Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình - Pdf 35

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan
trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển
nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn
yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm
trọng [11], [51], [59], [78]. Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại,
nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ
yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Do đó, việc quản lý tài
nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách [48], [60].
Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993
Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH. Năm 1995,
Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động ĐDSH ở Việt
Nam”. Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai.
Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình là một trong những hệ sinh
thái (HST) đại diện điển hình mang tính toàn cầu về HST rừng trên núi đá vôi
có diện tích rộng lớn còn sót lại trên vùng đất thấp miền Bắc Việt Nam, được
các nhà khoa học trong nước và quốc tế xác định là khu vực cần ưu tiên cho
việc bảo tồn ĐDSH trên núi đá vôi [64], [73]. Nơi đây đã được các cấp chính
quyền của tỉnh Hòa Bình, các tổ chức, cá nhân quan tâm thực hiện nhiều
nghiên cứu về ĐDSH, quản lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và phát triển
sinh kế cho cộng đồng xung quanh [38], [39], [40], [41], [72]. Tuy nhiên, công
tác bảo tồn ĐDSH ở đây vẫn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, nguyên
nhân là do nhu cầu sử dụng tài nguyên ĐDSH tăng cao, mặt khác do tầm quan
trọng và giá trị trực tiếp của ĐDSH đối với cuộc sống của con người rất lớn.


2

- Làm cơ sở cho việc đề xuất các chính sách bảo tồn ĐDSH tại dải núi đá
vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình
4. Những đóng góp mới của luận án
- Lần đầu tiên có sự đánh giá tổng hợp về hiện trạng tài nguyên ĐDSH
tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình
- Lập danh lục đầy đủ và hệ thống động vật và thực vật tại dải núi đá vôi
phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình
- Cung cấp nhiều số liệu phân tích tình hình quản lý tại dải núi đá vôi
phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất mở rộng Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông thêm 3 xã Pù Bin,
Noong Luông, Vạn Mai thuộc huyện Mai Châu.
- Đề xuất cơ sở khoa học và thực tiễn cho tổ chức quản lý, phát triển bền
vững ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.
5. Bố cục luận án
Luận án gồm 132 trang, 26 bảng, 8 hình, 36 ảnh màu, và được cấu trúc
thành 4 phần chính như sau: Đặt vấn đề (3 trang), chương 1: Tổng quan (35
trang), chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (16 trang),
chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (76 trang), kết luận - kiến nghị (2
trang).
Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả (5 công
trình), tài liệu tham khảo (100 tài liệu) và phần phụ lục gồm: các câu hỏi
phỏng vấn, danh mục các hình ảnh, danh lục thực vật, danh lục động vật,... tại
khu vực nghiên cứu.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm liên quan đến ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học

nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi
khí hậu hiện nay [25], [37].
1.1.2. Bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con
người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ
hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số
phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các
dòng di truyền hay các sinh cảnh. Một số khác được sử dụng để sản xuất một
cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,…
[7], [8], [9], [10], [12], [84], [96]. Có thể phân chia các phương pháp và công cụ
thành các nhóm như sau:
- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên. Tùy
theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo


6

tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các
biện pháp quản lý phù hợp [7], [8].
- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation):
Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các
sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [7], [8], [60]. Mục đích của
việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong
trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các
loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển
sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm
các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…

Công ước ĐDSH: là thành quả chính của Hội nghị Thượng đỉnh về Môi

trường tại Rio de Janiero vào năm 1992. Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước
vào ngày 16/11/1994 và phê duyệt Kế hoạch Hành động ĐDSH quốc gia vào
tháng 12 năm 1995.


Công ước Ramsar về Đất ngập nước (ĐNN): ban đầu tập trung vào bảo

tồn và sử dụng khôn ngoan các khu ĐNN là sinh cảnh của các loài chim nước
quan trọng. Trọng tâm này ngày càng được mở rộng và hiện nay ĐNN được
xác định rõ ràng là HST rất quan trọng cho bảo tồn ĐDSH nói chung và cho sự
tồn tại của con người nói riêng. Công ước Ramsar đã bắt đầu được thực thi từ
năm 1975 và tính tới 04/04/2005, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vào
Công ước và bảo vệ 1.150 khu ĐNN. Công ước này được bổ sung bằng một
Nghị định thư tại Paris năm 1982. Việt Nam đã tham gia vào Công ước này từ
20/9/1988 và đã thành lập 4 khu ĐNN, trong đó đáng chú ý là KBT Thiên


8

nhiên Xuân Thủy đã được đưa vào danh sách các Khu ĐNN có tầm quan trọng
quốc tế đối với chim di cư [7].


Công ước CITES: Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật

hoang dã nguy cấp, Công ước này là một công cụ để hỗ trợ các nước ngăn chặn
buôn bán quốc tế bất hợp pháp và không bền vững động thực vật hoang dã. Công
ước CITES được hình thành vào ngày 03/03/1973 tại Washington với 13 thành

cả các cấp (tỉnh, huyện, xã), có sự tuân thủ quy tắc có “sự tham gia” và sự thỏa
thuận của tất cả các bên liên quan và ban quản trị nhiều thành phần.
1.2. Nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH
1.2.1. Nghiên cứu quản lý bảo tồn ĐDSH trên thế giới
a. Xác lập thứ bậc ưu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu
Trên thực tế, các nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy để
phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được
thứ tự ưu tiên, xây dựng chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu
quả. Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằm
xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào
đó [25], [75], [96], [97], có thể gộp thành 3 nhóm như sau:


Bảo tồn dựa trên các sinh cảnh đại diện: Hình thức này đã được một số tổ

chức bảo tồn như Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức bảo tồn tự
nhiên (TNC),...sử dụng [25]. Trong đó, WWF đã xác định được 867 vùng sinh thái
trên toàn cầu. Khái niệm này được Tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC) sử dụng như
một phương pháp tiếp cận chủ đạo cho các hoạt động của mình, sau đó phát triển


10

thành “Global 200” nhằm kết hợp các kiểu sinh cảnh đặc trưng nhất trên phạm vi
toàn thế giới [88].


Bảo tồn dựa trên các tiêu chí về loài: như mức độ phong phú của loài

(Species richness) và số lượng các loài đặc hữu (Endemic species) được Tổ chức

có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa
nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan. Tuy nhiên, các nhà qui hoạch bảo
tồn đã xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố tự nhiên như: lưu
vực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài [95].
Cho dù chưa có định nghĩa rõ ràng về cảnh quan, nhưng việc xác định các
cảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các chức năng
sinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược về
bảo tồn. Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về tầm nhìn ĐDSH
nhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi một vùng sinh thái.
WCS (2004) cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quan
nhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH trong từng vùng [91].
c. Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các KBT là ý tưởng đầu tiên
xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày
01 tháng 03 năm 1872 [89].
Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế
giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo
chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giải
pháp bảo tồn ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác


12

nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được
triển khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và
KBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các
KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính
phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội
để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn. Càng về sau, hội nghị càng
chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội

liêu bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên.
Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn
nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được
ứng dụng. Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính
toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST. Vì vậy
muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát
triển bền vững. Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế
mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợi
ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên,
nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo
sự hài hoà. Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểm
giống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng
hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp
liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích là chia sẻ quyền lợi công bằng
đồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH.


14

Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng
là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi nói
riêng. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát
triển của xã hội sinh thái học bền vững. Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào
những năm 1980, mạng lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục,
vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng.
Ngoài ra, phục hồi rừng nghèo trên núi đá vôi như: Viện khoa học Quảng
Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là nghiên
cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi: Toona sinensis,
Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis,…trong
thời kỳ 1985 -1998 [16]. Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều

trùng, 547 loài Cá nước ngọt, 2038 loài Cá biển và 9300 loài Động vật không
xương sống [9], [57].
Tuy nhiên, Việt Nam cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã
và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh. Nguyên nhân của sự mất
mát ĐDSH được xác định bao gồm hai yếu tố chính là do thiên tai và do tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp của con người [59], [80], [92]. Vì vậy, Việt Nam đã có
nhiều nỗ lực trong công tác nghiên cứu và quản lý bảo tồn ĐDSH, trong đó phải
kể đến các vấn đề quan trọng sau đây:


16

a. Sơ lược về tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Việt Nam
Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản
để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật (LCKT) cho các KBT. Phần
lớn LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn, các Viện nghiên cứu,
các trường đại học như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam, Trường đại học Lâm nghiệp…[6],[7]. Ngoài các nghiên cứu
liên quan đến LCKT còn phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quan
nghiên cứu, Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia- Đại học QG Hà Nội, các tổ
chức trong và ngoài nước. Các số liệu trong nghiên cứu này rất quan trọng và có
giá trị, được các VQG và KBT sử dụng để biết được sự đa dạng sinh vật mà
mình đang quản lý.
Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu ĐDSH là kết quả điều tra về tài nguyên
thực vật và động vật ở một số VQG và Khu BTTN và một số sinh cảnh khác
ngoài Khu BTTN nhờ sự phối hợp giữa các nhà khoa học của các cơ quan nghiên
cứu ở Trung ương, địa phương và ban quản lý các VQG, Khu BTTN [7], [58].
Trong những thập kỷ của những năm đầu cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về
ĐDSH phục vụ cho việc xây dựng các luận chứng KTKT để xây dựng hệ thống các
khu rừng đặc dụng của Việt Nam. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên số liệu chưa

Trong giai đoạn 2005-2010, các quy hoạch, kế hoạch hành động quốc gia
về bảo tồn ĐDSH đã được ban hành và tổ chức thực hiện như quy hoạch hệ thống
khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn
biển Việt Nam đến năm 2020 [20]. Đặc biệt là kế hoạch hành động Quốc gia về


18

ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007 [13].
Bên cạnh đó, các ngành các cấp tiếp tục triển khai Chiến lược, Kế hoạch, chương
trình khác có liên quan đến bảo tồn ĐDSH được phê duyệt trước năm 2005 như
Chương trình nâng cao nhận thức bảo tồn ĐDSH đến năm 2010, Kế hoạch hành
động Quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã đến
năm 2010, Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến
năm 2010 [10], Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –
2020” [20], Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020” [21].
Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo
vệ ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập.
Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn
bản quy phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này.
Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó,
Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: (1)- Bảo tồn ĐDSH; (2)- Sử dụng bền vững
tài nguyên; (3)- Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng
tài nguyên gen [7].
c. Các biện pháp bảo tồn ĐDSH
 Thành lập hệ thống khu bảo tồn
Việc hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong những
biện pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn
ĐDSH [13]. Năm 2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thay

tồn, vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thay
đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiến
trình này rất cần sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài
nước có liên quan [5].
d. Xây dựng và quản lý vùng đệm
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam mỗi khi xây dựng một khu
bảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợi
riêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc
gia và các thế hệ mai sau [24], [44], [59], [66]. Phần lớn các VQG và KBT đã và
đang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức
ép hết sức nặng nề. Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các
khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó,
cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN. Tuy nhiên, công
cuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng
thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết
của họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn
thiên nhiên mà cộng đồng đã đúc rút từ nhiều đời nay.
Từ năm 1987, Chính phủ đã áp dụng biện pháp di chuyển một số dân ra
khỏi khu bảo tồn và đã thực hiện ở VQG Cúc Phương. Số dân chuyển ra được
định cư ngoài khu bảo tồn tạo thành vùng đệm và được cung cấp các điều kiện để
làm ăn ổn định. Chương trình này đã đạt được những kết quả tích cực trong việc
di chuyển dân ra ngoài, một số KBT và VQG cũng đã triển khai dự án tương tự và


21

đạt được những kết quả khả quan như: VQG Cát Tiên, VQG Ba Bể, VQG Bạch
Mã,… Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp và gặp phải những khó khăn thách
thức lớn, cần phải suy nghĩ cân nhắc chu đáo để làm sao công tác bảo tồn ĐDSH
không đối lập với cộng đồng bản địa. Hiện nay, nhiều khu bảo tồn, VQG trong

trình 327, 135, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình trồng
mới 5 triệu hecta rừng. Các chương trình này đều nhằm góp phần cải thiện, nâng
cao mức sống cho đồng bào dân tộc miền núi, qua đó huy động được sự tham gia
của cộng đồng địa phương vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) [49] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh
vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng
đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật... trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Cạn. Hoàng Kim Ngũ đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ
thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên. Từ năm 1999 đã tiến hành
gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao
Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, do còn đang trong
thời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành
công của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc.
Khi nghiên cứu hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Thanh
Nhàn [50] đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật trên núi đá vôi:
Quản lý bảo vệ rừng, quản lý vùng đệm, nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu lực
thi hành pháp luật.


23

Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1965) cùng với Viện sinh thái tài nguyên
sinh vật và Viện Dược liệu [77] đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạng sinh
vật, công tác quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao
Bằng và một số địa phương khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy HST núi đá vôi
có tính chống chịu cao, các sinh vật sống trên núi đá vôi có khả năng thích nghi
chống chịu với các điều kiện bất lợi.
Nguyễn Vạn Thường và đội Lâm học - Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Bộ
môn Lâm nghiệp) (1967 – 1968) [68], thực hiện điều tra chuyên đề rừng núi đá
vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Cao Bằng,

địa phương. Nghiên cứu tổng quan về hiện trạng tài nguyên thiên nhiên và đa
dạng sinh học của dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương (bao gồm Khu BTTN
Pù Luông, Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và VQG Cúc Phương). Kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng việc thiếu thông tin và số liệu ở Khu BTTN Ngọc Sơn
- Ngổ Luông dẫn tới hiệu quả trong công tác quản lý bảo tồn bị hạn chế. Tuy
nhiên, kết quả của đợt điều tra cũng đã chỉ ra rằng dải núi đá vôi phía Tây Nam
tỉnh Hòa Bình có một khu hệ thực vật khá phong phú và đa dạng với 667 loài
thực vật bậc cao có mạch và 455 loài động vật có xương sống [46], [70], [71].
Năm 2006, Hoàng Văn Chuyên [19] đã nghiên cứu ĐDSH tại Khu Bảo
tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa trong đó có các xã giáp ranh giữa
Khu BTTN Ngọc Sơn và Pù Luông và đã đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status