Văn hóa ứng xử ở trường học của sinh viên hà nội hiện nay (khảo sát trên địa bàn quận cầu giấy, hà nội) - Pdf 35

PHẦN I: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
1.

Lí do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi các bạn thanh niên” từng viết :
“Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, yếu
hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Thật vậy, thanh niên là một bộ phận
dân cư có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa , chính trị, xã hội của
một đất nước. Đó là thế hệ vừa kế thừa những giá trị truyền thống, tiếp bước những
thành quả của các thế hệ cha ông đi trước, vừa là thế hệ trẻ, năng động, tích cực,
sáng tạo trong mọi hoạt động học tập, rèn luyện, lao động, văn hóa… Sự phát triển
của thanh niên không chỉ đảm bảo cho sự tồn tại và vững mạnh của một quốc gia
trong hiện tại mà còn đảm bảo cho tương lai của quốc gia đó. Bởi vì vậy, vấn đề
phát triển thanh niên rất cần được cả xã hội hết sức quan tâm và coi trọng.
Sinh viên hay thanh niên sinh viên là một bộ phận của nhóm dân cư thanh
niên. Với tư cách là một phần của lớp thanh niên tri thức, sinh viên càng có vị trí
quan trọng hơn đối với sự phát triển của đất nước. Đó vừa là bộ phận thanh niên
đại diện cho tri thức dân tộc và tri thức thời đại; vừa là lực lượng lao động trẻ,
khỏe, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giàu nhiệt huyết; vừa là những người
giữ vai trò của lực lượng chủ chốt, lãnh đạo tương lai của đất nước. Trong vài thập
kỉ gần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, những thành tựu đạt được trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước đã tạo điều kiện thuận lợi để
thanh niên nói chúng và sinh viên nói riêng có cơ hội được phát triển toàn diện cả
về thể chất và tinh thần. Sinh viên ngày nay không những được đáp ứng tương đối
đầy đủ những nhu cầu của đời sống vật chất như: ăn ngon, mặc đẹp, được tiếp cận
đầy đủ với giáo dục, y tế, phương tiện phục vụ giải trí, học tập hiện đại… mà đời
sống văn hóa tinh thần cũng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng. Nhờ vậy, mà
sinh viên ngày càng phát huy những ưu điểm của sức trẻ năng động, đam mê sáng
tạo và khả năng hòa nhập cộng đồng; ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của
mình trong lực lượng lao động và trí tuệ của xã hội.

cán bộ trong trường, sinh viên vi phạm nội quy, kỷ luật trường lớp, thiếu lễ phép
với thầy cô giáo, bạo hành sinh viên với sinh viên, bạo hành của sinh viên với thầy
cô giáo… Tuy nhiên những vấn đề, hiện tượng xã hội liên quan đến thanh niên nói
2


chung, sinh viên thanh niên nói riêng là những vấn đề xã hội phức tạp, chúng ta
không thể nhìn những mặt nổi hay những mặt cá biệt mà có thể dự đoán được
những vấn đề ẩn bên trong, cũng không thể chủ quan đánh giá là sinh viên ngày
nay đang xem thường những giá trị truyền thống trong giao tiếp ứng xử ở trường
học, mà chúng ta cần đi sâu tìm hiểu làm rõ những đặc trưng trong văn hóa ứng xử
của sinh viên hiện nay thông qua những cử chỉ, hành vi, thái độ, ngôn ngữ trong
từng mối quan hệ, đi sâu vào bản chất của mối quan hệ để tìm hiểu xem những yếu
tố nào ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử của sinh viên, nó có ảnh hưởng như thế nào
đến họ….
Trong nhiều năm trở lại đây, những vấn đề thanh niên nói chung và sinh
viên nói riêng đã thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu của Ngành Xã hội học.
Ngày càng có nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học về thanh niên và sinh viên,
nhất là văn hóa, lối sống thanh niên và sinh viên trong thời đại công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Và cũng đã có những nghiên cứu xã hội học tìm hiểu về văn hóa ứng
xử của thanh niên trong xã hội, nhưng ít có đề tài nào đi sâu tìm hiểu về văn hóa
ứng xử của sinh viên trong trường học hiện nay. Vì vây, xuất phát từ những lí do
trên, tôi quyết định chọn đề tài “Văn hóa ứng xử ở trường học của sinh viên Hà
Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu phục vụ cho quá trình thực tập và làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp cá nhân.
2.

Tổng quan nghiên cứu

Đến nay, hầu như rất ít đề tài đi sâu vào văn hóa ứng xử của sinh viên ở

thanh niên”. Và chú ý , đối với “khái niệm văn hóa”, tác giả đã giới thiệu và phên
phán lý thuyết và cách tiếp cận “tiểu văn hóa thanh niên” vốn đang thịnh hành
trong các nghiên cứu về thanh niên trong nước và trên thế giới. Về khái niệm “lối
sống thanh niên”, tác giả khẳng định thêm một lần nữa quan điểm của mình cho
rằng lối sống chỉ là những chiều cạnh chủ quan của văn hóa và đề xuất những cách
tiếp cận đa chiều trong nghiên cứu về lới sống thanh niên Việt Nam và những xu
hướng biến đổi của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Tác giả cho rằng lối sống chỉ là những giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống
của con người. Như vậy, lối sống chỉ là những giá trị văn hóa, những mô hình và
phương pháp ứng xử được đa số cá thể của một cộng đồng người xác định nào đó
4


chấp nhận và hiện thực hóa trong hoạt động sống hằng ngày của họ. Trong số đó
có cả những giá trị truyền thống và những cách ứng xử được trao truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác, bao gồm cả những giá trị ngoại sinh, những cách ứng xử, va
những biểu tượng… Như vậy, theo quan điểm của bài viết này thì văn hóa và ứng
xử có gianh giới, ứng xử của thanh niên thuộc về lối sống thanh niên biểu hiện
những hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực văn hóa của văn hóa thanh niên.
3. Trần Thị Hạnh, Khóa luận tốt nghiệp: Vai trò của gia đình trong giáo
dục văn hóa ứng xử cho trẻ vị thành niên ở đô thị hiện nay, Hà Nội, 2009. Kết
quả của cuộc điều tra cho thấy, trong xã hôi đô thị hiên nay, thì gia đình vần là yếu
tố quan trọng trong việc hình thành nên văn hóa ứng xử xã hội của vị thành niên.
Cha mẹ là những người có ảnh hưởng lớn nhất đối với con cái, họ dạy cho vị thành
niên những chuẩn mực cơ bản của ứng xử như: nhường nhịn, lễ phép, ứng xử tôn
kính, nói năng lịch sự… Và vấn đề giáo dục trẻ vị thành niên văn hóa ứng xử trong
nhà trường, ứng xử với thầy cô giáo, bạn bè là điều cần thiết trong các nội dung
giáo dục gia đình giáo dục cho các em. Khi mà có tới 98% gia đình giáo dục cho
các em biết ơn, kính trọng lễ phép, vâng lời thầy cô giáo, có ý thức vươn lên trong
học tập… Nghiên cứu này tuy không đi sâu về vấn đề văn hóa ứng xử trong nhà

vấn đề mới. Và đề tài văn hóa ứng xử ở trường học của sinh viên chưa được tiến
hành nghiên cứu, vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài “Văn hóa ứng xử ở trường
học của sinh viên Hà Nội hiện nay” và tiến hành khảo sát tại Học viện báo chí
tuyên truyền và Đại học giao thông vận tải.
3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu
Khái quát những đặc trưng trong thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên
trong các trường đại học ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội hiện nay . Đồng thời làm rõ
những yếu tố tác động đến văn hóa ứng xử của sinh viên trong nhà trường. Từ kết
quả của nghiên cứu mà có thể đưa ra những giải pháp để xây dựng văn hóa ứng xử
văn minh, lịch sự của sinh viên trong trường học hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm liên quan: văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử,
văn hóa ứng xử ở trường học của sinh viên…
6


- Xây dựng hệ thống biến số, chỉ báo, khung lý thuyết nghiên cứu và thiết kế
bộ công cụ để thu thập thông tin.
- Mô tả những đặc điểm về thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên ở
trường học hiện nay.
Cụ thể:
+ Làm rõ những quan niệm về giá trị, chuẩn mực của sinh viên về văn hóa
ứng xử với thầy cô giáo, với bạn bè, với cán bộ viên chức và với tổ chức.
+ Làm rõ những đặc trưng về tác phong của sinh viên khi đến trường.
+ Làm rõ những đặc trưng về ngôn ngữ, hành vi của sinh viên trong văn hóa
ứng xử của từng mối quan hệ: giữa sinh viên với sinh viên, sinh viên với thầy cô


7


- Phạm vi về không gian: tại 2 trường Đại học: Học viện báo chí tuyên
truyền và Đại học giao thông vận tải .
5.

Giả thuyết, biến số, khung lí thuyết

5.1.

Giả thuyết nghiên cứu

- Hầu hết sinh viên đều cho rằng chuẩn mực trong văn hóa ứng xử của sinh
viên với thầy cô giáo và cán bộ viên chức khi ở trường là phải có thái độ kính
trọng, hành vi lễ phép, ngôn ngữ trang trọng, lịch sự.
- Trong văn hóa ứng xử đối với bạn bè cùng lớp khi ở trường thì sinh viên
đều thể hiện thái độ quan tâm, hành vi thân thiện , ngôn ngữ thể hiện sự gần gũi.
- Những sinh viên giữ chức vụ trong lớp/trường, học lực và hạnh kiểm khá,
tốt có tác phong khi đến trường chuẩn mực hơn những sinh viên không giữ chức
vụ trong lớp/trường, học lực và hạnh kiểm yếu kém.
- Trong văn hóa ứng xử đối với bạn bè cùng lớp khi ở trường thì sinh viên
đều thể hiện thái độ quan tâm, hành vi thân thiện , ngôn ngữ thể hiện sự gần gũi.
- Những đặc điểm về gia đình: nghề nghiệp bố mẹ, trình độ học vấn của bố
mẹ và môi trường văn hóa gia đình là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến văn hóa
ứng xử của sinh viên khi ở trường.
- Các yếu tố như: giới tính, khối ngành học, học lực, hạnh kiểm, việc giữ các
chức vụ ( ở lớp/trường) của sinh viên ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa ứng xử của
sinh viên với thầy cô giáo, bạn bè, cán bộ viên chức và tổ chức: Đoàn, Hội, Khoa,

- Những thái độ, hành vi, ngôn ngữ của sinh viên đối với thầy cô giáo khi ở
trường:
+ Khi gặp gỡ, tiếp xúc ở trường (đối với thầy cô giáo đã/ đang trực tiếp
giảng

dạy, chưa từng giảng dạy, đã từng trách phạt mình, từng giúp đỡ

mình)
+ Khi thầy cô giáo bước vào lớp.
+ Khi thầy cô giáo đang giảng bài trên lớp.
+ Khi bị thầy cô giáo trách phạt.
- Những thái độ, ngôn ngữ, hành vi của sinh viên đối với sinh viên khi ở
trường:
+ Theo các mối quan hệ:


Đối với bạn bè cùng lớp: Cùng nhóm chơi thân và Không cùng nhóm

chơi thân.


Đối với bạn bè cùng khoa/cùng trường
+ Theo từng tình huống, hoàn cảnh ứng xử:



Khi gặp gỡ, tiếp xúc ở trường, lớp




- Đặc điểm môi trường trường học: ứng xử gương mẫu của thầy cô giáo; Nội
quy, quy chế lớp học, trường học

10


5.3.

Khung lý thuyết
Môi trường kinh tế -xã hội

Đặc điểm nhân
khẩu: giới tính,
xuất thân, năm học,
ngành học, học lực,

Văn hóa ứng xử ở trường

hạnh kiểm, giữ

học của sinh viên Hà Nội

chức vụ trong

hiện nay:

lớp/trường.

- Những quan niệm của
sinh viên về giá trị, chuẩn


6.

Phương pháp nghiên cứu

6.1.

Phương pháp luận

- phương pháp luận chung nhất : Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- phương pháp luận của chuyên ngành xã hội học; là các lý thuyết riêng biệt
của xã hội học sử sụng trong nghiên cứu văn hóa, hành vi: lý thuyết hành vi, thuyết
xã hội hóa, lý thuyết tương tác biểu trưng.
6.2.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên định lượng là chính , có sự kết hợp
phương pháp nghiên cứu định tính. Cụ thể
Phương pháp nghiên cứu định tính:
+ Đọc và phân tích tài liệu: nhằm tìm hiểu những góc độ tiếp cận, những
quan điểm hay hướng nghiên cứu xã hội học về văn hóa thanh niên và văn hóa ứng
xử của thanh niên.
+ Phỏng vấn sâu : tiến hành 16 phỏng vấn sâu, chia thành 2 lần
Phỏng vấn sâu lần thứ nhất: 8 phỏng vấn sâu (2 sinh viên bình thường, 2
sinh viên là cán bộ lớp, khoa, trường, 2 giáo viên, 2 cán bộ phòng ban ) được tiến
hành trước nghiên cứu định lượng, nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng bô công cụ
nghiên cứu định lượng.
Phỏng vấn sâu lần thứ hai: gồm 8 phỏng vấn sâu ( 5 sinh viên, 3 giáo viên)

Có ý nghĩa bổ sung cho những nghiên cứu về văn hóa thanh niên nói chung
và văn hóa sinh viên nói riêng.
Làm rõ thêm về việc áp dụng các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu văn
hóa ứng xử
7.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Khái quát những đặc trưng về văn hóa ứng xử của sinh viên trong nhà
trường hiện nay, để giúp mọi người có cái nhìn khách quan hơn đối với vấn đề về
ứng xử của sinh viên hiện nay.
Đưa ra đề xuất góp phần xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học văn
mính, lịch sự hơn.

13


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1. Thao tác hóa các khái niệm liên quan
1.1 Khái niệm “ứng xử”
Từ lâu vấn đề ứng xử trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con
người với tự nhiên cà con người với chính mình đã được nhiều khoa học nghiên
cứu, nhất là tâm lí học, giáo dục học và xã hội học
Theo Nhà giáo nhân dân Trịnh Trúc Lâm – một nhà giá dục học “ứng xử
trong xã hội được hiểu là cách hành động của các vai trò xã hội nào đó trước một
chủ thể xã hội khác cũng có một vị trí xã hội. Như vậy, ứng xử là cách hành động
của các vai trò xã hội với nhau, giữa các cá nhân với nhau và sau nữa là cách
hành động của chủ thể đối với chính bản thân mình, với đồ vật, với môi trường tự
nhiên”.(tr 6, 1). Như vậy ứng xử theo quan điểm này, được đặt trong cả mối quan

xã hội khác nhau, mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, ứng xử với tự nhiên.
Trong xã hội, có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu ứng xử, và một ứng xử có
thể trở thành khuôn mẫu văn hóa khi nó thỏa mãn các yếu tố: là ứng xử được
thường xuyên lặp đi lặp lại cả về mặt thời gian và không gian, ứng xử ấy có tác
dụng chỉ nam, mẫu mực hay quy tắc cho một nhóm xã hội hay toàn xã hội, tức là
nó mang những giá trị, chuẩn mực được số đông thừa nhận.
Cùng quan điểm với Hồ Hải Thụy, trong đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng
thuật ngữ “ứng xử” với ý nghĩa là thái độ, hành vi, ngôn ngữ trong tình huống cụ
thể , tùy theo từng mối quan hệ xã hội.
1.2 Khái niệm “văn hóa”
a. Khái niệm “văn hóa”
Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến hoạt
động của con người, vì vậy đã có rất nhiều những quan niệm, những cách tiếp cận
khác nhau về thuật ngữ văn hóa.
Theo Từ điển thông dụng thì văn hóa là những giá trị vật chất và tình thần
do con người tạo ra trong quá trình lịch sử. Theo quan điểm này thì văn hóa là toàn
bộ những sản phẩm của con người, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của xã hội loài
người.
15


Theo K.Marx, “Văn hóa là sự phát triển tất cả các thuộc tính của con người
xã hội và sức sản xuất của xã hội, được coi như là con người có mọi thuộc tính và
mọi mối liên hệ, và vì vậy, mà mọi nhu cầu có thể phong phú hơn- tức là sưc sản
xuất con người như là sản phẩm toàn vẹn và tổng hợp của xã hội’. Theo quan điểm
của K.Marx thì lao động sáng tạo ra văn hóa, tuy nhiên không nên lí giải văn hóa
bằng bất cứ một kết quả đang tồn tại theo kinh nghiệm nào của lao động.
Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và
nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong phong tục tập quán, giao
tiếp giữa người với người, trong văn học nghệ thuật. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí

niệm của UNESCO đưa ra hai thành tố cơ bản , quan trọng gắn liền với văn hóa là
hệ thống giá trị, chuẩn mực, đây cũng là quan điểm được sử dụng tỏng nghiên cứu
này.
b.

Khái niệm “chuẩn mực” và “giá trị”

Khi nói đến văn hóa, người ta thường nghĩ ngay đến chuẩn mực và giá trị là
2 thành tố cơ bản của văn hóa, vì vậy, tìm hiểu khái niệm về văn hóa không thể
không đề cập đến 2 khái niệm này.
Chuẩn mực được hiểu là những quy ước, qui tắc của cả cộng đồng hay một
nhóm về những cái nên làm hay không nên làm đối với từng loại người cụ thể,
trong hoàn cảnh, tình hướng nhất định. [tr63, 8]
Theo C.Kluckholn thì “ Giá trị là quan niệm và điều mong muốn đặc trưng
hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các
phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” [tr 156, 1]. Có thể hiểu
đơn giản giá trị là những quan niệm về các đáng mong muốn, những yêu thích,
những cái gì có lợi hay con người ham muốn.
1.3Khái niệm “Văn hóa ứng xử”
Ứng xử có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa, hệ thống khuôn mẫu ứng xử
có thể coi là khuôn mẫu văn hóa nếu những quy chuẩn đảm bảo cho các mối quan
hệ xã hội được bền vững trong các nhóm xã hội khác nhau, và những giá trị chuẩn
mực văn hóa cũng được dùng để đánh giá những ứng xử là đẹp hay không đẹp. (5).
Với cách sử dụng khái niệm về “ứng xử” và “văn hóa” ở trên, tôi đồng ý với
quan điểm của tác giả Trịnh Thanh Hà, trong Luận án Tiến Sĩ chuyên ngành quản
17


lý hành chính công khi đã sử dụng khái niệm văn hóa ứng xử của Vũ Dũng như
sau: văn hóa ứng xử là hệ thống những chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ ứng

hội giữa các cá nhân, giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu các tương tác
xã hội, cần phải đi lí giải ý nghĩa biểu hiên, các biểu tượng của các tương tác đó.
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này đó là nhà xã hội học người Mỹ Herbert
Blumer. Quan điểm của ông cho rằng hành động của mỗi cá nhân được thực hiện
trên cơ sở lí giải những biểu tượng, những ý nghĩa trong hành vi những người xung
quanh và lý giải về tình huống của chính bản thân họ. Theo ông, tương tác biểu
trưng không phải là tổng số các hành động cá nhân riêng lẻ, mà là một quá
trình,một hình thức xã hội được tạo thành từ các hành động của các cá nhân mà
mỗi hành động đo được thực hiện thông qua cơ chế lí giải ý nghĩa, động cơ hành
đông của nhau được thể hiện qua hệ thống ký hiêu, biểu tượng.
Áp dụng vào trong đề tài nghiên cứu, khi tìm hiểu hay lí giải về các
yếu tố ảnh hưởng từng thái độ, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ của sinh viên đối với bạn
bè, thầy cô giáo, cán bộ hành chính văn phòng là có thể xuất phát từ cách sinh viên
lí giải về mối quan hệ ấy có vai trò như thế nào đối với họ, lí giải về những tình
huống xảy ra trong quá trình giao tiếp ứng xử. Ví dụ, một số sinh viên cho rằng
những hành vi tranh cãi với thầy cô giáo rất “oai”.
2.2 Thuyết xã hội hóa
Những nhà xã hội học cho rằng: mỗi một cá nhân muốn tồn tại và phát triển,
muốn tham gia vào các mối quan hệ xã hội và các tương tác xã hội thì cần phải có
xã hội hóa. Xã hội hóa là một quá trình mà trong đó cá nhân tiếp thu được những
kiến thức kinh nghiệm lịch sử xã hội, tiếp thu những giá trị, chuẩn mực xã hội để
đóng và thực hiện các vai trò xã hội một cách phù hợp với mong muốn của xã hội,
từ đó mà hòa nhập vào xã hội. Xã hội hóa giúp cho xã hội lưu truyền, giữ gìn và
phát triển những di sản văn hóa thông qua sự kế thừa và phát huy giữa các thế hệ.
Đối với mỗi cá nhân, xã hội hóa giúp cho các cá nhân đống vai vào các vị trí xã
hội, để chuẩn bị cho việc tham gia vào các vai trò xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu
văn hóa ứng xử của sinh viên cũng cần chú ý đến môi trường xã hội hóa của họ:
gia đình, nhà trường…

19

động cơ, mục đích hay lợi ích có thể đạt được từ mối quan hệ đó. Hành động xã
20


hội “ứng xử” của sinh viên cũng phụ thuộc những ứng xử của các đối tượng. Và
sinh viên sẽ có thái độ, hành vi, ngôn ngữ (xem như là phương tiện) để đạt đến
mục đích đặt ra khi tiến hành các hoạt động xã hội ứng xử đó. Và khi nghiên cứu
về văn hóa ứng xử, phải chú ý đến các yếu tố chuẩn mực, giá trị.

21


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ Ở TRƯỜNG CỦA
SINH VIÊN HIỆN NAY
Sinh viên là một thành tố quan trọng để tạo lập được các trường Đại học, cao
đẳng và cũng là nhân tố chủ yếu để xây dựng nền văn hóa học đường. Ở trường
học, Sinh viên đều có mối quan hệ giao tiếp ứng xử với tất cả các nhân tố khác
trong trường học. Tương tác của sinh viên với thầy cô giáo, sinh viên với bạn bè,
của sinh viên với cán bộ viên chức, sinh viên với các tổ chức trong nhà trường vừa
bao gồm cả những tương tác trực tiếp vừa gồm cả những tương tác gián tiếp.
Những tương tác trong các mối quan hệ ứng xử đó tạo nên văn hóa ứng xử của
sinh viên khi ở trường học. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về văn hóa ứng xử của sinh
viên , chúng ta không chỉ nhìn ở những mặt nổi là những thái độ, cử chỉ, hành vi,
ngôn ngữ của sinh viên trong quá trình giao tiếp, ứng xử khi mà cần phải tìm hiểu
cả những yếu tố “ẩn” bên trong như những quan niệm về các giá trị, các chuẩn
mực văn hóa ứng xử của sinh viên hiện nay.
1.

Mô tả về mẫu nghiên cứu


8.0
1.5
1.0

viên

Trong số sinh viên được chọn , đa số sinh viên có học lực kì gần nhất lag
khá (40,5%) , trung bình khá (26%) và trung bình (19,5%), Số sinh viên có học
lực yếu, kém chiếm tỉ lệ ít nhất.
Bảng 2: Xếp loại học lực sinh viên kì gần nhất
Xếp loại học lực
Giỏi
Khá
Trung bình khá
Trung bình
Yếu, kém

Cơ cấu học lực
13
40.5
26
19.5
1

Về xuất thân, có sự chênh lệch khá lớn, đa số người trả lời có xuất thân từ
khu vực nông thôn (61,5%), chỉ có 38,5 % sinh viên sinh sống ở khu vực thành
thị trước khi đến trường
Trong tổng số người trả lời, tỉ lệ sinh viên có bố mẹ có trình độ học vấn học
hết trung học phổ thông ( bố: 34, 5%; mẹ : 37 5)và trình độ đại học/ trên đại học là
chiếm tỉ lệ cao nhất, học hết tiểu học chiếm tỉ lệ thấp nhất và không có bố mẹ

13
13.
5

Trung học phổ

34.5

37

Trung học cơ sở
Tiểu học

5.5
1.5

8.5
1.5

thông

Bảng 4: Nghề nghiệp bố và mẹ người trả lời
Nghề nghiệp

B

Mẹ

22


.5
Về hưu, thương binh, già yếu, không làm
việc được
Không nghề, không việc

5
5

Khi tự đánh giá về hoàn cảnh kinh tế gia đình so với các hộ xung quanh, thì
đa số sinh viên (61%) đều cho rằng mức sống vật chất của gia đình mình ở mức

24


trung bình; khá giả và nghèo chiếm tỉ lệ bằng nhau (13%) , rất ít sinh viên (6%)
cho rằng gia đình mình giàu có. Tuy nhiên, sự đánh giá này mang tính chủ quan
của người trả lời, nên dẫn đến hầu hết đều chọn gia đình có mức sống trung bình.
Bảng 5: Cơ cấu hoàn cảnh kinh tế gia đình người trả lời
Hoàn cảnh kinh tế

Cơ cấu hoàn cảnh kinh tế gia đình
mẫu

Giàu có
Khá giả
Trung bình
Nghèo
Rất nghèo

6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status