LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại khoa Du lịch trường Đại học Công nghiệp Hà
Nội, em đã được các thầy cô trong khoa tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến
thức và kinh nghiệm quý báu để làm hành trang vững chắc đầy tự tin khi bước
vào đời. Và nhờ đó, em mới có cơ hội được thực hiện luận văn tốt nghiệp ra
trường. Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin được gửi tới các thầy cô
trong Khoa Du lịch lời cảm ơn chân thành.
Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp, em xin được bày tỏ lời cảm ơn
chân thành tới ThS. Nguyễn Thị Tuyến là người trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt
em trong suốt thời gian vừa qua bằng tất cả tấm lòng chân tình và tinh thần
trách nhiệm của mình.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Sở VH, TT&DL tỉnh Hà Nam, các
anh chị trong phòng Nghiệp vụ du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
nghiên cứu và cung cấp tài liệu, số liệu cần thiết để hoàn thành tốt luận văn
tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất, song do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Em rất mong
được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để bài khóa luận được hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thfành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Thảo
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................1
MỤC LỤC.........................................................................................................1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.........................................................................1
Nguồn nhân lực phục vụ du lịch..........................................................49
Công tác quảng bá và xúc tiến đầu tư du lịch......................................51
Kết quả của hoạt động du lịch văn hóa...............................................53
Tiểu kết chương 2............................................................................57
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI HUYỆN
DUY TIÊN – HÀ NAM..............................................................................58
Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại huyện Duy Tiên – Hà
Nam.........................................................................................................58
Đẩy mạnh công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa
trong phát triển du lịch văn hóa...........................................................58
Nâng cao hoạt động quản lý du lịch văn hóa......................................59
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt
động du lịch.........................................................................................59
Đẩy mạnh sản xuất và đa dạng hóa nâng cao chất lượng sản phẩm du
lịch.......................................................................................................60
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch.............................................61
Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch.......62
Thu hút vốn đầu tư cho hoạt động du lịch...........................................63
Hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường quản lý Nhà nước về phát
triển du lịch văn hóa............................................................................63
Giải quyết tốt vấn đề môi trường và giáo dục cộng đồng...................64
Định hướng phát triển du lịch văn hóa tại huyện Duy Tiên....................65
Tiểu kết chương 3............................................................................68
KẾT LUẬN.....................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................71
PHỤ LỤC........................................................................................................72
Bảo hiểm y tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6
Hình 2.7
: Danh sách các di tích được xếp hạng của huyện Duy Tiên
: Các lễ hội trong năm của huyện Duy Tiên – Hà Nam
: Những điều mà du khách không hài lòng khi đến Duy Tiên
: Mức độ tham gia hoạt động du lịch của người dân Duy Tiên
: Hoạt động du lịch của người dân địa phương
: Số lượng khách du lịch đến với huyện Duy Tiên qua các năm
: Mục đích của khách du lịch khi đến với huyện Duy Tiên
: Doanh thu từ hoạt động du lịch của huyện Duy Tiên qua các
năm
: Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên năm 2014 - 2015
: Tỷ lệ % những điều khách không hài lòng khi đến Duy Tiên
phát triển nhanh và bền vững.
Đứng trước sự phát triển chung của đất nước, huyện Duy Tiên – một
huyện của tỉnh Hà Nam, nơi có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong trung tâm của
vùng du lịch Bắc Bộ và trên tuyến du lịch xuyên Việt, cửa ngõ phía nam của
thủ đô Hà Nội, là nơi địa linh nhân kiệt và giàu tiềm năng tài nguyên du lịch.
Từ xa xưa, dưới các triều đại phong kiến, huyện đã là nơi có số người đỗ đạt
cao nhất của tỉnh.
Trải qua thời gian và sự tàn phá nặng nề của hai cuộc chiến tranh chống
Pháp và chống Mĩ, cùng với những biến động của xã hội, Duy Tiên vẫn lưu
1
giữ được rất nhiều các di tích lịch sử văn hoá có giá trị và mang chiều sâu lịch
sử văn hoá. Mỗi di tích gắn với một truyền thuyết, nhân vật lịch sử hay một
phong cách kiến trúc của một thời đại. Bên cạnh đó, Duy Tiên còn có nhiều
phong tục tập quán đẹp, các kho tàng văn hoá dân gian đặc sắc và các làng
nghề truyền thống. Với những tiềm năng quý giá đó, Duy Tiên có thể phát
triển du lịch văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng của địa phương, góp
phần phát huy các giá trị văn hóa quê hương.
Tuy nhiên, hoạt động du lịch nhằm khai thác các giá trị văn hoá của Duy
Tiên hiện nay lại chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Hình
ảnh du lịch văn hóa của huyện Duy Tiên chưa thực sự tạo được dấu ấn, sự
quan tâm trong lòng khách du lịch. Nguyên nhân cũng bởi bản thân du khách
chưa có sự hiểu biết nhiều, thậm chí chưa từng biết đến những giá trị văn hóa
đặc sắc của nơi đây, nên Duy Tiên không phải là điểm đến cho chuyến du lịch
của họ. Và vấn đề đặt ra là phải làm sao khai thác có hiệu quả các giá trị văn
hoá, để từ đó phát triển mạnh du lịch văn hóa ở huyện Duy Tiên, đem thương
hiệu “núi Đọi – sông Châu” đến gần hơn với khách du lịch trong và ngoài
nước.
Từ những vấn đề lý luận và thực tế nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn
văn hóa và đề xuất giải pháp cho hoạt động này.
- Phạm vi về không gian: thuộc địa bàn huyện Duy Tiên - Hà Nam.
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu các hoạt động du lịch văn hóa của
huyện Duy Tiên từ năm 2010 - 2015. Thời gian tác giả thực hiện khóa luận là
từ ngày 8/3/2016 – 30/04/2016.
.6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thông tin về đối tượng nghiên
cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên cần phải phân loại, so sánh
và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết.
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phương pháp này để khảo
sát, điều tra trực tiếp một số du khách, những người có trách nhiệm quản lý
khu du lịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời kết
hợp với việc sử dụng phỏng vấn chuyên sâu. Qua đây, có thể có cái nhìn xác
thực về tài nguyên và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê xã hội học: để xử lý các kết quả điều tra, thể
hiện các kết quả đó thành những bảng biểu, tỷ lệ %…
- Phương pháp khảo sát thực địa: quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu
thập được phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao
3
và có một tầm nhìn khách quan để nghiên cứu đề tài. Phương pháp này giúp
cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan, có những đánh giá đúng đắn về
vấn đề nghiên cứu, hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến
diện trong khi nghiên cứu.
.7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
phương để phục vụ phát triển du lịch, cùng với các tờ gấp giới thiệu về quần
thể di tích Đọi Sơn, đền Lảnh Giang với khoảng 4 đĩa CD giới thiệu các di
tích tiêu biểu,… Ngoài ra, còn có một số các bài luận văn của sinh viên
nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của loại hình du lịch văn hóa của
huyện Duy Tiên như: đề tài “Tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa nhằm phát
triển du lịch văn hóa ở huyện Duy Tiên - tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện
nay” của sinh viên Nguyễn Thị Huê, hay “Nghi lễ cày Tịch Điền Đọi Sơn
huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam với phát triển du lịch” của sinh viên Bùi Thị
Phương Thúy,…
Tuy nhiên, đến nay lại chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu
đánh giá một cách tổng thể, hoàn thiện về giá trị văn hóa của vùng để khai
thác, phát triển du lịch văn hóa của huyện Duy Tiên nói riêng và của tỉnh Hà
Nam nói chung.
5
Những vấn đề về du lịch
Du lịch là gì?
Khái niệm du lịch
Theo Luật Du lịch thì: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu
cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định[4, Điều 4].
Liên hợp quốc năm 1963 đã đưa ra định nghĩa như sau: Du lịch là tổng
hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các
cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường
xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú
không phải là nơi làm việc của họ[2,9].
Theo các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, nội dung cơ
bản của du lịch gồm hai thành phần riêng biệt, nghĩa thứ nhất của từ này là
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch nội địa; du lịch quốc tế.
- Theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch: du lịch nghỉ biển; du lịch nghỉ
núi; du lịch thành thị; du lịch nông thôn.
- Theo các phương tiện giao thông:
+ Du lịch đường bộ: xe đạp, ô tô,…
+ Du lịch bằng đường không: máy bay, khinh khí cầu,…
+ Du lịch bằng đường thủy: tàu biển, tàu thủy,…
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày; du lịch dài ngày.
- Theo lứa tuổi: du lịch thiếu niên; du lịch thanh niên; du lịch trung niên.
- Theo phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói; du lịch từng phần.
- Căn cứ vào phương tiện lưu trú: khách sạn; Motel; nhà trọ; camping;
resort; Bungalow; Làng du lịch; Homestay; tàu du lịch.
- Theo hình thức tổ chức: cá nhân, gia đình, tập thể.
- Các loại hình du lịch mới: du lịch hoài niệm, du lịch nông nghiệp, du
lịch đánh bạc, du lịch vườn, du lịch vũ trụ,…
Tài nguyên du lịch
Theo Điều 4, Luật Du lịch năm 2005 định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử
7
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”[4].
Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra (tài nguyên du lịch tự
nhiên) và cũng có thể do con người tạo ra (tài nguyên du lịch nhân văn).
- Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Vị trí địa lý: lợi thế là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du
lịch, khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch không quá
Văn hóa là gì?
Theo thống kê của Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hoá của Liên hợp
quốc (UNESCO), đến năm 1982 đã có khoảng 200 định nghĩa về văn hóa.
Cũng trong năm 1982, trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”,
UNESCO đã thống nhất định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá hiểu theo
nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng
tạo ra, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của mình trong quá trình
lịch sử” [10,17].
Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và tinh thần, do
vậy, tương ứng với nó là hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần. Từ đó, quan
niệm văn hóa được phân chia thành hai dạng là văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần.
Văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) bao gồm toàn bộ những sản phẩm do
hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra như: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa,
đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, các di tích
lịch sử - văn hóa…
Văn hóa tinh thần (văn hóa vô hình) văn hóa phi vật thể bao gồm toàn bộ
những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra như: tư
tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, đạo đức,
văn chương, âm nhạc…
Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị về
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình.
9
Du lịch văn hóa
Khái niệm du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì: “Du lịch văn hóa là hình
- Nhóm bốn, Du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural
tourism), gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề
như: công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật,…
Từ bốn nhóm căn bản trên, ta có các hình thức du lịch văn hóa tiêu biểu:
- Du lịch văn hóa cảm xúc (sense of place), là những sản phẩm khai thác
các đặc tính thẩm mỹ phi vật thể thông qua các giác quan như: màu sắc, âm
thanh, ánh sáng, hương vị, tiếng động những thành tố tạo thành cái cội nguồn
văn hóa của vùng, dân tộc hay quốc gia.
- Du lịch văn hóa sự kiện và lễ hội (Festival & Events), tận dụng sự kiện
và lễ hội để xây dựng chương trình tour, sao cho khách du lịch có thể trải
nghiệm và hòa mình vào không khí của lễ hội một cách hợp lý nhất.
- Du lịch văn hóa di sản (cultural heritage), lấy những giá trị văn hóa,
lịch sử có trong di sản để cho khách thưởng thức.
- Du lịch “Con đường văn hóa” (the cultural trails tour), là sản phẩm lấy
“con đường văn hóa” làm hành trình của chuyến tham quan. Ở mỗi điểm
dừng trên con đường ấy là những minh chứng cho một thời kỳ hưng thịnh hay
suy tàn của một nền văn hóa nào đó.
- Du lịch văn hóa hiện đại (modern cultural tour), khai thác các giá trị
văn hóa lịch sử hiện đại bao gồm vật thể và phi vật thể như: các công trình thế
kỷ, di sản thế giới hiện đại, các lễ hội chuyên đề, sự kiện âm nhạc, tôn giáo,
văn hóa, thể thao,… để xây dựng chương trình tham quan hấp dẫn du khách.
- Du lịch văn hóa nông thôn (farm experiences homestay cultural tour),
là sản phẩm được xây dựng dựa vào các yếu tố sinh hoạt văn hóa nông thôn
của vùng, để tạo cơ hội cho khách có thời gian trải nghiệm cuộc sống của
vùng nông thôn họ đến.
- Du lịch văn hóa ngôn ngữ (languages cultural tour), dành cho những
khách du lịch muốn tìm hiểu nghiên cứu một ngôn ngữ lạ nào đó. Hình thức
tour du lịch này là xây dựng một chương trình tour giao lưu với dân bản địa
để học hỏi nghiên cứu ngôn ngữ.
- Du lịch văn hóa nghệ thuật ẩm thực (Gastronomy cultural tour), khai
ngành du lịch, vừa đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế địa phương.
Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Trong du lịch, văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo, nguồn nguyên liệu
để hình thành lên loại hình du lịch. Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ
12
bản: Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Giá trị của những di sản văn hoá
cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật,
các bảo tàng,… là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho
du lịch khai thác và sử dụng. Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra
môi trường và điều kiện cho du lịch phát sinh, phát triển mà còn quyết định
quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của loại hình du lịch của một quốc
gia, một vùng, một địa phương. Xét ở một khía cạnh khác, nếu muốn phát
triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt. Đó là môi trường tự
nhiên không có rác bẩn, nguồn nước sạch, không viết vẽ lên đá,…và môi
trường nhân văn là di tích được giữ gìn, cư dân, nhân viên ở nơi du lịch phải
có tố chất văn hoá, cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh; tri thức,
thông tin xã hội, cách ứng xử, hiểu biết tâm lý du khách,… Đây là những
động lực hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển du lịch.
Ngược lại, đối với văn hoá, du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và
trình diễn các giá trị văn hoá của một địa phương, một dân tộc, để mọi khách
du lịch trong nước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng
thức. Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc gia
được tăng cường và mở rộng. Nó còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi
dậy các giá trị văn hoá dân tộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời
gian trước những biến cố của lịch sử. Đó có thể là các công trình kiến trúc cổ,
tập quán sinh hoạt, một làn điệu dân ca, một món ăn dân tộc,... thể hiện trình
độ mỹ thuật văn hoá, kỹ thuật của các thời đại đã qua. Cũng nhờ có du lịch
mà các tài sản văn hoá đó được khôi phục, khai thác và tôn tạo đồng thời với
như các tác động tích cực của du lịch đến văn hóa, đồng thời, cần hạn chế,
giải quyết các tác động tiêu cực còn tồn tại hiện nay. Phát triển du lịch dựa
trên nền tảng văn hóa lịch sử đã được khẳng định rõ trong định hướng Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam tới năm 2020, tầm nhìn 2030. Phát huy thế
mạnh văn hóa hiện có và tiến hành những bước đi đúng hướng, có chọn lọc,
gắn với trào lưu phát triển chung, chắc chắn ngành du lịch Việt Nam sẽ tạo ra
những sản phẩm du lịch văn hóa mới, độc đáo, sáng tạo và hấp dẫn, thu hút
ngày càng nhiều du khách.
14
Tiểu kết chương 1
Trong nhiều thập niên qua, ngành du lịch được coi là một trong những
lĩnh vực kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, trở thành động lực chủ
yếu đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia. Mỗi quốc gia
đều tập trung phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai
thác các nguồn tài nguyên, đặc biệt là lợi thế về văn hóa dân tộc.
Trong tiến trình phát triển, bất cứ một cộng đồng dân tộc nào đều hướng
tới việc sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc sắc, phục vụ chính cuộc
sống của mình và cộng đồng mình. Mỗi một sản phẩm do con người tạo ra
đều là một sản phẩm văn hóa. Văn hóa có ý nghĩa quyết định trong các mối
quan hệ giữa các cá nhân và cộng đồng, giữa các quốc gia trên thế giới trong
tiến trình toàn cầu hóa bởi vì bản chất của toàn cầu hóa chính là sự giao thoa
mọi mặt của đời sống xã hội. Trong nền kinh tế tri thức, mọi sản phẩm đều
chứa đựng hàm lượng trí tuệ và hàm lượng văn hóa cao. Do vậy, có thể nói
mỗi sản phẩm do con người tạo ra trong giai đoạn hiện nay đều là một sản
phẩm văn hóa. Từ đó cho thấy, các sản phẩm du lịch đều phải là những sản
phẩm văn hóa. Bản chất của Du lịch là văn hóa; ngay trong Logo của ngành
Du lịch Việt Nam “Việt Nam vẻ đẹp tiềm ẩn” đã nói lên điều này.
Mỗi một sản phẩm du lịch đều hàm chứa những giá trị văn hóa sâu sắc.
của huyện, địa hình bằng phẳng, xen kẽ là các gò nhỏ, ao, hồ, đầm.
Khí hậu
Duy Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa
nhiều, thuộc tiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của
gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam, đặc điểm nổi bật nhất là sự tương
phản giữa mùa đông và mùa hè, hệ thống thời tiết kèm theo cũng thay đổi
theo mùa. Nhiệt độ trung bình năm dao động 23,20C - 24,60C. Lượng mưa
hàng năm từ 1.800 - 2.000 mm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 với gần 80%
16
tổng lượng mưa trong năm. Tuy nhiên, sự biến động mạnh mẽ với nhiều hiện
tượng thời tiết như bão, dông, lượng mưa tập trung theo mùa,... kết hợp với
địa hình thấp gây ra ngập úng cục bộ một số vùng.
Thủy văn
Duy Tiên có mạng lưới sông, ngòi tương đối dày đặc với ba con sông
lớn chảy qua là sông Hồng, sông Châu Giang và sông Nhuệ. Ngoài ba sông
chính, huyện còn có mạng lưới các sông ngòi nhỏ với các ao, hồ, đầm là
nguồn bổ sung và dự trữ rất quan trọng khi mực nước các sông chính xuống
thấp, đặc biệt vào mùa khô hạn. Nhìn chung mật độ sông ngòi của huyện khá
dày và đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Do địa hình bằng phẳng,
độ dốc của các sông nhỏ nên khả năng tiêu thoát nước chậm, đặc biệt vào mùa
lũ, thường gây ngập úng cục bộ cho vùng có địa hình thấp trũng, gây ảnh
hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Đất ở đây chủ yếu được hình thành do quá trình bồi lắng của phù sa hệ
thống sống Hồng và sông Châu Giang. Nhóm đất phù sa là loại đất phân bố
hầu hết ở các xã trong huyện. Đất đai huyện Duy Tiên có địa hình tương đối
bằng phẳng, hàm lượng các chất dinh dưỡng ở mức trung bình khá là một
Nguyễn Xá, Ngô Xá,... là biểu hiện điểm tụ cư dân đầu tiên do ông tổ cùng họ
đến lập làng, chạ. Sau khi các dòng họ đã phát triển đông thì chia ra từng giáp
như: Giáp Nhất, Giáp Nhì, Giáp Ba,...
Từ xa xưa, mảnh đất này có tên gọi là “Phù Vân”, sau đó được đổi là
Duy Tân năm 1469 đời Lê Thánh Tông. Đến đời Lê Trung Hưng, vì phạm
huý vua Lê Kính Tông nên đất Duy Tân lại được đổi là Duy Tiên. Trước năm
1890, huyện Duy Tiên thuộc phủ Thường Tín, sau đó lại thuộc phủ Lỵ Nhân.
Ngày 20/10/1890, thực dân Pháp cắt một phần đất của tỉnh Hà Nội và
Nam Định để thành lập tỉnh Hà Nam. Chúng cắt hai tổng Mộc Phàm và tổng
Chuyên Nghiệp của huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín và tổng Trác Bút
huyện Nam Xang, phủ Lỵ Nhân nhập vào huyện Duy Tiên. Huyện Duy Tiên
bị cắt đi một số xã của tổng Đọi Sơn. Từ năm 1901 để thiết lập bộ máy cai trị
18
của huyện và xã, thực dân Pháp đã tiến hành chia Duy Tiên ra làm 9 tổng, 88
xã, 160 làng, huyện lỵ đóng tại thôn Lão Cầu.
Hiện nay, Duy Tiên có 20 xã và thị trấn, Hoà Mạc là trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá của toàn huyện.
Đặc điểm kinh tế - xã hội và dân cư
Về dân cư, theo số liệu điều tra của huyện Duy Tiên, dân số của huyện là
150.000 người (năm 2015). Dân số thành thị trung bình là 10.780 người và số
dân nông thôn trung bình là 13.220 người.
Về kinh tế, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng CNH,
HĐH trong đó giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng của ngành
công nghiệp và dịch vụ. Năm 2015, cơ cấu kinh tế của huyện Duy Tiên là:
Công nghiệp – xây dựng chiếm 58,75%; nông nghiệp chiếm 7.65% và thương
mại – dịch vụ - du lịch chiếm 33,6%.
Trong giai đoạn 2011 – 2015, lĩnh vực kinh tế của huyện có bước phát
triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2015 đạt trên 16%.
đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu, chất lượng ngày càng tăng, 100% giáo viên
đạt chuẩn.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng
Về giao thông, huyện có hệ thống giao thông thuận lợi với đường quốc
lộ 1A, đường quốc lộ 38, tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và tuyến
đường sắt Bắc - Nam chạy qua địa bàn. Tuyến đường huyện gồm 12 tuyến từ
ĐH01 đến ĐH12 với tổng chiều dài là 56,5km. Đường giao thông nông thôn
đạt chuẩn xây dựng được 282,86km đạt tỉ lệ 74,44%, tạo điều kiện thuận lợi
về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới, đi tới các tỉnh
trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Về hệ thống viễn thông, thông tin liên lạc, hiện trên địa bàn toàn huyện
có 02 điểm giao dịch thuê bao di động là Đồng Văn, Hòa Mạc với 12 điểm
đại lý trên địa bàn huyện. Điện thoại cố định: 6.500 thuê bao; di động trả sau:
2.500 thuê bao; Internet: 2.450 thuê bao; Mytv: 1.500 thuê bao.
Về hệ thống bưu chính, trên địa bàn huyện Duy Tiên tổng số có 5 bưu
cục. Điểm bưu điện văn hoá xã có 19 và thùng thư là 25.
20