Tìm hiểu sự vận dụng của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sảntrong việc chỉnh đốn và đổi mới Đảng hiện nay - Pdf 25

MỞ ĐẦU
Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của
Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi
theo. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con người.
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã đi qua chặng đường hơn 20 năm. Thành tựu
mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong công cuộc đổi mới có ý nghĩa lịch sử vô
cùng to lớn. Qua hơn 20 năm đổi mới, mà trước hết là đổi mới tư duy, nhận thức lý
luận của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bên cạnh đó, là
đảng cầm quyền trong điều kiện hiện nay, Đảng càng phải vững mạnh, trong sạch
để đảm bảo sự phát triển liên tục của cách mạng và sự bền vững của chế độ. Hơn
bao giờ hết, Đảng cần quán triệt và vận dụng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí
Minh vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự trong sạch, vững
mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là của toàn
dân tộc lãnh đạo đất nước đi đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”.
Và để được tìm hiểu về tất cả những điều trên, nhóm tiểu luận chúng em xin
chọn đề tài: “Tìm hiểu sự vận dụng của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản
trong việc chỉnh đốn và đổi mới Đảng hiện nay”. Đối tượng tìm hiểu là Tư Tưởng
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam với phương pháp nghiên cứu là phương
pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử. Làm cho toàn Đảng, toàn
dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo
đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Để thấy rõ được vai trò của Tư tưởng Hồ
Chí Minh đối với Đảng, làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những
nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh
niên, học sinh nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô

nhằm hạ thấp hoặc nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
đều xuyên tạc lịch sử thực tế cách mạng dân tộc ta. Trái với mặt lý luận cũng như
thực tiễn, đều đi ngược lại với xu thế phát triển của xã hội Việt Nam.[1]
1.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp Chủ Nghĩa Mác –
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước:
Là người hiểu rất rõ đặc điểm tình hình Việt Nam là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Hồ Chí Minh cho rằng nếu kết hợp CN
Mác-Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ
bé, phong trào công nhân còn non yếu.[2] Trong khi đó, phong trào yêu nước rất
mãnh liệt của nhân dân Việt Nam đã được hình thành qua hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước, vì vậy phải kết hợp với phong trào yêu nước của đông đảo quần
chúng. Do đó đã tổng kết và khái quát: CN Mác-Lênin kết hợp với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
vào đầu năm 1930.
Hồ Chí Minh nêu thêm yếu tố phong trào yêu nước, coi đó là một trong ba
yếu tố kết hợp dẫn đến việc hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam vì:
2
+ Một là, phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quá trình
phát triển của dân tộc Việt Nam.
+ Hai là, phong trào công nhân kết hợp được với phong trào yêu nước bởi vì
hai phong trào đó đều có mục tiêu chung.
+ Ba là, phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân
+ Bốn là, phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.[1]
1.3. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam:
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng
của dân tộc Việt Nam. Tại Đại hội II của Đảng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: trong
giai đoạn này quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân
tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và

CN Mác-Lênin chính là học thuyết khoa học “chân chính nhất, cách mạng
nhất”, vì nó chỉ ra cho Đảng mục tiêu, con đường thực hiện sứ mệnh giải phóng
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng dân tộc, xoá bỏ áp bức bất
công, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp.
Trong việc tiếp cận và vận dụng CN Mác – Lênin, Hồ Chí Minh lưu ý những
điểm sau đây:
+ Một là: việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền CN Mác – Lênin phải luôn
phù hợp với hoàn cảnh và phù hợp với từng đối tượng.
+ Hai là: việc vận dụng CN Mác – Lênin phải luôn luôn phù hợp với từng
hoàn cảnh.
+ Ba là: Trong quá trình hoạt động, Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa
những kinh nghiệm tốt của các đảng cộng sản khác, đồng thời Đảng ta phải tổng
kết kinh nghiệm của mình để bổ sung CN Mác – Lênin.
+ Bốn là: Đảng ta phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của CN
Mác – Lênin.[1]
Lấy CN Mác-Lênin “làm cốt”, theo HCM không có nghĩa là giáo điều, máy
móc theo từng câu từng chữ mà chính là nắm vững tinh thần, nắm vững lập trường,
quan điểm và phương pháp của CN Mác-Lênin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ
thể của VN để hoạch định đường lối đúng đắn, đưa cách mạng đi tới thắng lợi.
1.5. Đảng Cộng sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc đảng
kiểu mới của giai cấp vô sản:
Tiếp thu, vận dụng những nguyên lý về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp
vô sản do Lênin đề ra, Hồ Chí Minh đã nêu lên những nguyên tắc xây dựng đảng:
+ Một là: Nguyên tắc tập trung dân chủ, đây là nguyên tắc cơ bản nhất để
xây dựng Đảng, không biến Đảng thành một câu lạc bộ. Đây chính là nguyên tắc tổ
chức của Đảng. Dân chủ và tập trung có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau,
dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, tập trung trên cơ sở dân chủ.
Người nhấn mạnh đến việc phát huy dân chủ nội bộ, vì có dân chủ trong
đảng mới có thể nói đến dân chủ trong xã hội, mới định hướng cho việc xây dựng
một chế độ dân chủ.

Vai trò lãnh đạo của Đảng là do dân ủy thác cho. Đảng lãnh đạo, dân làm
chủ. Chính vì thế, Hồ Chí Minh nêu lên những luận điểm nổi tiếng trong bản Di
chúc:”Đảng ta phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân.
Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu về tăng cường mối quan hệ chặt chẽ
giữa Đảng với nhân dân:
+ Một là, Đảng thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu rõ tâm tư
nguyện vọng của nhân dân.
+ Hai là, thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng bằng
mọi hình thức: bằng việc tích cực thực hiện đường lối chủ chương của Đảng.
+ Ba là, Đảng có trách nhiệm nâng cao dân trí. Không thể có một Đảng tri
tuệ nếu nền dân trí thấp.
+ Bốn là, trong quan hệ với dân, đảng “không được theo đuôi quần chúng”.
[1]
Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân.
5
Hai mặt lãnh đạo và đầy tớ không tách rời nhau, không đối lập nhau, lãnh
đạo có nghĩa là làm đầy tớ. Đảng cầm quyền lại càng phải ý thức thật sâu sắc mình
là đầy tớ nhân dân, chứ không phải người chủ của nhân dân, tự cho phép mình
đứng trên dân trên nhà nước, trên pháp luật.
Đảng không có quyền lợi gì của riêng mình ngoài quyền lợi của giai cấp, của
dân tộc. Đảng ở trong dân, trong lòng dân, Đảng phải lấy dân làm gốc.
1.7. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn:
Đảng ta đóng vai trò lãnh đạo toàn xã hội và trong thực tế mấy chục năm qua
đã được nhân dân tin yêu vì “Đảng là đạo đức, là văn minh”, tiêu biểu cho trí tuệ,
danh dự và lương tâm của dân tộc. Nhưng Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo toàn xã hội
và không được nhân dân tín nhiệm nữa nếu Đảng yếu kém, không trong sạch,
không vững mạnh. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con
người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và

Thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu trên, chính là thiết thực đã góp
phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Chương 2: Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Việc Chỉnh Đốn và
Đổi Mới Đảng Hiện Nay
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ đã dặn lại toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta những công việc phải làm khi Tổ quốc đã thống nhất, trong đó có
nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Bác viết: ''Công việc trên đây là rất to lớn,
nặng nề và phức tạp, và cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại
những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn''. Người còn
chỉ rõ: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi
đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó
cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc
to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
Là người sáng lập Đảng cộng sản Việt nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng và
rèn luyện Đảng cộng sản thành một đảng cách mạng chân chính, bộ tham mưu sáng
suốt và kiên cường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt nam. Trong những di
sản tư tưởng mà người để lại, những luận điểm của người về Đảng cộng sản, về xây
dựng đảng đặc biệt trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền là một phần cực kỳ
quan trọng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ học thuyết
của Mác về Đảng Cộng sản và trực tiếp từ học thuyết của Lênin về Đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân. Nhưng xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt
nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết ấy để đưa đến việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930.
Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã kết hợp
chặt chẽ các vấn đề dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
vô sản không những trong nhận thưc lý luận mà còn ở trong hoạt động thực tiển
cách mạng rất phong phú. Người đã sáng lập Đảng cộng sản Việt nam, đó là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin " làm cốt", Đảng là nhân tố quyết định

kế hoạch đã được định rõ thì cần giao cho một người phụ trách, nếu giao cho một
nhóm người thì cũng phải có một người phụ trách chính. Như thế công việc mới
chạy, mới tránh được thói dựa dẫm, người nầy ỷ vào người kia, ỷ vào tập thể.
Không xác định rõ cá nhân phụ trách, thì giống như nhiều sãi không ai đóng cửa
chùa.
Đối với nguyên tắc nầy Người đã kết luận: Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi
đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.[2]
Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi lộn xộn, vô chính phủ. Kết
quả cũng là hỏng việc.
Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau.
8
2.3. Tự phê bình và phê bình:
Hồ chí Minh coi nguyên tắc nầy là nguyên tác sinh hoạt của Đảng, là luật
phát triển của Đảng. Người cho rằng mỗi đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ
mình, để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, cũng giống như phải tự soi
gương rửa mặt hàng ngày. Hơn nữa, biết tự phê bình tốt thì mới phê bình người
khác tốt được.
Người xem tự phê bình và phê bình là vũ khí để nâng cao trình độ lãnh đạo
của đảng. Người đã thẳng thắn vạch rõ một đảng mà dấu diếm khuyết điểm của
mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ
khuyết điểm, nguyên nhân và hoàn cảnh đưa đến khuyết điểm rồi tìm cách sữa
chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn chắc chắn và
chân chính. Người lưu ý, muốn thực hiện tốt tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi
người phải trung thật, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác.
Người đã phê phán những thái độ lệch lạc, sai trái thường xẩy ra trong tự phê bình
và phê bình như thiếu trung thực, che dấu khuyết điểm của bản thân, sợ phê bình,
không dám phê bình, nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý, hoặc ngược lại lợi dụng phê
bình để nói xấu, bôi nhọ, vùi dập, đả kích người khác…
Trên cơ sở tổng kết hai năm thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn
Đảng, tiếp tục đưa việc tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy và tổ chức Đảng

Hồ chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất
trong đảng cũng như khối đại đoàn kết toàn dân. Phải xây sự đoàn kết thống nhất
trong Đảng để làm nòng cốt cho việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nhân
dân.
Cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là đường lối,
quan điểm của Đảng và điều lệ Đảng. Đây là cơ sở để tạo nên sự thống nhất về tư
tưởng, về tổ chức, từ đó có sự thống nhất về hành động của toàn Đảng nhằm đưa
đường lối, quan điểm của Đảng vào cuộc sống, biến các chủ trương của đảng thành
hành động cách mạng của quần chúng nhân dân.
Để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người thường nêu những
yêu cầu như: phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ để cán bộ đảng viên có thể
tham gia bàn bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng, thực hiện tự
phê bình và phê bình, tình thương yêu đồng chí, chống chủ nghĩa cá nhân, thường
xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng,
Tư tưởng HCM về Đảng cộng sản, về nguyên tác xây dựng Đảng đã chỉ đạo
cho việc xây dựng Đảng cộng sản Việt nam thật sự là một Đảng Macxit-Leninit
chân chính, Đảng của Hồ chí Minh đã làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang và trách
nhiệm nặng nề trước dân tộc, đồng thời có những đóng góp tích cực vào phong trào
cách mạng thế giới
Sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo 17 năm qua đã giành
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng: chính trị - xã hội ổn định,
an ninh quốc phòng giữ vững, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được cải
thiện, quan hệ của Việt nam với thế giới được mở rộng, vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao Việt nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội kéo
dài, vượt qua chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ để bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những thành tựu của công cuộc đổi mới gắn
liền với sự trưởng thành của Đảng, những tồn tại, yếu kém trên nhiều lĩnh vực đòi
hỏi phải khắc phục.
10
Đã có nhiều Nghị quyết đặt ra những yêu cầu trong công tác xây dựng Đảng

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà Đảng và
Bác Hồ đã lựa chọn, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong
những bài học mà Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết sau mười năm đổi mới, bài
học về giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng
đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch
sử lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng về tổ chức là tăng cường sức chiến đấu của
Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Đại hội VIII của Đảng nhận định: “Tổ chức cơ sở
Đảng ở nhiều nơi yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, có trình
trạng vừa kém dân chủ, vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ và cấp uỷ chưa
11
tôn trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán, cục
bộ, địa phương, kèn cựa, địa vị, cá nhân chủ nghĩa rất nặng. Không ít nơi nội bộ
mất đoàn kết nghiêm trọng”
Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp,
vững vàng về chính trị gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ,
kiến thức và năng lực hoạt động thực tiển, gắn bó với nhân dân. Đến hết năm 2005,
phần lớn cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp huyện trở lên học xong chương trình cao
cấp về lý luận chính trị và có trình độ đại học về một chuyên ngành nhất định.
Tất cả các Đảng bộ, chi bộ ở cơ sở đều nắm vững và thực hiện đúng chức
năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đối với chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh
tế, sự nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở, nâng cao tính
chiến đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông lõng vai trò lãnh đạo.
Phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy
ở cơ sở đến Ban chấp hành Trung ương. Chống dân chủ hình thức, dân chủ cực
đoan hoặc lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích riêng, cục bộ, bản vị.
Từng đảng bộ giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong tập thể lãnh đạo. Đối
với những cấp ủy, tổ chức đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, cán bộ lãnh
đạo độc đoán, chuyên quyền, léo bè, kéo cánh gây mất đoàn kết nội bộ, cấp ủy cấp
trên phải chỉ đạo kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết

của Đại hội Đảng các cấp và Đại hội lần thứ XI của Đảng. [5]
Hồ Chí Minh luôi coi đạo đức là “cái gốc”, là “nền tảng” của người cách
mạng. Người cho rằng cũng như “sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân”. Đạo đức cách mạng không tự nhiên mà có, mà là kết quả của một quá trình
giáo dục, rèn luyện bền bỉ mà nên, như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện
càng trong”. Đạo đức nội hàm sức mạnh to lớn, người có đạo đức cách mạng mới
“gánh được nặng” và “đi được xa”. Đạo đức mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở người Cán
bộ Đảng viên chính là những biểu hiện tổng hòa của những tiêu chí đạo đức trong
các mối quan hệ của họ với Đảng, Nhà nước, giai cấp, nhân dân, dân tộc; trong các
mối quan hệ đa diện đa chiều của con người (đối với mình,đối với người, đối với
việc) Đó là những phẩm chất: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con
người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; là tinh thần quốc tế trong sáng thủy
chung Những phẩm chất ấy được Người đặc biệt quan tâm trong điều kiện Đảng
Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền và đội ngũ cán bộ Đảng viên là những “công
bộc” của nhân dân.
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng có sức mạnh tinh thần to
lớn; là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của cán bộ Đảng viên, làm tăng sức mạnh của
Đảng và chế độ xã hội XHCN. Điều đó cũng có nghĩa đặt ra một yêu cầu, đã là Cán
bộ Đảng viên thì trước hết phải trở thành một công dân mẫu mực, làm nòng cốt cho
13
giữ gìn phẩm chất đạo đức và kỷ cương xã hội. Sự mực thước, nêu gương của
người Cán bộ Đảng viên trước nhân dân là vô cùng cần thiết, như Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà
ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức.
Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người bắt chước”.[3]
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, để xây dựng
Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân
tiến hành cách mạng XHCN, với quan điểm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi

hôm nay. Việc không ngừng nghiên cứu sâu sắc các quan điểm của Hồ Chí Minh
về đạo đức Cách mạng và giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ Cán
bộ Cách mạng; vận dụng các quan điểm, tư tưởng đó và thực tiễn hoạt động của
14
Đảng là một công việc căn cốt trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Toàn Đảng và
xã hội đang đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, để việc học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh được hiệu quả hơn, để tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
thấm sâu hơn trong từng lời nói và việc làm của Cán bộ Cách mạng và quần chúng
nhân dân, không chỉ tiến hành bằng một cuộc vận động là đủ mà phải coi đây là
sinh hoạt chính trị thường xuyên trong Đảng và trong toàn xã hội, qua đó góp phần
nâng cao văn hóa đảng, để Đảng ta mãi mãi là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho
trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc.[3]
15
KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn và thách
thức lớn của sự phát triển. Để lãnh đạo đất nước trong điều kiện mới, Đảng phải
tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nắm
bắt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao tầm trí tuệ. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi
tổ chức đảng, cấp ủy đảng phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng.
Với nhận thức chung đó, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng hiện nay cần tập trung vào những nội
dung, tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn đề ra đường lối, chủ trương, quyết sách phù
hợp, Đảng phải nâng cao tầm trí tuệ, nắm chắc yêu cầu thực tiễn, tình hình trong
nước và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Vận dụng tốt tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh” trong tổ chức Đại hội Đảng các
cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng có ý nghĩa rất thiết thực trong công tác xây

Chương 2: ……………………………………………………………………7
Chương 3: ………………………………………………………………… 13
Kết Luận: ………………………………………………………………………….16
Tài Liệu Tham Khảo:…………………………………………………………… 17
Mục Lục:………………………………………………………………………… 18
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status