Ebook định tội danh lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ CẢM & TRỊNH QUỐC TOẢN

ĐỊNH TỘI DANH:
Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành

HÀ NỘI – 2004

Cuốn sách là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên trong khoa học luật
hình sự Việt Nam, mà trong đó trên cơ sở các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện
hành đã giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn sau đây về định tội danh (ĐTD): 1) ý
nghĩa khoa học và thực tiễn của việc ĐTD; 2) Khái niệm, các đặc điểm cơ bản, các dạng và các
giai đoạn ĐTD; 3) Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc ĐTD (đặc biệt đề cập
sâu đến việc làm sáng tỏ lý luận về cấu thành tội phạm với tính chất là căn cứ khoa học của
việc ĐTD); 4) ĐTD đối với tội phạm hoàn thành; 5) ĐTD đối với tội phạm chưa hoàn thành;


6) ĐTD đối với tội phạm được thực hiện có đồng phạm; 7) ĐTD đối với bốn trường hợp nhiều
(đa) tội phạm - phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và tái
phạm; 8) Hướng dẫn phương pháp ĐTD kèm theo các lời giải cho một số bài tập với tính chất
là những đáp án mẫu và; 9) Xây dựng các tình huống xảy ra trong thực tiễn dưới dạng hệ thống
350 bài tập thực hành về ĐTD. Ngoài ra, trong cuốn sách này bạn đọc còn có thể tìm thấy nội
dung của các văn bản cần được nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa án nhân
dân tối cao hoặc (và) các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương ban hành mà ở các mức độ
khác nhau có liên quan đến việc ĐTD.
Dành cho các nhà khoa học-luật gia, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo Đại học và Sau đại học Luật, đồng
thời cho các cán bộ nghiên cứu và cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan Điều tra,
Viện kiểm sát và Tòa án, cũng như cho tất cả ai quan tâm đến những vấn để lý luận và thực

trong thực tế khách quan của đời sống xã hội thì lại rất rất phong phú và đa dạng, nên không
phải lúc nào nhà làm luật nước ta cũng có thể lường trước được tất cả mọi tình huống có thể
xảy ra.
• Và cuối cùng, bốn là, chính vì vậy, những vấn đề lý luận về ĐTD và thực tiễn áp dụng
các quy phạm PLHS có liên quan đến việc ĐTD luôn được các nhà khoa học-luật gia, cán bộ
nghiên cứu và cán bộ thực tiễn của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, cũng như
các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các
cơ sở đào tạo Đại học và Sau đại học Luật coi là những vấn đề đa dạng và phong phú, phức
tạp và đang được tranh luận với nhiều quan điểm, ý kiến rất khác nhau.
Trước tình hình đó, để góp phần vào việc thực hiện hướng nghiên cứu cơ bản và nhiệm vụ
quan trọng đã nêu của khoa học luật hình sự Việt Nam, đồng thời hỗ trợ cho việc đảm bảo sự
nhận thức thống nhất của các đối tượng nói trên về những vấn đề lý luận và thực tiễn xung
quanh việc ĐTD, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) cho xuất bản
cuốn sách chuyên khảo Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành.
với tính chất là công trình khoa học của Khoa do của hai giảng viên chính thuộc Bộ môn Tư
pháp hình sự, Chủ nhiệm Khoa - TSKH. Lê Cảm và Giám đốc Trung tâm Luật so sánh - ThS.,
Luật sư Trịnh Quốc Toản biên soạn.
Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu không chỉ của các cán
bộ giảng dạy, các cán bộ nghiên cứu khoa học, cũng như nhu cầu học tập của các nghiên cứu
sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo
3


Đại học và Sau đại học Luật, mà nó còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho
các cán bộ nghiên cứu và cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan Điều tra, Viện kiểm
sát và Tòa án trong quá trình áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về ĐTD. Lẽ dĩ nhiên,
những vấn đề về ĐTD bao giờ cũng là những vấn đề đa dạng và phức tạp, đồng thòi vẫn còn
đang được tiếp tục nghiên cứu, tranh luận và còn có nhiều quan điểm khác nhau trong khoa
học, cũng như trong thực tiễn tư pháp hình sự, mặt khác vì là một công trình khoa học của tập
thể tác giả nên có thể cuốn sách “Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập

pháp luật PLHS trừu tượng vào đời sống thực tế, nhưng do chưa trải qua hoạt động thực tiễn
(điều tra, truy tố hoặc xét xử) trong lĩnh vực tư pháp hình sự nên những luận điểm khoa học
phòng giấy thường rất ít khi được thực tiễn chấp nhận. Chẳng hạn, cho đến nay khoa học luật
hình sự Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo nào mà trong đó cùng một lúc
giải quyết không chỉ những vấn đề lý luận về ĐTD, mà còn đề cập đến cả những vấn đề thực
tiễn về ĐTD như: hướng dẫn ĐTD kèm theo các lời giải với tính chất là các đáp án mẫu cho
các trường hợp cụ thể và xây dựng các tình huống thường gặp trong thực tiễn dưới dạng hệ
thống hàng trăm bài tập thực hành.
Như vậy, từ những điều đã được phân tích trên đây đã cho phép khẳng định sự cần thiết
của việc soạn thảo một công trình nghiên cứu chuyên khảo mà trong đó cần phải giải quyết cả
những vấn đề lý luận về ĐTD, cả những vấn đề thực tiễn về ĐTD như: hướng dẫn việc ĐTD
kèm theo các lời giải với tính chất là các đáp án mẫu cho một số trường hợp cụ thể và xây
dựng các tình huống thường gặp trong thực tiễn dưới dạng hệ thống hàng trăm bài tập thực
hành. Đồng thời, tính cấp thiết của việc soạn thảo công trình chuyên khảo này trong khoa học
luật hình sự Việt Nam cũng chính là luận chứng cho sự lựa chọn đề tài nghiên cứu của chúng
tôi trong cuốn sách dưới tên gọi “Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập
thực hành”.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi của công trình nghiên cứu. Mục đích của công trình
nghiên cứu này là phân tích khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
5


ĐTD. Để phục vụ cho mục đích này các tác giả đặt ra cho mình nhiệm vụ là phải nghiên cứu
để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn sau đây về ĐTD:
1) ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc ĐTD;
2) Khái niệm, các đặc điểm cơ bản, các dạng và các giai đoạn ĐTD;
3) Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc ĐTD (đặc biệt đề cập sâu đến
việc làm sáng tỏ lý luận về cấu thành tội phạm với tính chất là căn cứ khoa học của việc ĐTD);
4) ĐTD đối với tội phạm hoàn thành;
5) ĐTD đối với tội phạm chưa hoàn thành;

tổng hợp, so sánh, xã hội học cụ thể, thống kê hình sự, v.v...
6


4. Cái mới về mặt khoa học và ý nghĩa lý luận của công trình nghiên cứu này là ở chổ –
đây là cuốn sách chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam đề cập riêng
đến đề tài đã được lựa chọn, mà trong đó lần đầu tiên bằng việc phân tích khoa học đã giải
quyết một cách đồng bộ, có hệ thống và toàn diện cùng một lúc 09 vấn đề sau đây về ĐTD:
1) ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc ĐTD;
2) Khái niệm, các đặc điểm cơ bản, các dạng và các giai đoạn ĐTD;
3) Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc ĐTD (đặc biệt đề cập sâu đến
việc làm sáng tỏ lý luận về cấu thành tội phạm với tính chất là căn cứ khoa học của việc ĐTD);
4) ĐTD đối với tội phạm hoàn thành;
5) ĐTD đối với tội phạm chưa hoàn thành;
6) ĐTD đối với tội phạm được thực hiện có đồng phạm;
7) ĐTD đối với bốn trường hợp nhiều (đa) tội phạm – phạm tội nhiều lần, phạm nhiều
tội, tái phạm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
8) Hướng dẫn phương pháp ĐTD kèm theo các lời giải cho một số bài tập với tính chất
là những đáp án mẫu và;
9) Xây dựng các tình huống xảy ra trong thực tiễn dưới dạng hệ thống 350 bài tập thực
hành về ĐTD.
5. ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu này là ở chổ – nó có thể được sử dụng làm
sách nghiên cứu không chỉ cho các nhà khoa học-luật gia, cũng như phục vụ cho nhu cầu học
tập của các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình
sự tại các cơ sở đào tạo Đại học và Sau đại học Luật. Ngoài ra, nó còn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các cán bộ nghiên cứu và cán bộ thực tiễn đang công tác tại
các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án nhân dân khi áp dụng các quy phạm PLHS liên quan
đến việc ĐTD.
6. Bố cục của công trình nghiên cứu . Chân lý của vấn đề đã từ lâu được thừa nhận chung, đồng
thời được minh chứng một cách khách quan xác đáng và có căn cứ là khoa học phải phục vụ


PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH
I. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH
1. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) Việt Nam hiện nay, cùng với
việc nghiên cứu các quy định mới của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 hiện hành được
8


thông qua trong lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sự nước ta, thì việc nghiên cứu chuyên
khảo những vấn đề lý luận cơ bản về định tội danh (ĐTD) có ý nghĩa quan trọng không những
về mặt khoa học, mà cả về mặt thực tiễn trên trên các bình diện chủ yếu dưới đây.
1.1. Cụ thể hóa các qui phạm pháp luật hình sự (PLHS) trừu tượng vào đời sống thực tế,
việc ĐTD đúng sẽ là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) và cá thể hóa hình
phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời để áp dụng chính xác các
quy phạm và các chế định cơ bản được ghi nhận trong BLHS năm 1999 như: các tình tiết loại
trừ tính chất tội phạm của hành vi, hình phạt, tái phạm, quyết định hình phạt trong một loạt
những trường hợp khác nhau (tội phạm có đồng phạm, nhiều tội phạm, án treo, thời hiệu,
v.v...).
1.2. ĐTD đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa
nhận chung của luật hình sự quốc tế và luật hình sự trong NNPQ (như: pháp chế, trách nhiệm
do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước luật hình sự, không tránh khỏi trách nhiệm, công
minh và nhân đạo).
1.3. ĐTD đúng còn là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các qui phạm pháp
luật tố tụng hình sự (PLTTHS) về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm
quyền điều tra, thẩm quyền xét xử, v.v... và bằng cách đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ
các quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
1.4. Ngược lại, ĐTD sai sẽ dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được
tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt do Tòa án quyết định, truy cứu
TNHS người vô tội, bỏ lọt kẻ phạm tội, thậm chí xâm phạm thô bạo danh dự và nhân phẩm,

thì trong lý luận và trong thực tiễn, khái niệm ĐTD được hiểu theo hai nghĩa: a) ĐTD là một
quá trình lôgic nhất định, là hoạt động của người này hay người khác trong việc xác định phù
hợp (sự đồng nhất) của một trường hợp đang được xem xét cụ thể với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm được chỉ ra trong qui phạm Phần riêng BLHS; b) ĐTD là sự đánh giá về mặt
pháp luật nhất định một hành vi nguy hiểm cho xã hội5.
3) Gần đây nhất, tác giả Gaukhman L.Đ ở Viện nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ LB
Nga quan niệm: ĐTD là một phạm trù chủ quan và là sự phản ánh trong nhận thức của người
đưa ra sự đánh giá dưới góc độ pháp lý một hành vi, tức là của chủ thể ĐTD: a) một là, các dấu
hiệu của hành vi được thực hiện; b) hai là, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) do luật
hình sự quy định và; c) ba là, so sánh nhóm dấu hiệu thứ nhất và thứ hai6.
4) Còn nhà khoa học-luật gia TTHS, giáo sư Sliapôchnhikôv A.C. thì cho rằng: ĐTD là
một giai đoạn của hoạt động bảo vệ pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử thực
hiện trên cơ sở các qui phạm pháp luật TTHS và, dựa vào các tình tiết thể hiện sự nguy hiểm
cho xã hội của một hành vi cụ thể để xác định dấu hiệu của CTTP tương ứng với hành vi đó7 .
1.2. Tổng hợp tất cả các quan điểm trên đây, đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng
các quy phạm PLHS và PLTTHS liên quan đến việc ĐTD ở Việt Nam, theo ý kiến chúng tôi,
có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm ĐTD như sau: Định tội danh là một quá
trình nhận thức lý luận có tính lôgic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động
4

Kuđriavtxev V.N. Lý luận chung về định tội danh. NXB Sách pháp lý. Maxcơva, 1972, tr. 8
(tiếng Nga).

5

Xem: Kuđrinôv B.A. Những cơ sở khoa học của định tội danh. NXB Trường ĐHTH quốc gia gia
Maxcơva, 1984, tr.7 (tiếng Nga).
6
Xem: Gaukhman L.Đ. Định tội danh: pháp luật, lý luận, thực tiễn. Trung tâm Thông tin pháp lý xuất
bản. Maxcơva, 2001, tr.17 (tiếng Nga).

được qui định trong PLHS thực định hay không (?).
2.3. Chính vì thế, việc thiết lập các dấu hiệu đặc trưng cơ bản và điển hình để xác định
bản chất pháp lý của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan là
một vấn đề rất quan trọng của quá trình ĐTD, mà toàn bộ quá trình này phải tuân thủ nghiêm
chỉnh các qui phạm của luật nội dung (vật chất) được qui định trong BLHS, cũng như của luật
hình thức được qui định trong Bộ luật TTHS.
2.4. ĐTD với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS được tiến
hành về cơ bản theo bốn bước cụ thể là:
1) Xem xét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù hợp với hiện
thực khách quan;
2) Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các qui phạm PLHS đang có
hiệu lực thi hành;
3) Lựa chọn đúng Điều (các điều) tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS qui định
TNHS đối với tội phạm cụ thể để so sánh, đối chiếu và kiểm tra các dấu hiệu của CTTP đó với
các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện và, cuối cùng;
11


4) Sau khi đã so sánh, đối chiếu và kiểm tra đầy đủ và chính xác xong, thì ra một văn
bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự
phù hợp (tương đồng) của hành vi thực tế đã được thực hiện với CTTP cụ thể tương ứng được
qui định trong luật hình sự.
§3. Các dạng định tội danh
Căn cứ vào các chủ thể tương ứng thực hiện việc ĐTD, khoa học luật hình sự phân chia
ĐTD làm hai dạng: 1) ĐTD chính thức và 2) ĐTD không chính thức.
3.1. ĐTD chính thức là sự đánh giá về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của
một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện và nó có các
dấu hiệu (đặc điểm) chính là:
1) Các chủ thể của dạng ĐTD này nhất thiết phải là những người có thẩm quyền trực
tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự cụ thể – Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán,

Trong giai đoạn thông thường sẽ có ba khả năng như sau xảy ra:
1) Không được khởi tố vụ án hình sự khi có 1 trong 7 căn cứ được quy định tại Điều 89 Bộ
luật TTHS năm 1988;
2) Nếu hành vi được thực hiện là vi phạm pháp luật khác, thì tùy theo giai đoạn TTHS tương
ứng mà cơ quan chức năng gửi tin báo hoặc đơn báo hoặc đơn tố giác cho cơ quan nhà nước
(tổ chức xã hội) hữu quan để giải quyết theo thẩm quyền;
3) Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện có các dấu hiệu của tội phạm, thì có
nghĩa là phát sinh quan hệ PLHS và như vậy đ chuyển sang giai đoạn thứ hai.
4.2. Giai đoạn thứ hai – tìm nhóm quy phạm PLHS. Đây là giai đoạn xác định xem tội phạm
mà chủ thể thực hiện thuộc chương tương ứng nào trong Phần các tội phạm BLHS quy định và
nó được thể hiện bằng việc:
1) Xác định xem khách thể loại (nhóm quan xã hội nào) được PLHS bảo vệ đã bị tội phạm
xâm hại đến (?);
2) Người phạm tội, ngoài các dấu hiệu chung chủ thể của tội phạm còn có các dấu hiệu
riêng bổ sung khác của chủ thể đặc biệt (như: người có chức vụ
hoặc quân nhân, v.v...) hay không (?) và sau đó ; đ
3) Chuyển sang giai đoạn thứ ba.
4.3. Giai đoạn thứ ba – tìm qui phạm PLHS cụ thể. Đây là giai đoạn so sánh, đối chiếu và
kiểm tra xem các dấu hiệu của tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện thuộc Chương của
Phần các tội phạm BLHS đã tìm được (ở giai đoạn trên) là do Điều luật cụ thể nào trong Chương ấy qui định (?), tức là phải xác định xem đó là tội phạm gì (?), đồng thời t ương ứng với
CTTP cụ thể nào (CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP đặc biệt tăng nặng hoặc CTTP giảm
nhẹ) và CTTP ấy thuộc khoản nào trong Điều luật cụ thể đã tìm được (?).
III. NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ CĂN CỨ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH
§1. Những căn cứ pháp lý của việc định tội danh
1.1. Khái niệm những căn cứ pháp lý của việc ĐTD. Theo quan điểm của chúng tôi:
dưới góc độ khoa học luật hình sự những căn cứ pháp lý của việc ĐTD có thể được hiểu trên
hai bình diện (hoặc theo hai nghĩa) rộng và hẹp dưới đây.
1) Trên bình diện rộng (hiểu theo nghĩa cả về nội dung và hình thức), thì những căn cứ
pháp lý của việc ĐTD là hệ thống các qui phạm PLHS với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất
(trực tiếp), cũng như hệ thống các qui phạm PLTTHS với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ

với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất của việc ĐTD chứa đựng những mẫu (mô hình) pháp lý
của các tội phạm, mà dựa vào đó những người có thẩm quyền tiến hành việc ĐTD xác định sự
phù hợp của các dấu hiệu của những hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể tương ứng được thực
hiện.
5) BLHS bao gồm hệ thống các nhóm qui phạm pháp luật được nhà làm luật sắp xếp thành
hai Phần – Phần chung và Phần các tội phạm, – mà những người có thẩm quyền tiến hành việc
ĐTD đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan phải đồng
thời dựa vào cả hai nhóm qui phạm PLHS này bởi các lý do như sau:
14


a) Hai nhóm vi phạm PLHS này có mối liên quan chặt chẽ, thống nhất và hữu cơ với
nhau trong quá trình ĐTD – xác định CTTP tương ứng được luật quy định để làm căn cứ pháp
lý cho việc giải quyết vấn đề TNHS của người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội cụ thể. Chẳng hạn, khi tìm các quy phạm PLHS để ĐTD đối với những hành vi
nguy hiểm cho xã hội như bạo loạn và hoạt động phỉ, thì không thể áp dụng các điều 82-83 tại
Phần các tội phạm BLHS năm 1999 (quy định hai tội phạm tương ứng với những hành vi
này), mà còn phải áp dụng Điều 20 tại Phần chung BLHS đó (đề cập đến chế định đồng phạm)
để xác định mức độ TNHS khác nhau của các loại người đồng phạm cùng tham gia vào việc
thực hiện tội phạm cụ thể tương ứng.
b) Trong quá trình ĐTD nếu các quy phạm PLHS tại Phần các tội phạm quy định TNHS
đối với tội phạm tương ứng giúp cho chúng ta xác định sự giống nhau của các dấu hiệu của
một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện, thì các quy phạm PLHS tại Phần
chung về lỗi, các giai đoạn thực hiện tội
phạm, đồng phạm, v.v... giúp cho chúng ta nhận biết được một cách nhanh chóng và chính xác
các dấu hiệu của CTTP cụ thể (CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP đặc biệt tăng nặng hay
CTTP giảm nhẹ) của tội phạm tương ứng đó.
6) Đối với các quy phạm PLHS, thì về cơ bản phần giả định được đề cập trong Phần
chung BLHS, còn phần quy định và phần chế tài – trong Phần các tội phạm. Tuy nhiên, trong
BLHS Việt Nam năm 1999 việc mô tả các dấu hiệu của CTTP trong phần quy định của qui

Nam hiện nay. Chẳng hạn, Tòa án cấp phúc thẩm hoặc cấp giám đốc thẩm sau khi đã nghiên
cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ mọi chứng cứ thu thập được trong vụ
án hình sự cụ thể nhận thấy rằng: tội danh mà bị cáo bị Tòa án cấp dới xét xử là không có căn
cứ – các dấu hiệu của hành vi phạm tội tương ứng với các dấu hiệu của CTTP cơ bản mà
trong bản án của Tòa án cấp dưới lại định tội theo các dấu hiệu của CTTP tăng nặng, thì theo
các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 (các khoản 1 và 2 Điều 221, Điều 257) Toà án hai
cấp này có quyền sửa lại bản án đã tuyên của Tòa án cấp dưới để áp dụng điều khoản BLHS về
tội danh nhẹ hơn, tức là tiến hành việc định lại tội danh.
2) Ngoài ra, trong Bộ luật TTHS năm 1988 các quy định về chứng cứ (các điều 47, 48, 50,
56, 60), tạm giam (Điều 70), thời hạn tạm giam (Điều 71), ''chỉ được khởi tố vụ án hình sự đã
xác định có dấu hiệu của tội phạm'' trên cơ sở một trong năm căn cứ do luật định (Điều 83)
không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong bảy căn cứ do luật định (Điều 89), v.v...
cũng là các cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) quan trọng của việc ĐTD.
§2. Cấu thành tội phạm – căn cứ khoa học của việc định tội danh
2.1. Khái niệm CTTP. Xuất hiện từ thế kỷ thứ XVI đầu tiên là ở các Tòa án của nước
Đức thời kỳ phong kiến, sau đó vào các thế kỷ XVIII-XIX được soạn thảo về mặt lý luận trong
trường phái cổ điển của khoa học luật hình sự, khái niệm CTTP (theo tiếng Latinh cổ là
“corpus delicti”) đã đóng vai trò tố tụng như là căn cứ đầy đủ cho việc xét xử vụ án hình sự tại
Tòa án để chứng minh sự hiện diện trong các hành vi của phạm nhân một CTTP(6). Dần dần lý
luận về CTTP được phát triển trong khoa học luật hình sự Nga trước Cách mạng vào cuối thế
kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, mà đặc biệt là CTTP đã được nghiên cứu rộng rãi và phát triển nhất
trong khoa học luật hình sự Xôviết từ những năm 50 của thế kỷ XX và tiếp tục cho đến tận
ngày nay. Tuy nhiên, hiện tại trong khoa học luật hình sự khái niệm CTTP vẫn còn được hiểu
theo nhiều nghĩa khác nhau. Chẳng hạn như:
16


1) Nhà hình sự học Nga nổi tiếng trước Cách mạng tháng Mười, giáo sư Trường ĐHTH
Maxcơva mang tên Lômônôxôv. M.V., Viện sĩ Taganxev N.X. phân biệt trong CTTP ba nhóm:
a) con người thực tế – kẻ phạm tội, b) cái hành vi của bị cáo hướng tới – khách thể hoặc là đối

do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức
là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Nói cách
khác, một CTTP cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc, mà bằng
các dấu hiệu đó, nhà làm luật quy định tại quy phạm của Phần các tội phạm BLHS tính chất
17


tội phạm và tính chất bị xử phạt (hay còn gọi là tính chất bị xử lý về hình sự) của hành vi nguy
hiểm cho xã hội tương ứng bị luật hình sự cấm, đồng thời chỉ ra loại hình phạt nào và trong
giới hạn nào nó có thể được Toà án áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
ấy.
2.2. Việc nghiên cứu những vấn đề về CTTP, chính vì thế, có ý nghĩa pháp lý hình sự rất
quan trọng đối với quá trình ĐTD, vì ĐTD chính xác tức là xác định đúng sự phù hợp giữa các
dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất định nào đó được thực hiện với các dấu
hiệu của CTTP tương ứng – các dấu hiệu được quy định tại một quy phạm PLHS cụ thể của
Phần các tội phạm BLHS. Như vậy, trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay để có
đầy đủ căn cứ xác đáng và đảm bảo sức thuyết phụ trong việc khẳng định cho luận điểm đúng
đắn rằng: CTTP là cơ sở khoa học của việc ĐTD, dưới đây chúng ta cần phải nghiên cứu để
đảm bảo sự nhận thức thống nhất về bản chất và chỉ ra được nội hàm của một loạt những vấn
đề trong lý luận về CTTP như: các đặc điểm (1), vai trò (2), yếu tố (3), dấu hiệu (4) và chức
năng của CTTP (5), cũng như phân loại các CTTP (6).
2.3. Các đặc điểm của CTTP. Từ khái niệm CTTP đã được đưa ra trên đây cho thấy, bất kỳ
CTTP cũng phải có các đặc điểm cần và đủ như sau:
1) Trước hết, CTTP là một hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính
chất bắt buộc;
2) Các dấu hiệu pháp lý này của CTTP nhất thiết phải được quy định trong PLHS thực
định;
3) Chỉ có trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý này của CTTP, thì mới có căn
cứ để khẳng định một hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó bị luật hình sự cấm và đã được
thực hiện trong thực tế chính là một tội phạm;

2.6. Yếu tố của CTTP có thể được định nghĩa là bộ phận hợp thành của cấu trúc trong cấu
thành ấy và bao gồm một nhóm các dấu hiệu tương ứng với các phương diện (các mặt) của
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm (tức là hành vi bị nhà làm luật coi là tội
phạm). Quan điểm truyền thống được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự là: CTTP
có bốn yếu tố – khách thể (1), mặt khách quan (2), chủ thể (3) và mặt chủ quan (4) của tội
phạm. Để nhận thấy rõ bản chất của mỗi yếu tố CTTP, dưới đây chúng ta cần phải đưa ra định
nghĩa khoa học về khái niệm của từng yếu tố như sau:
1) Khách thể của tội phạm – đó là quan hệ xã hội được PLHS bảo vệ tránh khỏi sự xâm
hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên)
thiệt hại đáng kể nhất định.
2) Mặt khách quan của tội phạm – đó là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng
kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính
chất tội phạm trong thực tế khách quan.
3) Chủ thể của tội phạm – đó là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo
luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể còn là có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt
do quy phạm PLHS tương ứng quy định).
4) Mặt chủ quan của tội phạm – đó là mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể
cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng PLHS lỗi, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được
thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị do mình thực
hiện và đối với hậu quả của hành vi đó (lỗi).
2.7. Dấu hiệu của CTTP có thể được định nghĩa là đặc điểm chung về mặt lập pháp cụ thể
của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc trưng cho tội phạm đó. Nghiên cứu các
quy định trong Phần riêng BLHS có thể nhận thấy rằng, các dấu hiệu của CTTP có thể được
phân chia thành hai nhóm: 1) Nhóm các dấu hiệu bắt buộc (DHBB) – là các dấu hiệu chung,
đặc trưng cho tất cả các CTTP cụ thể và; 2) Các dấu hiệu tùy nghi (DHTNg) hay còn gọi là
19


các dấu hiệu không bắt buộc – là các dấu hiệu riêng, đặc trưng không phải cho tất cả, mà chỉ

quy phạm Phần riêng BLHS các dấu hiệu của CTTP sẽ đảm bảo cho sự phân biệt đúng tội
phạm này với tội phạm kia, cũng như khung hình phạt này với khung hình phạt kia và, từ đó

Xem: Tkeseliađze G.T. Thực tiễn xét xử và đạo luật hình sự. NXB Khoa học. Tbilisi, 1975,
tr.
46 (tiếng Nga).
8

20


sẽ giúp cho Tòa án lựa chọn các biện pháp pháp lý hình sự phù hợp với người phạm tội và cuối
cùng;
3) Và cuối cùng, chức năng đảm bảo – nếu trong hành vi của một người không có đủ tất
các các dấu hiệu của một CTTP tương ứng do luật hình sự quy định, thì người đó không phải
chịu TNHS và hình phạt.
2.9. Phân loại các CTTP có thể được hiểu là việc chia các CTTP thành những dạng khác
nhau dựa trên các tiêu chí nhất định nhằm đảm bảo cho việc ĐTD và quyết định hình phạt
được chính xác, cũng như hỗ trợ cho việc các thể hóa TNHS và phạt được công minh, có căn
cứ và đúng pháp luật. Về cơ bản, trên cơ sở lý luận về CTTP và nghiên cứu thực tiễn áp dụng
các quy phạm PLHS liên quan đến việc ĐTD, theo quan điểm của chúng tôi có thể căn cứ vào
bốn tiêu chí cơ bản dưới đây để phân loại các CTTP thành các dạng như sau:
1) Căn cứ vào tính chất và mức độ của sự nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm có thể
phân chia các CTTP thành ba (bốn) loại sau: a) CTTP cơ bản –là cấu thành có các dấu hiệu
đặc trưng và bắt buộc chỉ của một tội phạm tương ứng mà sự phân biệt tội phạm đó với tội
phạm khác được dựa trên các dấu hiệu ấy (các dấu hiệu định tội); b) CTTP giảm nhẹ – là cấu
thành mà ngoài các dấu hiệu của CTTP cơ bản ra, còn có các dấu hiệu khác phản ánh tính chất
và mức độ nguy hiểm
cho xã hội thấp (không đáng kể) của tội phạm nên có ý nghĩa làm giảm đi đáng kể mức độ
TNHS của chủ thể; c) CTTP tăng nặng (đặc biệt tăng nặng) - là cấu thành mà ngoài các dấu

chung của luật hình sự - lập pháp, lý luận (hay còn gọi là khoa học) và thực tiễn xét xử dưới
đây.
1) Về mặt lập pháp, nếu quan niệm CTTP là ‘‘cơ sở pháp lý duy nhất" của việc ĐTD, thì
có nghĩa vô hình dung đã thừa nhận rằng: không phải BLHS - sản phẩm của nhà làm luật,
“một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”
(như Lời nói đầu của BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành), mà lại chính là CTTP - một khái
niệm khoa học và là sự trừu tượng về mặt pháp lý - được dùng làm “cơ sở pháp lý duy nhất”
trong quá trình ĐTD đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện trong
thực tế khách quan (!). Có lẽ nhà làm luật Việt Nam cùng với các cán bộ thực tiễn trong hoạt
động lập pháp và áp dụng PLHS của nước ta (kể cả trước và sau khi pháp điển hóa) khó mà có
thể đồng ý với quan niệm này.
2) Về mặt lý luận, CTTP do các nhà lý luận hình sự soạn thảo và nghĩ ra như là một khái
niệm khoa học và là sự trừu tượng về mặt pháp lý (chứ hoàn toàn không phải là các quy định
của BLHS do nhà làm luật ban hành để các cơ quan tư pháp hình sự lấy làm cơ sở pháp lý duy
nhất trong quá trình ĐTD). Vì vậy, đương nhiên là một khái niệm khoa học với các phạm trù
lý luận chung nhất cho tất cả các tội phạm (như: khách thể, mặt khách quan, v.v...) chứ không
phải là các quy phạm PLHS, thì không phải và không thể là “căn cứ pháp lý duy nhất” cho
việc ĐTD đối với một hành vi cụ thể nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan.
3) Và cuối cùng, về mặt thực tiễn (xét xử), từ trước đến nay (kể cả trong thời kỳ sau khi
lặp lại hòa bình ở Miền Bắc cho đến trước những năm 1960-1963 khi các chuyên gia luật hình
sự của Liên Xô cũ chưa sang nước ta giảng bài ở Trường cán bộ Tòa án Trung ương thuộc Tòa
án nhân dân tối cao theo lời mời của Chính phủ ta và phổ biến lý luận về CTTP ở Việt Nam),
thì mặc dù lý luận về CTTP chưa xuất hiện trong sách báo pháp lý hình sự nước ta, nhưng đã
(và hiện nay đang) tồn tại một thực tế khách quan - mỗi khi ĐTD các cơ sự quan tư pháp hình
sự đều không bao giờ coi CTTP (một khái niệm khoa học và là trừu tượng về mặt pháp lý) là
cơ sở pháp lý duy nhất, mà chỉ dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định như đã được phân
tích trên đây, mà cụ thể là: các quy phạm PLHS với tính chất là cơ sở pháp lý trực tiếp và, các
quy phạm PLTTHS - cơ sở pháp lý gián tiếp. Và đây cũng chính là một sự thật khách quan mà
không ai có thể phủ nhận được.
2.11. Như vậy, xuất phát từ tất cả sự phân tích trên đây chúng ta có đầy đủ những căn cứ

vấn đề cần phải được nghiên cứu trước khi tìm hiểu khái niệm ĐTD đối với TPHT. Căn cứ vào
khái niệm TPHT, đồng thời trên cơ sở lý luận về CTTP và xuất phát từ việc nghiên cứu thực
tiễn áp dụng PLHS cho thấy, nguyên tắc chung của việc xác định TNHS đối với TPHT là:
1) Nếu căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án mà không có cơ sở để áp dụng đối với
người phạm tội một (hay nhiều) tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc chế định nhân đạo nào đó
trong Phần chung BLHS, thì về cơ bản TNHS của người đó được xác định theo điều tương ứng
trong Phần các tội phạm BLHS quy định chế tài cụ thể đối với TPHT đã được thực hiện mà
không cần viện dẫn Điều (các điều) luật quy định về một (hay nhiều) tình tiết hoặc chế định
ấy.
2) Nếu căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án mà có đầy đủ cơ sở để áp dụng đối với
người phạm tội một (hay nhiều) tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc chế định nhân đạo nào đó
trong Phần chung BLHS, thì về cơ bản TNHS của người đó được xác định theo điều tương
ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định chế tài cụ thể đối với TPHT đã được thực hiện,
đồng thời viện dẫn Điều (các điều) luật quy định về những tình tiết hoặc chế định ấy.
1.3. Khái niệm ĐTD đối với TPHT. Như vậy, từ định nghĩa khoa học của khái niệm TPHT
và nguyên tắc chung của việc xác định TNHS đối với TPHT, cũng như các đặc điểm cơ bản
của việc ĐTD đã được đề cập trên đây, dưới góc độ khoa học luật hình sự chúng ta có thể đưa
23


ra định nghĩa của khái niệm ĐTD đối với TPHT như sau: ĐTD đối với tội phạm hòn thành là
sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên cơ sở
đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi ấy
với các dấu hiệu của CTTP cụ thể do điều tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy
định.
1.3. Phân tích bản chất pháp lý của khái niệm này chúng ta có thể nhận thấy
rằng, trong quá trình ĐTD đối với một TPHT với bốn bước và ba giai đoạn (đã được xem xét
trên đây) người ĐTD phải thực hiện tốt việc đánh giá về mặt pháp lý hình sự hai nhóm dấu
hiệu (khách quan và chủ quan) của hành vi cụ thể được thực hiện tương ứng với (theo thứ tự)
bốn yếu tố CTTP đó là: 1) khách thể, 2) mặt khách quan, 3) chủ thể và, 4) mặt chủ quan của

người phạm tội.
24


2.3. Như vậy, bằng việc xác định đúng ba dạng khách thể trên đây, người ĐTD sẽ
khẳng định được là hành vi nguy hiểm được thực hiện có phải là tội phạm hay không (?), nếu
là tội phạm thì nó thuộc nhóm (loại) tội phạm nào (?) và là tội phạm cụ thể nào (?) để tìm điều
luật tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS áp dụng đối với người phạm tội.
2.4. Trong ba dạng khách thể đã nêu, thì về cơ bản khách thể trực tiếp là dạng khách
thể cho phép người ĐTD khẳng định đưc rõ hơn cả tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội cụ thể được thực hiện, để có thể từ đó ĐTD được chính xác. ở đây cần phải lưu ý là
cũng có những CTTP tội phạm mà trong đó khách thể của tội phạm thường dễ bị hiểu sai, vì
hành vi phạm tội cùng một lúc xâm hại đến hai khách thể - khách thể loại và khách thể trực
tiếp. Ví dụ 1: 1) “các quyền tự do, dân chủ” của công dân là khách thể loại, còn “chỗ ở, bí bật
hoặc an toàn th tín, điện thoại, điện tín” của công dân - khách thể trực tiếp của tội phạm trong
các CTTP được quy định tại các điều 124-125 BLHS năm 1999; 2) “sở hữu” của Nhà nước
hoặc của công dân là khách thể loại, còn “tài sản” của Nhà nước hoặc của công dân - khách
thể trực tiếp của tội phạm trong tất cả các CTTP được quy định tại Chương XIV BLHS năm
1999 (các điều 133-145); 3) “hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức” là khách thể loại, còn
“tài sản” của Nhà nước hoặc của công dân - khách thể trực tiếp của tội phạm trong tất cả các
CTTP tại các điều 278, 280 BLHS năm 1999.
2.5. Cùng một hành vi phạm tội nhưng có thể xâm hại đến một (hay nhiều)khách thể
trực tiếp và, chính vì vậy, PLHS Việt Nam và thực tiễn việc áp dụng nó cho thấy - hiểu rõ
khách thể trực tiếp bị xâm hại là cơ sở để ĐTD được chính xác khi xem xét và đánh giá một
cách tổng hợp, khách quan, đầy đủ và toàn diện tất cả các tình tiết cụ thể và tính chất của vụ
án trong một số trường hợp sau đây:
1) Cùng một hành vi phạm tội xâm hại đến một khách thể trực tiếp, nhưng được nhà làm
luật tách hành vi đó thành nhiều CTTP độc lập. Ví dụ 2: a) Cùng một hành vi phạm tội gây
thiệt hại cho một khách thể trực tiếp - các quy định về nghĩa vụ quân sự, nhng được nhà làm
luật tách ra để quy định thành bốn CTTP độc lập tại các điều 259-262 BLHS năm 1999; b)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status