương( 1885-1895) và phong trào nông dân Yên Thế
(1885 – 1913)
- Khuynh hướng Tư sản: Tiêu biểu là Phong trào Đông Du
(1906 – 1908) ; Phong trào Duy Tân ( 1906- 1908);
Phong troà Đông Kinh Nghĩa Thục ( 1907 )….
Tuy nhiên, các phong trào này đều thất bại do thiếu cương lĩnh,
đường lối chính trị đúng đắn, thiếu phương pháp đấu tranh thích
hợp, thiếu tổ chức lãnh đạo và không tập hợp được lực lượng toàn
dân.
Bên cạnh đó, trong quá trình bôn ba đi tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận cuộc cách mạng đầu tiên trên thế
giới – Công xã Paris (1871). Mặc dù thất bại nhưng Công xã Paris
đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
châu Âu cuối thế kỷ XIX, đã dạy cho giai cấp vô sản hoàn thiện
về thực tiễn rằng Muốn lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản thắng
lợi, giai cấp công nhân phải xây dựng một đảng vô sản chân
chính, phải dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền, phải


đập tan bộ máy nhà nước sẵn có, tức là bộ máy quân sự - quan
liêu của giai cấp tư sản, thiết lập nền chuyên chính vô sản thay thế
cho nền chuyên chính tư sản.
Công xã Pa-ri với những chính sách và biện pháp đã thực hiện,
chứng tỏ đó chính là một hình thức nhà nước kiểu mới - nhà nước
chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới.
Thắng lợi đầu tiên của cuộc cách mạng vô sản trên thế giới

không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.”
Có thể nói, quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ai
Quốc là quá trình nhận thức, phát hiện ra sức mạnh của quần
chúng, đồng thời hiểu rõ sự cần thiết phải tập hợp, tổ chức nhân
dân để giải quyết những nhiệm vụ của từng chặng đường cách
mạng đặt ra. Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin
và kế thừa truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng quần chúng phải được
giác ngộ, được tổ chức và được lãnh đạo theo một đường lối đúng
đắn. Trong “Đường Cách Mệnh”, Người khẳng định: “Cách
mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc riêng
của một hai người” hay “ Dân khí mạnh thì quân lính nào, sung
ống nào cũng không chống lại nổi”. Người nhấn mạnh: “Cách
mệnh trước hết phải có gì? Phải có Đảng Cách Mệnh, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì lien lạc với dân tộc
bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững mạnh
Cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững
thuyền mới chạy”.
Sự ra đời của Đảng là quy luật tất yếu của cách mạng Việt
nam - cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời phải giải
phóng xã hội, giải phóng con người. Chỉ có Đảng Cách mệnh,
Đảng của giai cấp vô sản mới có khả năng giải quyết những yêu
cầu của lịch sử đặt ra. Và chính Hồ Chí Minh đã nắm bắt được
những yêu cầu tất yếu đó. Mactit – thanh tra mật thám Đông
Dương trong những năm 1920 đã nhìn thấy vai trò của Nguyễn Aí


Quốc trong thành lập Đảng ở Đông Dương, khi nhận xét về báo
“Thanh niên” do Người sáng lập. Theo Mactit, tờ báo này “ là
hình ảnh chân thực của chiến lược mà Nguyễn Aí Quốc đã sử

đúng.


Cách mạng là cuộc đấu tranh gian khổ. Kẻ địch rất mạnh.
Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức thật chặt chẽ, chí khí
phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục
nhân dân thành một đội quân thật mạnh, đánh kẻ địch giành
chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có
Đảng lãnh đạo.”
Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như
cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.. đã
chứng minh rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu
đưa Cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
II.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ
nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước.
Một trong những cống hiến xuất sắc của Hồ Chí Minh đối vơi
sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin là luận điểm của Người về
sự thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở một nước thuộc địa,
nửa phong kiến.
Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác- Lênin luôn luôn là nền
tảng lý luận và kim chỉ nam cho hành động. Người từng căn dặn:
“Chủ nghĩa Mác- Lênin soi phương hướng đường lối cho chúng
ta đi, có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng, hết
sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ Quốc, bất kỳ việc to, việc
nhỏ cũng nhằm mục đích ấy: đó là chủ nghĩa Mác- Lênin”. Song,
Người cũng nhấn mạnh đến sự sáng tạo khi vận dụng:” Lý luận
không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo, lý
luận luôn luôn cần bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ
trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải

trào rộng lớn nhất, có trước phong trào công nhân hàng nghìn
năm lịch sử. Nó cuốn hút mọi tầng lớp nhân dân, toàn dân tộc
đứng lên chống kẻ thù. Phong trào công nhân ngay từ khi mới ra
đời đã kết hợp với phong trào yêu nước. Khác với những người
cộng sản Phương Tây, Hồ Chí Minh và những người cộng sản
Việt Nam đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa MácLênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp. Sau này, trong
bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã


viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ
nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.
Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận
Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rẳng
chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được
dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách
nô lệ”. Chính trên cơ sở đó,khi nói về các yếu tố hình thành Đảng
Cộng Sản Việt Nam và bước đường đi của cách mạng nước ta,
đồng chí Lê Duẩn đã khẳng đinh: “Công lao vĩ đại đầu tiên của
Hồ Chủ Tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với
phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo
con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước
đến với chủ nghĩa Mác-Lênin”. Hơn thế nữa, do phân hoá giai
cấp ở Việt Nam chưa sâu sắc nên phong trào nông dân kết hợp
với phong trào công nhân ngay từ đầu. Hơn 90% dân số là nông
dân, họ là bạn đồng minh tự nhiên của giai cấp công nhân. Vì vậy,
phong trào yêu nước cùng với phong trào công nhân là những yếu
tố cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Như vậy, phát triển học thuyết Mác- Lênin về sự ra đời của
Đảng Cộng Sản, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng Cộng Sản Việt
Nam được thành lập là sự kết hợp của cả ba yếu tố: Chủ nghĩa

Từ quy luật hình thành và phát triển Đảng, Hồ Chí Minh đã
đi đến luận điểm Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng của giai cấp
công nhân đồng thời là Đảng của cả dân tộc Việt Nam. Đảng là
đội tiên phong của đạo quan vô sản, Đảng tập hợp vào hàng ngũ
của mình những người “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương
trình Đảng và Quốc tế cộng sản….dám hy sinh phục tùng mệnh
lệnh Đảng và chịu phấn đấu trong một bộ phận của Đảng”.
Tháng 2/1951, Hồ Chí Minh viết: “ Trong giai đoạn này,
quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dan lao động và của cả
dân tộc là một. Chính vì Đảng là Đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của cả dân tộc Việt
Nam”.
Năm 1961, Người viết:” Đảng ta là Đảng của giai cấp
công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc, không thiên tư, thiên
vị”
Những kết luận của Hồ Chí Minh về vai trò của giai cấp
công nhân Việt Nam là kết quả của một quá trình quan sát, tìm tòi


nghiên cứu ở nhiều nước từ năm 1911, khi Người ra đi tìm đường
cứu nước. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp năm 1920 đã nói lên quyết tâm của Người đi theo con
đường cách mạng vô sản để thực hiện mục tiêu giải phóng dân
tộc. Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, khi được tin 600 thợ
nhuộm Chợ Lớn đấu tranh (12-1922) đòi chủ xưởng bảo đảm
quyền lợi cho người lao động, Người đã viết: “Khắp nơi giai cấp
công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của
mình…Đây là lần đầu tiên một phong trào như thế nhóm lên ở
thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời đại” .
Ở nước ta sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp bằng

ý thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà đội tiên
phong là Đảng Cộng sản. Người đã sáng lập ra Đảng ta, giáo dục,
rèn luyện Đảng trở thành một Đảng mác xít lênin nít chân chính,
lãnh đạo nhân dân ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đưa
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Xây dựng thành công một Đảng Cộng sản ở một nước vốn
là thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân rất nhỏ bé, giai
cấp nông dân chiếm đại đa số, làm cho Đảng luôn giữ vững được
tính chất giai cấp công nhân, trung thành và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại mới là một cống hiến quan
trọng của Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng Đảng vô sản kiểu mới
mang bản chất giai cấp công nhân.
Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” viết năm 1926
Người đã chỉ rõ “Đảng muốn vững thì phải lấy chủ nghĩa làm
cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa
ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí
khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ
nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,
cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trước khi thành lập Đảng,
Người đã đề ra chủ trương “Vô sản hóa”, đưa cán bộ, đảng viên
không xuất thân từ thành phần công nhân vào hầm mỏ, nhà máy,
đồn điền để tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào
công nhân đồng thời học tập, tự rèn luyện mình thành người vô
sản và thành người Cộng sản. “Vô sản hóa” là một yếu tố đầu tiên
quan trọng tạo điều kiện cho đảng viên thực sự giác ngộ và trung
thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, giữ vững được bản chất giai cấp
công nhân của Đảng.


Trong “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, được

cơ thoái hóa về bản chất giai cấp công nhân, sa vào tệ quan liêu
hóa, xa rời quần chúng, trở thành tổ chức “làm quan” vi phạm
quyền làm chủ dân, xa rời mục tiêu cách mạng của Đảng. Người
đã chỉ rõ 12 điều về “tư cách của Đảng chân chính cách mạng”.
Trong 12 điều đó thì điều đầu tiên là “Đảng không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng
dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.


Cũng trong tác phẩm này Người đã nhấn mạnh về tính
Đảng - tức là bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Năm 1951,
khi Đảng ra công khai và đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam,
Người khẳng định bản thân giai cấp công nhân của một Đảng cầm
quyền và chỉ rõ trong điều kiện lịch sử mới quyền lợi của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc là một. Đảng
Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động cho nên Đảng cũng là Đảng của dân tộc. Khi đã trở
thành Đảng cầm quyền, khi Đảng thực sự là người vừa đại diện
cho lợi ích của giai cấp công nhân, vừa đại diện cho lợi ích cả dân
tộc, được cả dân tộc thừa nhận thì Đảng cũng là Đảng của dân
tộc. Người cũng luôn luôn nhắc nhở toàn Đảng về sự thống nhất
lợi ích của Đảng và của dân tộc. Trong lời khai mạc lễ kỷ niệm
lần thứ 30 ngày thành lập Đảng, Người đã chỉ rõ “Đảng ta vĩ đại
vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta
không có lợi ích gì khác”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”,
“là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no”.
Bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta đã được Người
nhắc nhở toàn Đảng một cách sâu sắc nhưng lại dễ hiểu, dễ nhớ
“Đảng ta là một Đảng cầm quyền…phải giữ gin Đảng ta thật
trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ

thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động. Không có sự thống
nhất ấy thì Đảng sẽ bị rối loạn, chia rẽ. Học thuyết đó chính là
chủ nghĩa Mác- Lênin.
Khảo sát, nghiên cứu thực tiễn vô cùng sinh động không chỉ
ở các nước tư bản mà còn ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi,
tìm hiểu và tiếp thu những tư tưởng tiến bộ trên thế giới lúc bấy
giờ, chủ yếu là chủ nghĩa Mác- Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng
định: “ Không có lý luận cách mệnh thì không có phong trào
cách mệnh….Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong, Đảng
cách mệnh mới làm nổi cách mệnh tiền phong”.
“ Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong
Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng
mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu


không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”.
Và “ Chủ nghĩa Mác- Lênin là lực lượng tư tưởng hùng
mạnh chỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng chúng tôi có thể trở
thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện
thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi”.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin “làm cốt”có nghĩa là Đảng
ta nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin, lập trường, qua
điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin. Khẳng định nền
tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh
cũng luôn nhắc nhở: lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm kim chỉ nam
cho hành động, chứ không phải giáo điều từng chữ từng câu. Phải
nắm bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin,
đòng thời phải biết chắt lọc, tổng kết những tinh hoa tư tưởng,

chính trị trong sạch, vững mạnh, Hồ Chí Minh đã nêu ra hệ thống
những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới là :
II.5.1. Tập trung dân chủ - đây là nguyên tắc cơ bản của
tổ chức Đảng
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản
thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của
mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai đã tự
nguyện gắn bó với nhau trong một tổ chức. Vì vậy, Hồ Chí Minh
gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Theo Hồ
Chí Minh, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và
thống nhất với nhau trong một nguyên tắc. Dân chủ để đi đến tập
trung, là cơ sở của tập trung, chứ không phải là dân chủ theo kiểu
phân tán, tùy tiện, vô tổ chức. Tập trung là tập trung trên cơ sở
dân chủ, chứ không phải tập trung quan liêu theo kiểu độc đoán,
chuyên quyền.
Theo Hồ Chí Minh, thực hiện dân chủ để đi đến tập trung,
cho nên dân chủ là cơ sở của tập trung. Do vậy, tập trung là trên
cơ sở của dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt của một vấn
đề, gắn bó và thống nhất với nhau. Người cũng nhấn mạnh: Tập
trung là phải thống nhất với nhau về tư tưởng, tổ chức và hành
động. Do vậy, thiểu số phải phục tùng đa số, sấp dứơi phục tùng


cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương và mọi Đảng viên
phải chấp hành vô đièu kiện nghị quyết của Đảng. “ Đảng tuy
nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người.”
Người cho rằng, dân chủ là ” của quý báu của nhân dân”, là
thành quả cách mạng. Tất cả mọi người được tự do bày tỏ ý kiến
của mình, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự
do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ

việc”.
II.5.2.

Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách

Theo Hồ Chí Minh, đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã phân tích rất rõ
về nguyên tắc này: “một người dù tài giỏi đến mấy cũng không
thể thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết
được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, cần phải có
nhiều người cùng tham gia lãnh đạo. Nhiều người thì nhiều kiến
thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiều được
mọi mặt, mọi vấn đề” . Về cá nhân phụ trách, Người đã chỉ rõ việc
gì đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì
cần giao cho một người phụ trách, nếu giao cho một nhóm người
thì cũng cần có một người phụ trách chính. Như thế công việc
mới chạy, như thế mới tránh được thói dựa dẫm, người này ỷ vào
người kia, ỷ vào tập thể. Không xác định rõ cá nhân phụ trách, thì
giống như “ nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”.
Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi
với nhau. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập
trung. Nguyên tắc này chống lại chủ nghĩa quan liêu độc đoán
chuyên quyền, bóp nghẹt đời sống dân chủ ở trong Đảng, đồng
thời chống lại thói cục bộ địa phương, tự do vô kỷ luật, tuỳ tiện
trong việc chấp hành Nghị quyết của Đảng.
Lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần cá nhân. Lãnh
đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện độc đoán, chủ
quan, dẫn đến hỏng việc.
Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi lộn
xộn, vô tổ chức. Kết quả cũng là hỏng việc.

hết khuyết điểm, đồng thời làm cho ưu điểm ngày càng nhiều
thêm.
Mục đích tự phê bình và phê bình, cũng theo Bác Hồ, là cốt
để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm
việc cho tốt hơn, đúng hơn; mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải
kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt,


được như thế trong Ðảng sẽ không có bệnh và Ðảng sẽ mạnh
khoẻ vô cùng.
Tự phê bình và phê bình liên quan đến vấn đề đoàn kết
trong Ðảng. Do vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình còn
nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: "Muốn đoàn
kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình
đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để
cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Ðoàn kết, phê bình,
tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa".
Xác định đúng mục đích tự phê bình và phê bình không dễ.
Trong thực tế, đã có không ít tổ chức đảng sau khi tiến hành tự
phê bình và phê bình thì tổ chức vốn đang yên đang lành thì lại bị
kém nát, mất đoàn kết thêm. Như vậy là không đạt mục đích.
Nhưng, muốn đạt được mục đích thì cần có phương pháp
phù hợp. Theo Bác Hồ, phương pháp phù hợp nhất là phải thành
khẩn, trung thực, kiên quyết và phải có văn hóa trong tự phê bình
và phê bình. Bác cho rằng, tự phê bình và phê bình phải "ráo
riết", triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Người
nhấn mạnh: Nếu không kiên quyết thực hiện tự phê bình và phê
bình thì cũng giống như giấu giếm tật bệnh ở trong người, không
dám uống thuốc và như vậy làm cho bệnh nặng thêm, nguy đến
tính mạng (đó là thái độ "giấu bệnh, sợ thuốc").


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status