Tiểu luận hoàn thiện chính sách quản lý vốn của nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa - Pdf 35

8

LỜI MỞ ðẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu ñề tài
Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là giải pháp quan
trọng trong việc sắp xếp, tổ chức lại, ñổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Theo
số liệu tổng hợp của Bộ Tài chính, ñến ngày 25/5/2011 có 5850 doanh nghiệp
(DN) và bộ phận DN ñã ñược sắp xếp, chuyển ñổi. Trong ñó, CPH ñược 3948
DN (chiếm 67%). Còn lại gần 1902 DN (chiếm 33%) thực hiện các hình thức
sắp xếp khác như: chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một
thành viên nhà nước; sáp nhập; hợp nhất; giao bán, khoán... Trong số 3948 DN
CPH có 2294 DN thuộc các ñịa phương (chiếm 58%), 1197 DN thuộc khối Bộ,
ngành (chiếm 30%) và 457 DN thuộc các tập ñoàn, tổng công ty (chiếm 12%).
Qua gần 20 năm thực hiện, quá trình CPH DNNN ñã ñạt ñược những
thành tựu ñáng kể như: góp phần thu hút thêm vốn; ngăn chặn sự trì trệ và tiêu
cực, thúc ñẩy DN làm ăn có hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ
những vấn ñề bất cập, trong ñó nổi lên vấn ñề hiệu quả sử dụng vốn trong các
DN sau CPH thấp. ðiều này gây ảnh hưởng lớn ñến mục tiêu bảo toàn vốn nhà
nước (VNN) trong các DN này. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý
VNN trong các DN sau CPH hạn chế. Trước yêu cầu cấp thiết ñó, ngày
06/12/2000 chính phủ Việt Nam ñã ban hành Nghị ñịnh số 73/2000/Nð-CP về
Qui chế quản lý VNN ở DN khác và gần ñây nhất là Nghị ñịnh số 09/2009/NðCP ngày 5/02/2009 của Chính phủ về Qui chế quản lý tài chính của công ty Nhà
nước và quản lý VNN ñầu tư vào DN khác. Chính sách quản lý VNN trong DN
sau CPH tuy ñã giúp cho công tác quản lý VNN thuận lợi hơn nhưng quá trình
triển khai thực hiện ñã phát sinh nhiều bất cập. Thêm vào ñó, hệ thống chính
sách còn thiếu và chưa ñồng bộ nên không thể giải quyết tốt những vướng mắc
trong công tác quản lý VNN ở DN sau CPH. Từ thực tế này, yêu cầu ñặt ra cho
các nhà khoa học cần thực hiện nghiên cứu một cách ñầy ñủ và toàn diện về quá
trình CPH DNNN nói chung và công tác quản lý VNN trong các DN sau CPH



DN sẽ ñối mặt sau khi CPH và cách thức giải quyết chúng.


10

Với mong muốn ñẩy nhanh quá trình CPH ở một ñịa phương hay lĩnh
vực, ngành cụ thể. Một loạt các nghiên cứu ñã ñược thực hiện, trong ñó ở phạm
vi một ñịa phương có “Biện pháp ñẩy nhanh tiến trình CPH DNNN ở Hà
Nội”(2001)[88] của tác giả Nguyễn Mậu Quyết, “Một số giải pháp nhằm thúc
ñẩy CPH DNNN trong công nghiệp Việt Nam”(2003)[51]của Hoàng Kim Huyền
và “ðẩy mạnh CPH DNNN thuộc ngành Bưu chính viễn thông Việt
Nam”(2005)[97] của Nguyễn Thị Ngọc Lan. Nghiên cứu trong phạm vi DNNN
của tổng công ty có tác giả Vũ ðình Hiếu với “Một số giải pháp nhằm thúc ñẩy
tiến trình CPH DNNN tại Tổng công ty cơ ñiện nông nghiệp và thủy lợi (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”(2003)[144] hay Hoàng Thị Minh trong
“ðẩy mạnh CPH DNNN thuộc Tổng công ty Lương thực miền Bắc” (2006)[54]
và Trần Nam Hải trong “Thực trạng CPH ở Tổng công ty Bưu chính Viễn thông
Việt Nam: kinh nghiệm và giải pháp”(2006)[126]. Dù tiếp cận ở phạm vi nào,
ñiểm chung của các nghiên cứu ñó là tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về
CPH, ñánh giá một cách khoa học về diễn biến quá trình CPH nhằm tìm ra
những vấn ñề khó khăn và bất cập trong triển khai thực hiện. Trên cở sở ñó, các
tác giả ñều ñã ñề xuất các nhóm giải pháp ñẩy nhanh tiến trình CPH DNNN
trong phạm vi nghiên cứu của mình.
ðể các giải pháp ñề xuất phù hợp với thực tiễn, các tác giả luôn cố gắng
tìm ra những ñiểm khác biệt của DNNN trước và sau CPH. ðiển hình trong số
ñó là Bùi Quốc Anh với “Những vấn ñề lý luận và thực tiễn về CPH và sau
CPH các DNNN ở Việt Nam- lấy ví dụ trong ngành giao thông vận
tải”(2008)[16]. Tác giả không chỉ dừng ở mục tiêu nghiên cứu các vấn ñề về lý
luận và thực tiễn trước và sau khi CPH các DNNN nói chung, mà còn xem xét
trong một ngành cụ thể là giao thông vận tải. Thành công lớn nhất của tác giả

Thanh Vân, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Quốc Dũng tập trung vào ñịa bàn Hà
Nội “ Giải pháp tài chính nhằm thúc ñẩy quá trình CPH DNNN trên ñịa bàn Hà
Nội”(2004)[39]; “Giải pháp tài chính thúc ñẩy CPH DNNN của thành phố Hà
Nội”(2004)[89] và “ Giải pháp tài chính nhằm thúc ñẩy tiến trình CPH DNNN
tại Hà Nội”(2004)[92]. Còn tác giả Nguyễn Văn Thắng, phạm vi là các DNNN
ở ñịa bàn tỉnh Hà Tây với “Giải pháp tài chính nhằm thúc ñẩy quá trình CPH


12

các DNNN của tỉnh Hà Tây”(2006)[100]. Với các tác giả khác lại ñề xuất các
giải pháp nhằm thúc ñẩy quá trình CPH DNNN trong phạm vi một lĩnh vực,
ngành cụ thể như “Giải pháp về tài chính tín dụng nhằm thúc ñẩy quá trình
CPH DNNN trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng” của Trịnh Thị Kim
Ngân(1999)[135], hay một loạt các nghiên cứu tập trung vào các Tổng công ty
như “Giải pháp tài chính nhằm thúc ñẩy quá trình CPH DNNN tại Tổng công ty
xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam” (2004)[99]Nguyễn Tiến ðạt năm 2004 và
“Giải pháp tài chính nhằm thúc ñẩy quá trình CPH DNNN tại Tổng công ty
xăng dầu Việt Nam”(2004)[15] của tác giả Bùi Minh Thuấn, hay “Một số giải
pháp tài chính thúc ñẩy tiến trình CPH DNNN thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt
Nam”(2005)[141] của tác giả Văn Thị Nguyệt Hoa năm 2005. Một số nghiên
cứu khác tập trung vào các DNNN của các Bộ và tập ñoàn lớn như “Giải pháp
tài chính thúc ñẩy CPH các DNNN thuộc Bộ Quốc phòng”(2006)[93] của tác giả
Nguyễn Thành Trung thực hiện năm 2006, “Giải pháp tài chính thúc ñẩy CPH
các DNNN thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam”(2008)[122] của Tạ Quang Trung năm 2008, “Giải pháp tài chính thúc ñẩy
CPH DNNN thuộc Tập ñoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam”(2007)[95]của
Nguyễn Thị Dung năm 2007.
Dù tiếp cận ở góc ñộ nào, các tác giả ñều thống nhất một quan ñiểm: vấn
ñề tài chính là một trong những yếu tố gây trở ngại lớn ñối với tiến trình CPH

với vốn tự có và coi như tự có của DNNN; giải quyết vấn ñề nợ nần của DN
khi tiến hành CPH; bán cổ phiếu cho cán bộ nhân viên trong DNNN ñược
CPH và xã ñịnh tỷ lệ cổ phần của nhà nước trong tổng số vốn của DNNN
ñược CPH. Tuy nhiên, các ñề xuất của tác giả còn nặng lý thuyết vì thực tế
thời ñiểm thực hiện nghiên cứu, Việt Nam mới tiến hành công cuộc cải cách
DNNN. Do ñó, “CPH DNNN ở Hà Nội và một số vấn ñề hoàn thiện quản lý DN
sau CPH”(2003)[101] của tác giả Nguyễn Việt Tiến thực hiện năm 2003 ñược
coi như là một nghiên cứu với các giải pháp ñược kiến nghị xuất phát từ thực
tiễn quá trình CPH các DNNN. Tuy nhiên, phạm vi của nghiên cứu là Hà Nội
nên nhiều kết luận cũng như kiến nghị có thể không phù hợp với ñịa phương
khác hoặc ngành, lĩnh vực cụ thể.


14

Trong nghiên cứu “Nhà nước với tư cách là nhà ñầu tư: CPH, tư nhân
hóa và chuyển ñổi DNNN tại Việt Nam” (2006),[121] của Scott Cheshier và các
cộng sự tiếp cập vấn ñề CPH trên góc ñộ nâng cao vai trò của nhà nước trong
các DNNN. Nghiên cứu ñã cho thấy tình trạng thất thoát và phân quyền không
chính thức thời kỳ kế hoạch hóa tập trung ñã dẫn tới giảm vai trò của chính
quyền trung ương trong sở hữu và kiểm soát các DNNN. Tình trạng thất thoát
VNN ñã làm cạn kiệt nguồn lực của nhà nước, gây phương hại cho tính ổn ñịnh
của nền kinh tế vĩ mô do ñó ñòi hỏi nhà nước xác ñịnh lại vai trò của minh trong
nền kinh tế: chuyển từ quản lý trực tiếp tài sản nhà nước sang tập trung vào quản
lý ñầu tư. Tập trung quản lý chuyển sang ngăn chặn thua lỗ và thất thoát VNN
và chuyển ñổi các DNNN thành các công ty hoạt ñộng theo luật DN. Nghiên
cứu khẳng ñịnh nhà nước có ba mối quan tâm lớn: VNN phải ñược bảo toàn, các
tổng công ty phải ñáp ứng những chỉ tiêu/mục tiêu do nhà nước ñề ra và các
tổng công ty phải phát triển những ngành công nghiệp chủ ñạo. ðể nâng cao vai
trò của nhà nước trong nền kinh tế và giải quyết ñược các mối quan tâm lớn thì

cho tài sản thuộc sở hữu nhà nước bị xé nhỏ ra; các cơ quan quản lý vốn theo
phương thức hành chính chứ không theo phương thức thị trường và quản lý
DNNN ở Việt Nam giống như hai trái tim trong một con người, ñó là: một trái
tim sở hữu và một trái tím quản lý, thông thường trái tim sở hữu mạnh hơn trái
tim quản lý. Chính những mẫu thuẫn này làm cho công tác quản lý VNN sẽ khó
khăn hơn rất nhiều và cần có một lộ trình thích hợp thì mới mong ñạt ñược mục
tiêu.
ðể phục vụ xây dựng lộ trình quản lý vốn thích hợp, tác giả Phan Hoài
Hiệp tiến hành “ðánh giá thực trạng quản lý VNN ñầu tư vào DN”(2008)[108].
ðây là một nghiên cứu khá toàn diện về công tác quản lý VNN vì ñã hệ thống
hóa chính sách ñầu tư VNN vào DN cũng như phương thức ñầu tư và quản lý
VNN tại DN qua các giai ñoạn. ðặc biệt vấn ñề chủ sở hữu và tổ chức bộ máy
thực hiện chức năng ñại diện chủ sở hữu ñối với các công ty nhà nước ñã ñược
tác giả chú trọng nghiên cứu. Những kết luận xác ñáng về công tác quản lý VNN
vào các DN ở Việt Nam thời gian qua ñã ñược ñưa ra như: chính sách ñầu tư


16

VNN vào DN, phương thức quản lý VNN ñầu tư vào kinh doanh từng bước
ñược hoàn thiện và ñổi mới. Tuy nhiên, hoạt ñộng ñầu tư và phương thức quản
lý công ty nhà nước cũng còn bộc lộ nhiều bất cập ñã ảnh hưởng không nhỏ ñến
hiệu quả vốn ñầu tư cũng như hiệu quả hoạt ñộng của các công ty nhà nước. Tuy
các phát hiện của tác giả ñược ñánh giá cao nhưng chưa ñược áp dụng vào ñề
xuất giải pháp cho công tác quản lý VNN trong các DN.
Quản lý VNN dù bằng cách nào thì cũng theo khuôn khổ pháp lý. Chính
vì vậy, sự xuất hiện chính sách quản lý VNN tạo ñiều kiện thuận lợi cho công
tác quản lý VNN. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện sẽ nảy sinh “Những
tồn tại, vướng mắc ở chính sách quản lý VNN tại DN sau CPH và một số giải
phải khắc phục”(2009)[134], tác giả Trần Xuân Long cho rằng bên cạnh quá

sách giải phóng DN và tạo ñộng lực cho DN phát triển. Tuy nhiên, có một số
DN chưa chú trọng ñầu tư phát triển ngành nghề chính theo qui hoạch phát triển
ngành, ña dạng hóa các loại hình kinh doanh khác. Hệ quả DN xây dựng kế
hoạch ñầu tư vượt quá khả năng nguồn vốn của mình, ñiều này ñã ảnh hưởng
không chỉ ñến sự phát triển của DN mà còn ảnh hướng ñến khả năng bảo toàn
VNN trong doanh nghiêp. Từ thực tế này, vấn ñề ñặt ra cần có cơ chế giám sát
tài chính của các DN nếu như không muốn xảy ra những tác ñộng xấu ñến nền
kinh tế quốc dân
Thời gian qua, tuy giám sát tài chính DNNN ñã ñược thực hiện nhưng
cũng bộc lộ những vấn ñề bất cấp ñược phản ánh khá cụ thể trong “:Cơ chế
giám sát tài chính DNNN: thực trạng và những khuyến nghị”(2001)[125] của tác
giả Trần ðức Chính. Ông cho rằng, cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ thể hiện trong
cơ chế quản lý trao quyền cho những người giám sát, quản lý nguồn VNN
nhưng họ lại không có ñiều kiện sâu sát với hoạt ñộng của DN, dẫn ñến những
sai phạm không ñáng có. ðặc biệt, sử dụng nguồn vốn, tài sản nhà nước tại các
DNNN bị thất thoát, thua lỗ nhưng các chế tài xử lý các vi phạm này chưa ñủ
mạnh và còn thiếu. ðể giải quyết vấn ñề này, theo ông cần thực hiện một số giải
pháp như trao quyền chủ ñộng sản xuất kinh doanh và ñầu tư cho các DNNN, ñi
ñôi với cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp; hoàn thiện cơ chế phân cấp trong hoạt


18

ñộng giám sát.; xây dựng hệ thống và tiêu thức giám sát tài chính và rủi ro; hoàn
thiện cơ chế giám sát việc tạo lập và huy ñộng vốn.
Tóm lại, các nghiên cứu về VNN và quản lý VNN, ñặc biệt là chính sách
quản lý VNN trong DN sau CPH ñã ñược thực hiện thời gian qua. Tuy nhiên,
các nghiên cứu ñiển hình nêu trên mới chỉ tiếp cận ở góc ñộ nào ñó của vấn ñề
quản lý vốn, hoặc trong phạm vi một DN cụ thể. Vì vậy, chưa khái quát ñược
một bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý VNN cũng như triển khai chính

Về mặt thời gian: Phần thực trạng, luận án sẽ nghiên cứu tình hình thực
hiện chính sách quản lý VNN trong các DN sau CPH từ năm 1992 ñến nay và ñề
xuất các kiến nghị hoàn thiện chính sách cho những năm tới.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận ñối tượng nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương
pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận chung. Luận án nhấn mạnh việc
khảo sát tổng kết thực tiễn ñể phát hiện những vướng mắc, tồn tại trong chính
sách quản lý VNN trong DN sau CPH ñể từ ñó ñề xuất phương hướng và giải
pháp hoàn thiện chính sách này. Các phương pháp cụ thể ñược sử dụng là:
Phân tích và tổng hợp: Phương pháp này trước hết ñược sử dụng ñể ñánh
giá các nghiên cứu hiện có trong và ngoài nước, từ ñó hình thành khung lý
thuyết cho Luận án.
Các phương pháp ñánh giá ñặc trưng của khoa học chính sách, ñặc biệt
là phương pháp phân tích, ñánh giá các văn bản chính sách: Phương pháp này
chủ yếu ñược dùng ñể ñánh giá về hệ thống chính sách quản lý VNN trong DN
sau CPH và thực tiễn thực hiện chính sách này thời gian qua ở Việt Nam nhằm
rút ra những kết luận quan trọng làm căn ñề xuất giải pháp hoàn thiện chính
sách.
Phương pháp tập hợp hệ thống số liệu, tư liệu phát hành qua kênh chính
thức. Phương pháp này ñược dùng chủ yếu ñể thu thập thông tin thứ cấp từ
chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Tài chính DN, SCIC và một số DN sau CPH.
3.5. Kết cấu luận án
Ngoài lời mở ñầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính
của luận án ñược kết cấu trong ba chương.
Chương 1. CPH DN nhà nước và chính sách quản lý vốn của nhà nước trong
DN sau CPH ở Việt Nam.


20



Những ñề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu: Kết quả ñánh giá chính
sách quản lý vốn nhà nước trong DN sau CPH ñã chỉ ra những vướng mắc, tồn
tại sau: (i) về vấn ñề ñại diên chủ sở hữu vốn trong DN sau CPH: chưa có sự
phân biệt rõ ràng và còn có một số Bộ, ñịa phương chưa thực hiện việc chuyển
giao ñại diện chủ sở hữu vốn nhà nước theo quy ñịnh của nhà nước; (ii) về vấn
ñề người ñại diện vốn nhà nước trong DN sau CPH: năng lực của một số người
ñại diện vốn nhà nước trong DN sau CPH chưa ñáp ứng ñược nhiệm vụ ñược
giao, cơ chế bổ nhiệm cán bộ làm người ñại diện cũng như chính sách qui ñịnh
về quyền hạn, nhiệm vụ và chính sách ñãi ngộ ñối với người ñại diện phần vốn
nhà nước tại doanh nghiệp còn thiếu (iii) về quản lý, ñầu tư vốn nhà nước trong
DN sau CPH: các quy ñịnh hiện nay về ñầu tư mới phân cấp không ñầy ñủ cho
Hội ñồng quản trị và Ban ñiều hành của Tổng công ty ðầu tư và Kinh doanh vốn
nhà nước; (iv) vấn ñề phân phối, sử dụng cổ tức phần vốn của nhà nước trong
DN sau CPH: nhiều doanh nghiệp ñã cố tình giữ lại khoản tiền thu ñược từ việc
bán bớt một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước trong DN sau CPH cũng như lợi
tức phần vốn nhà nước về các Quỹ quản lý theo quy ñịnh.
Dựa trên nghiên cứu kinh nghiệm về quản lý vốn nhà nước trong DN sau
CPH của một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore và trong bối cảnh Việt
Nam ñang tiến hành tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, luận án ñề xuất mô hình
quản lý vốn nhà nước trong DN sau CPH ñược xem xét theo hai hướng: (i) Nhà
nước quản lý với việc thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp; (ii) quản lý vốn Nhà nước theo mô hình ñầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước với Tổng công ty ðầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ñang hoạt ñộng ở
Việt Nam.
Luận án ñã ñề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn
nhà nước trong DN sau CPH tập trung trên ba nội dung: thứ nhất là ñề xuất ban
hành Nghị ñịnh của Chính phủ về Quy chế người ñại diện vốn nhà nước trong
DN sau CPH trong khi trình Quốc hội ban hành Luật quản lý vốn nhà nước ñầu
tư vào hoạt ñộng kinh doanh; thứ hai là thành lập Quỹ ñầu tư vốn nhà nước vào

các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn ñã góp vào DN. Cổ ñông
có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
hợp có quy ñịnh khác của Luật DN.
+ Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng ñược trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt
hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi ñã thực
hiện nghĩa vụ về tài chính.
CTCP phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ
ñông phổ thông. CTCP có thể có cổ phần ưu ñãi. Người sở hữu cổ phần ưu ñãi
gọi là cổ ñông ưu ñãi. Chỉ có tổ chức ñược Chính phủ uỷ quyền và cổ ñông sáng
lập ñược quyền nắm giữ cổ phần ưu ñãi biểu quyết. Ưu ñãi biểu quyết của cổ


24

ñông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty ñược cấp Giấy
chứng nhận ñăng ký kinh doanh. Sau thời hạn ñó, cổ phần ưu ñãi biểu quyết của
cổ ñông sáng lập chuyển ñổi thành cổ phần phổ thông. Cổ phần phổ thông
không thể chuyển ñổi thành cổ phần ưu ñãi. Cổ phần ưu ñãi có thể chuyển ñổi
thành cổ phần phổ thông theo quyết ñịnh của ðại hội ñồng cổ ñông.
Về quyền của cổ ñông.
Cổ ñông phổ thông có các quyền sau ñây:
+ Tham dự và phát biểu trong các ðại hội cổ ñông và thực hiện quyền
biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua ñại diện ñược uỷ quyền. Mỗi cổ phần phổ
thông có một phiếu biểu quyết.
+ ðược nhận cổ tức với mức theo quyết ñịnh của ðại hội ñồng cổ ñông.
+ ðược ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần
phổ thông của từng cổ ñông trong công ty.
+ ðược tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ ñông khác và cho
người không phải là cổ ñông, trừ trường hợp cổ ñông phổ thông sáng lập có quy
ñịnh riêng về việc chuyển nhượng.

nhuận ròng ñã thực hiện và khoản chi trả cổ tức ñược trích từ nguồn lợi nhuận
giữ lại của công ty. CTCP chỉ ñược trả cổ tức cho cổ ñông khi công ty ñã
hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy ñịnh của
pháp luật; trích lập các quỹ công ty và bù ñắp ñủ lỗ trước ñó theo quy ñịnh
của pháp luật và ðiều lệ công ty; ngay sau khi trả hết số cổ tức ñã ñịnh, công
ty vẫn phải bảo ñảm thanh toán ñủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác ñến
hạn.
Cổ tức có thể ñược chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc
bằng tài sản khác quy ñịnh tại ðiều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải
ñược thực hiện bằng ñồng Việt Nam và có thể ñược thanh toán bằng séc hoặc
lệnh trả tiền gửi bằng bưu ñiện ñến ñịa chỉ thường trú của cổ ñông.
Cổ tức có thể ñược thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng khi
công ty ñã có ñủ chi tiết về ngân hàng của cổ ñông ñể có thể chuyển trực tiếp
ñược vào tài khoản ngân hàng của cổ ñông. Nếu công ty ñã chuyển khoản theo
ñúng các thông tin chi tiết về ngân hàng như thông báo của cổ ñông thì công ty
không chịu trách nhiệm về các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển khoản ñó.


26

Hội ñồng quản trị phải lập danh sách cổ ñông ñược nhận cổ tức, xác ñịnh
mức cổ tức ñược trả ñối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất
ba mươi ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức phải ñược gửi
bằng phương thức bảo ñảm ñến ñược ñịa chỉ ñăng ký tất cả cổ ñông chậm nhất
mười lăm ngày trước khi thực hiện trả cổ tức. Thông báo phải ghi rõ tên công ty;
họ, tên, ñịa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ ñông là cá nhân; tên, ñịa chỉ
thường trú, quốc tịch, số quyết ñịnh thành lập hoặc số ñăng ký kinh doanh của
cổ ñông là tổ chức; số lượng cổ phần từng loại của cổ ñông; mức cổ tức ñối với
từng cổ phần và tổng số cổ tức mà cổ ñông ñó ñược nhận, thời ñiểm và phương

+ Trung thành với lợi ích của công ty và cổ ñông của công ty; không sử
dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng ñịa vị,
chức vụ và tài sản của công ty ñể tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá
nhân khác;
+ Thông báo kịp thời, ñầy ñủ, chính xác cho công ty về các DN mà họ và
người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối;
thông báo này ñược niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.
Tại thời ñiểm kết thúc năm tài chính, Hội ñồng quản trị phải chuẩn bị các
báo cáo và tài liệu sau ñây:
+ Báo cáo về tình hình kinh doanh của công ty;
+ Báo cáo tài chính;
+ Báo cáo ñánh giá công tác quản lý, ñiều hành công ty.
+ ðối với CTCP mà pháp luật yêu cầu phải kiểm toán thì báo cáo tài
chính hằng năm của CTCP ñã phải ñược kiểm toán trước khi trình ðại hội ñồng
cổ ñông xem xét, thông qua.
1.1.1.2. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
ðể các DNNN hoạt ñộng có hiệu quả, Nhà nước ñã tiến hành chủ trương
CPH các DNNN. Tại hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Trung ương ðảng khoá
IX ñã xác ñịnh cụ thể mục tiêu hoạt ñộng của các DNNN CPH như sau: Sắp
xếp, ñổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN ñể
DNNN góp phần quan trọng bảo ñảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu


28

của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt
ñẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện ñại hoá ñất nước theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
CPH DNNN là quá trình chuyển ñổi từ hình thức DNNN sang hình thức
CTCP. Với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì việc CPH các

thông qua thị trường chứng khoán) ñể hình thành các CTCP.
Xét về mặt bản chất, CPH chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở
hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước trong DN thành
CTCP với nhiều chủ sở hữu ñể tạo ra một mô hình DN phù hợp với nền kinh tế
thị trường và ñáp ứng ñược yêu cầu của kinh doanh hiện ñại và tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Hình thức CPH DNNN ñược quy ñịnh tại Nð 109/2007/Nð-CP ngày
26/6/2007 của Chính phủ như sau:
- Giữ nguyên VNN hiện có tại DN, phát hành cổ phiếu ñể tăng thêm vốn
ñiều lệ.
- Bán một phần VNN hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán bớt một
phần VNN vừa phat hành thêm cổ phiếu ñể tăng vốn ðiều lệ.
- Bán toàn bộ phần VNN hiện có tại DN hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ
VNN vừa phát hành thêm cổ phiếu ñể tăng vốn ðiều lệ.
1.1.1.3. Nội dung chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước
Vốn do Nhà nước ñầu tư tại DNNN là vốn cấp trực tiếp từ ngân sách nhà
nước cho DNNN khi thành lập, trong quá trình hoạt ñộng kinh doanh; VNN
ñược tiếp nhận từ nơi khác chuyển ñến theo quyết ñịnh của cơ quan có thẩm
quyền; giá trị các khoản viện trợ, quà biếu, quà tặng; tài sản vô chủ, tài sản dôi
thừa khi kiểm kê DNNN ñược hạch toán tăng VNN tại DNNN; vốn bổ sung từ
lợi nhuận sau thuế; giá trị quyền sử dụng ñất và các khoản khác ñược tính vào
VNN theo quy ñịnh của pháp luật.
Tài sản của DNNN bao gồm: tài sản cố ñịnh (tài sản cố ñịnh hữu hình, tài
sản cố ñịnh vô hình, các khoản ñầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản


30

dở dang và các khoản ký cược, ký quỹ dài hạn); tài sản lưu ñộng (tiền, các
khoản ñầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản lưu

vốn ñã ñầu tư tại DNNN khi tổ chức lại DNNN hoặc ñiều chỉnh giảm vốn ñiều
lệ của DNNN. Việc rút vốn chỉ ñược thực hiện nếu vẫn ñảm bảo khả năng thanh
toán các khoản nợ phải trả của DNNN. Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục
tăng giảm vốn ñiều lệ của DNNN.
ðối với DNNN ñược thiết kế, ñầu tư thành lập và ñăng ký kinh doanh ñể
thực hiện mục tiêu chủ yếu, thường xuyên và ổn ñịnh là cung cấp sản phẩm,
dịch vụ công ích do Nhà nước ñặt hàng giao kế hoạch hoặc ñấu thầu ñược ñại
diện chủ sở hữu ñầu tư bổ sung ñủ vốn ñể thực hiện khối lượng sản phẩm, dịch
vụ công ích.
Về giao VNN ñầu tư cho DNNN. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện việc giao VNN ñầu tư cho các công ty nhà nước mới thành lập. Việc giao
vốn phải ñược hoàn thành trong vòng 60 ngày, kể từ ngày công ty nhà nước
ñược cấp giấy chứng nhận ñăng ký kinh doanh. ðối với công ty nhà nước phải
ñầu tư và xây dựng thì việc giao vốn thực hiện trong vòng 60 ngày, kể từ khi
công ty nhà nước ñi vào hoạt ñộng kinh doanh.
- Bên giao vốn theo quy ñịnh: Bộ Tài chính ñối với các DNNN do Thủ
tướng Chính phủ quyết ñịnh thành lập; Bộ quản lý ngành ñối với DNNN do Bộ,
ngành quyết ñịnh thành lập; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (sau ñây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ñối với các DNNN do
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết ñịnh thành lập.
- Bên nhận vốn theo quy ñịnh: Chủ tịch Hội ñồng quản trị ñối với DNNN
có Hội ñồng quản trị; Giám ñốc ñối với DNNN không có Hội ñồng quản trị.


32

Quyền và nghĩa vụ của DNNN trong việc sử dụng vốn và quỹ do DNNN
quản lý:
+ DNNN ñược quyền chủ ñộng sử dụng số VNN giao, các loại vốn khác,
các quỹ do DNNN quản lý vào hoạt ñộng kinh doanh của DNNN. DNNN chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status