Câu hỏi: Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
ĐỀ CƯƠNG
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
1.1Quan điểm về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
1.1.1 Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX, yêu
cầu phát triển LLSX => xây dựng QHSX phù hợp với trình độ LLSX.
1.1.2 Trong một giai đoạn lịch sử nhất định, không đơn thuần tồn tại
nhiều loại QHSX thích ứng với trình độ khác nhau của LLSX
=>xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần => xây dựng như thế
nào?
1.2 Quan điểm về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.2.1 Quan điểm của Mác: quá độ trực tiếp từ giai đoạn phát triển CNTB lên
CNXH (theo tuần tự của xã hội loài người).
1.2.2 Quan điểm của Lênin: Do CNTB phát triển không đồng đều, sự
phát triển của phong trào dân tộc => quá độ gián tiếp (nhảy vọt) ở các
nước tiền tư bản.
2. Kinh nghiệm các nước (Chính sách kinh tế mới NEP ở Liên Xô
(1921-1925)
2.1 Xuất phát từ đặc điểm nền kinh tế nước Nga => Lênin chủ trương
xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
2.1.1 Nền kinh tế lạc hậu, nông dân chiếm 90% dân số, phần lớn nông
dân là người sản xuất hàng hóa nhỏ => kinh tế nông dân kiểu gia
trưởng
kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ
2.1.2 Chủ nghĩa tư bản tồn tại ở mức độ nhất định => kinh tế tư bản tư
nhân
2.1.3 Nhu cầu hỗ trợ cho CNXH và chính quyền Xô Viết, dưới dạng phát
triển LLSX và tăng khối lượng sản phẩm => kinh tế tư bản nhà nước
2.1.4 Mục tiêu xây dựng CNXH => thành phần kinh tế XHCN giữ vai
4.2.2 Sự tồn tại một bộ phận tư sản công thương => kinh tế tư bản của tư
nhân
4.2.3 Khuyến khích tư nhân cải tạo XHCN => kinh tế tư bản nhà nước
4.3 Thực hiện nhiệm vụ chiến lược là CNXH => kinh tế quốc doanh
giữ vai trò chủ đạo, nền tảng, định hướng.
5. Tính đúng đắn của luận điểm (Xây dựng cơ cấu kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần trong Đổi mới kinh tế năm 1986)
5.1 Trước Đổi mới 1986:
5.1.1 Điều kiện nền sản xuất sau 1975
5.1.2 Đại hội Đảng lần thứ IV (12-1976): “xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản…
cải tạo chế độ sở hữu cá thể…phát triển kinh tế quốc doanh…xây dựng
nhanh chóng kinh tế tập thể”
Đại hội Đảng lần thứ V (3-1982): tiếp tục quan điểm trên.
=> cơ cấu kinh tế với hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể.
=> chủ trương mang tính chủ quan, nóng vội, gây ra những hậu quả cho
nền kinh tế
5.2 Quan điểm Đổi mới 1986:
5.2.1 Điều kiện nền sản xuất sau 10 năm thống nhất đất nước
5.2.2 Đại hội Đảng lần thứ VI: “Cần có chính sách sử dụng và cải tạo
đúng đắn các thành phần kinh tế… trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai
trò chủ đạo” => thừa nhận tồn tại nhiều thành phần kinh tế”.
Tiếp tục hoàn thiện quan điểm qua các kì đại hội, Đại hội X xác
định 5 thành phần kinh tế ở nước ta.
=> nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần, đa sở hữu.
=> phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, tác động tích cực tới nền
kinh tế.
(Bảng số liệu đóng góp của các thành phần kinh tế giai đoạn 1986 1995)
5.3 Kết luận lại tính đúng đắn của luận điểm từ thực tiễn Đổi mới năm
đó, chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra tính tất yếu xây dựng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần. Cụ thể, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nội dung về mặt kinh tế, trong đó có
việc xác lập nên kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở khách quan của sự
tồn tại nhiều loại hình sở hữu về TLSX với những hình thức tổ chức kinh
tế đa dạng, đan xen hỗn hợp. Các thành phần kinh tế tồ tại trong mối
quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và đấu tranh với nhau. Mâu thuẫn
giữa các thành phần kinh tế đó chỉ có thể được giải quyết trong tiến trình
xây dựng CNXH.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin,
có hai con được quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Con được thứ nhất, theo
quan điểm của Mác, là con đường quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội
từ những nước tư bản ở trình độ cao. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng
trên nên sản xuất đại công nghiệp có trình độ cao. Quá trình phát triển
của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra tiền đề vật chất – kỹ thuật nhất định cho
chủ nghĩa xã hội. Tuy những tiền đề vật chất – kỹ thuật đó cần có thời
gian tổ chức sắp xếp lại trong thời kỳ quá độ, nhưng về cơ bản do
phương thức sản xuất với LLSX và QHSX đã tương đối phát triển nên
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước chủ nghĩa tư bản phát
triển với trình độ cao có thể tương đối ngắn. Con đường thứ hai là quá độ
gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản (CNTB)
phát triển còn thấp, hoặc như Lê-nin cho rằng, những nước có nền kinh
tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của CNTB cũng có thể đi lên
chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó, nhất là trong điều
kiện đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành
đảng cầm quyền) và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ. Trong
điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển không đồng đều và sự phát triển
ngày càng mạnh mẽ của phong trào dân tộc trên thế giới, con đường thứ
của chiến tranh thế giới thứ nhất để lại. V.I.Lê-nin đã nhận định về kinh
tế nước Nga lúc bấy giờ: “một bên là chế độ sở hữu ruộng đất lạc hậu
nhất cùng với tình trạng nông thôn dốt nát nhất và một bên là chủ nghĩa
tư bản công nghiệp và tài chính tiên tiến nhất". Hơn 90% dân số là nông
dân, nông nghiệp chiếm hơn 50% trong tổng sản phẩm quốc nội. Nông
dân, mà chủ yếu cũng là những người sản xuất hàng hóa nhỏ, tồn tại
khách quan và lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Do
toàn bộ tâm lý, tập quán sản xuất nhỏ tồn tại hàng trăm năm đã tạo “một
cơ sở có những cội rễ rất sâu và rất chắc” vào ý thức tư hữu của
người nông dân, nên họ sẽ chống lại bất cứ sự can thiệp, hay kiểm kê,
kiểm soát nào của nhà nước, vì vậy việc thay thế chế độ tư hữu nhỏ bằng
chế độ công hữu là không thể tiến hành một lần mà xong được. V.I.Lênin rất đề cao vai trò của việc mua bán nông sản, coi đây là điều kiện tiên
quyết để thực sự công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Vai trò của
lưu thông hàng hoá, đặc biệt là lưu thông nông sản là thiết lập liên minh
giữa công nhân và nông dân, giữa công nghiệp và nông nghiệp.Trên cơ
sở đó, Lê-nin chủ trương xây dựng thành phần kinh tế nông dân kiểu gia
trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên và thành phân kinh tế
sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó gồm đại đa số là nông dân bán lúa mỳ).
Nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa tư bản như là phương tiện để phát triển
lực lượng sản xuất, V.I.Lênin đã kiên trì giải thích rằng, nước Nga chưa
đủ sức để chuyển trực tiếp từ tiểu sản xuất sang chủ nghĩa xã hội, và
trong điều kiện như vậy, chủ nghĩa tư bản ở một mức độ nhất định là
không tránh khỏi, giống như sản phẩm tự nhiên của nền tiểu sản xuất và
trao đổi hàng hoá; vì vậy kinh tế tư bản tư nhân cũng là một thành phần
của nền kinh tế quốc dân, nhưng Lê-nin cũng chỉ ra nhiệm vụ trực tiếp
là: “Chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng
nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian
giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường,
dạng và đang từ từ biến đổi với quy mô lớn; có chú ý tới trình độ trang bị
kỹ thuật nhằm phát huy cao độ khả năng của tất cả các thành phần kinh
tế khác nhau và từng bước liên kết chúng, trong khi vẫn duy trì và phát
huy vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước, hướng hoạt động của nền
kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa. Quyết định mang ý nghĩa chiến
lược này có tác dụng mở ra mọi khả năng phát triển lực lượng sản xuất
và thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cùng với thành phần kinh tế chủ
đạo là kinh tế XHCN, các thành phần kinh tế khác đã góp phần khôi
phục và phát triển nền kinh tế quốc dân. Sau giai đoạn chống “thù trong
giặc ngoài” (1918 – 1920), Liên Xô xảy ra nạn đói. Một phần nhờ sự
phát triển của kinh tế nông dân và kinh tế sản xuất hàng hóa, nạn đói
được đẩy lùi. Năm 1921, sản lượng lương thực của Liên Xô là 42,2 triệu
tấn, đến năm 1925 là 74,6 triệu tấn. Có sự tham gia của thành phần kinh
tế tư bản (với điều kiện về vốn, công nghệ kỹ thuật, …), nền công nghiệp
Liên Xô cũng phục hồi nhanh chóng sau những tàn phá của chiến tranh.
Cũng có những quan điểm cho rằng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần là đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng thực chất, xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là “lùi một bước để tiến hai
bước” lên chủ nghĩa xã hội. Trước Chính sách kinh tế mới, Nga thực
hiện chính sách cộng sản thời chiến, trong đó thủ tiêu hoàn toàn sở hữu
tư nhân, nền kinh tế chỉ tồn tại hai thành phần là kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể. Tuy nhiên, chính sách cộng sản thời chiến chỉ mang tính
chất tạm thời trong điều kiện nước Nga phải tập trung sức mạnh đối phó
với thù trong giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng. Chính sách kinh
tế mới ra đời khắc phục cho chính sách trước đó để phù hợp với điều
kiện thực tiễn giai đoạn mới. Chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vẫn đi kèm với kiên định về định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chỉ có điều, để xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Nhưng bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là phủ định sạch trơn mà là bỏ qua
việc xác lập vai trò thống trị của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng tư bản chủ nghĩa nhưng phải biết kế thừa và phát huy những nhân
tố tích cực được tạo ra trong lòng chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ
nghĩa xã họi. Do vậy bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát
triển theo con đường " rút ngắn" quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc
điểm này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải dựa trên những điều kiện cụ
thể nhất định để gián tiếp tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải tôn trọng
những quy luật phát triển khách quan của tồn tại xã hội, không được
nóng vội, đốt cháy giai đoạn.
Có thể khẳng định, khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nước ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu
tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triên tư
bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác, thể hiện
trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu
thuẫn. Trong đó, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát
triển cao của nền đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng nền
kinh tế - xã hội quá thấp kém của nước ta. Mâu thuẫn này đòi hỏi được
giải quyết bằng những biện pháp cụ thể trên nhiều lĩnh vực, trong đó
có lĩnh vực kinh tế.
Thứ ba, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa
hòa bình, vừa chiến tranh, do đó hai nhiệm vụ đặt ra là: độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là khát vọng cao cả của toàn dân
tộc. Nhân dân ta đã phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện chủ
nghĩa tư bản vẫn tồn tại thì sự tấn công từ chủ nghĩa tư bản với nước ta là
không thể tránh khỏi. Chúng ta phải giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo
xuất phát điểm để Hồ Chí Minh xây dựng những thành phần khác của
nền kinh tế quốc dân. Việt Nam tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không
kinh qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, do đó, có thể bỏ qua
vai trò thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong
điều kiện, nền kinh tế tồn tại nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa ở mức độ
nhất định, không thể phủ nhận thành phần kinh tế tư bản của tư nhân.
Đối với những người tư sản công thương, vì họ đã tham gia ủng hộ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có đóng góp nhất định trong khôi phục
kinh tế và sẵn sàng tiếp thu, cải tạo để góp phần xây dựng nước nhà, xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nên Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư
liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi
cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kinh tế nhà nước. Tư nhân cũng được
khuyến khích và giúp đỡ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức tư
bản nhà nước (nhà nước góp vốn với tư nhân để kinh doanh). Kinh tế tư
bản nhà nước tồn tại trong nền kinh tế quốc dân là thành phần liên kết
giữa nhà nước và tư nhân, có vai trò quan trọng đối trong nền kinh tế
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Mâu thuẫn cơ bản nhất khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước
theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém. Việc
xây dựng những thành phần kinh tế phù hợp với trình độ thấp của nền
sản xuất là một trong những biện pháp để giải quyết mâu thuẫn này.
Trong điều kiện tồn tại đan xen những nhân tố kinh tế chủ nghĩa tư bản,
trước chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa, từng thành phần kinh tế được
xây dựng trên cơ sở tôn trọng quy luật kinh tế khach quan lực lượng sản
xuất phải phù hợp với quan hệ sản xuất, Hồ Chí Minh đã dựa trên những
đặc điểm kinh tế then chốt của Việt Nam, định hướng xây dựng những
thành phần kinh tế phù hợp. Đó là tiền đề để lực lượng sản xuất nước ta
triển, năng suất lao động xã hội rất thấp,…Trên cơ sở kế thừa tư duy
kinh tế trong 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc trước đó,
Đại hội IV (12 - 1976) của Đảng đã nêu đường lối phát triển kinh tế
trong thời kì mới ở nước ta, đó là: “phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ
nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể của nông dân và thợ thủ công, xác
lập chế dộ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể bằng phương pháp và bước đi thích hợp; phải ra sức
phát triển thành phân kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh; xây dựng
nhanh chóng thành phần kinh tế tập thể, tiến hành hợp tác hóa nông
nghiệp và đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Mọi tư liệu
sản xuất chủ yếu trong xã hội đề phải được sử dụng theo phương hướng
và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích của toàn xã
hội”. Tiếp đó, tới đại hội lần thứ V (3 - 1982), Đảng tiếp tục quan điểm
trên. Tuy nhiên, tại Đại hội V cũng chỉ ra rằng: "kết quả sản xuất không
tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn
của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được
tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường, vật giá, tài
chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều
khó khăn". Thực hiện chủ trương của Đảng, nền kinh tế Việt Nam trước
Đổi mới chủ yếu dựa trên chế độ công hữu với hai thành phần kinh tế:
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Chủ trương này biểu hiện tính
nóng vội, muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa,
nhanh chóng biến kinh tế tư bản chủ nghĩa thành quốc doanh. Cùng với
đó là cơ chế quản lý kinh tế kém hiệu quả, cơ cấu kinh tế mất cân đối
nghiêm trọng, nền kinh tế Việt Nam đã lâm vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng giai đoạn 1975-1986.
Thực trạng khủng hoảng của nền kinh tế-xã hội, đã đòi hỏi Đảng
phải đổi mới tư duy kinh tế. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (12 – 1986),
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là phù hợp với quy luật khách quan,
điều kiện Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Các thành
phần kinh tế tồn tại trong mối quan hệ tác động tới nhau và có vai trò nhất
định trong nền kinh tế. Xây dựng nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần
đã tác động trực tiếp tới nền sản xuất, nâng cao hiệu quả của sản xuất,
khai thác tốt mọi tiềm năng cho sự phát triển kinh tế. Những đóng góp của
những thành phần kinh tế phi chủ nghĩa xã hội đối với sự phát triển kinh
tế Việt Nam là không thể phủ nhận.
Vốn đầu tư thực hiện theo giá so sánh năm 1989 (đv: nghìn tỉ đồng)
Năm
Tổng
Các thành phần kinh tế
Nhà
Ngoài
Đầu tư
nước
Nhà nước
nước
ngoài
1986
4,8
2,2
1,9
0,7
1990
6,0
2,4
2,8
0,8
Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế
phân theo thành phần kinh tế (đv: %)
Năm
Tổng
Các thành phần kinh tế
Ngoài
Đầu tư
Nhà
33,7
66,3
-
1989
100
33,4
64,5
2,1
1990
100
31,8
64,6
3,6
Nguồn: Tổng cục Thống
kê