Tiềm Năng Phát Triển Quan Hệ Thương Mại Và Đầu Tư Song Phương Việt Nam – CHLB Đức Và Các Giải Pháp Thúc Đẩy - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VÀ ĐẦU TƯ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – CHLB ĐỨC
VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
Họ và tên sinh viên: Phạm Tài Nguyên
Mã sinh viên: 0851020167
Lớp: Nhật 4 – Khối 5 KT
Khóa: 47
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Thị Xuân Hường

Hà Nội, tháng 05 năm 2012


Mục lục
Lời mở đầu............................................................................................................................1
Chương 1. Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB Đức....3
1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và CHLB Đức..3
1.1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ ngoại giao, kinh tế - xã hội giữa hai nước.................3
1.1.2. Sơ lược về quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước.........................................4
1.2. Phát triển quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức là xu thế tất yếu..........9
1.2.1. Vài nét lịch sử về nền kinh tế CHLB Đức............................................................9
1.2.2. Xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – CHLB Đức..........13
1.3. Những cơ sở cho sự phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam –
CHLB Đức...........................................................................................................................15
1.3.1. Những cơ sở chung cho mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – EU..................15
1.3.2. Những cơ sở riêng của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – CHLB Đức..............17

3.2.1. Những giải pháp, chính sách vĩ mô....................................................................57


3.2.2. Những giải pháp, chính sách vi mô....................................................................62
3.2.3. Một số giải pháp khác........................................................................................66
Kết luận...............................................................................................................................68
Tài liệu tham khảo.............................................................................................................69


Danh sách các từ viết tắt
Chữ viết tắt
ASEAN
CHLB
EC
EU
FDI
FTA
GDP
GSP
KFW
ODA
PCA
S&D

Tiếng Anh
Association of Southeast Asian

Tiếng Việt
Hiệp hội các quốc gia Đông



Ưu đãi thuế quan phổ cập
Ngân hàng Tái thiết Đức
Viện trợ phát triển
Hiệp định đối tác và hợp tác toàn
diện
Đối xử đặc biệt và khác biệt

Vietnam Chamber of

Trách nhiệm hữu hạn
Phòng Thương mại và công

Commerce and Industry
World Bank
World Trade Organization

nghiệp Việt Nam
Ngân hàng thế giới
Tổ chức Thương mại thế giới


1

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu định hình nên
nền kinh tế và thương mại toàn cầu. Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam –
một quốc gia đang phát triển đã có những bước đi mạnh mẽ và dần dần hội nhập sâu
rộng hơn với kinh tế toàn cầu. Điều đó đang tạo đà thúc đẩy cho Việt Nam đạt được

tác khoa học công nghệ, giao lưu văn hóa, giáo dục…
4. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận được xây dựng dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học:
phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh, phương
pháp quy nạp.
5. Cấu trúc khóa luận.
Chương 1: Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – CHLB
Đức.
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam
– CHLB Đức từ 2005 – nay.
Chương 3: Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương
Việt Nam – Đức.
Do khuôn khổ đề tài và khả năng bản thân còn giới hạn nên bài khóa luận sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em mong thầy cô thông cảm và đóng
góp ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Hường, giảng viên khoa Kinh tế và
kinh doanh quốc tế trường đại học Ngoại Thương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
đề tài khóa luận tốt nghiệp này.


3

Chương 1. Khái quát về quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt
Nam – CHLB Đức.
1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt
Nam và CHLB Đức.
1.1.1. Vài nét về lịch sử quan hệ ngoại giao, kinh tế - xã hội giữa hai nước.
Việt Nam và CHLB Đức chính thức thiết lập quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ
ngày 23/9/1975. Thời gian đầu mối quan hệ chính trị giữa hai nước chỉ phát triển
một cách chậm chạp, vì trong các vấn đề liên quan đến CHLB Đức và châu Âu Việt

Về lĩnh vực đầu tư, từ những năm 1990 khi bắt đầu mở cửa, Việt Nam đã thu
hút được mối quan tâm lớn từ các nhà đầu tư CHLB Đức với các dự án hợp tác đầu
tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, thủy điện, thiết bị y tế… đến nay đầu tư của CHLB
Đức khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác như chế biến chế tạo, công nghiệp phụ
trợ, công nghệ thông tin, các ngành dịch vụ… Những dự án đầu tư của CHLB Đức
có tầm quan trọng trong sự phát triển các ngành kinh tế Việt Nam theo hướng hiện
đại. Có thể kể đến các đại diện tiêu biểu như:
- Công ty TNHH Siemens Việt Nam.
Bắt đầu vào thị trường Việt Nam từ năm 1979 khi cung cấp và lắp đặt hai tua
bin khí công nghiệp và thiết bị điện cho Công ty giấy Bãi Bằng, nhưng công ty thực
sự mở rộng hoạt động kinh doanh từ năm 1989 với việc xây dựng đường truyền số
kết nối Hà Nội, Đà Nẵng với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, với tốc độ truyền
140 Mbits/giây. Năm 1993 Siemens khai trương văn phòng đại diện tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi thành lập tại Việt Nam, Siemens đã tham gia vào
nhiều dự án về cơ sở hạ tầng của Việt Nam như cung cấp hai hệ thống chụp cộng
hưởng từ đầu tiên năm 1996, cung cấp hệ thống điệu trị bệnh ung thư tiên tiến nhất
cho bệnh viện K tại Hà Nội năm 2000… Hiện Siemens hoạt động trong nhiều lĩnh
vực trọng yếu của nền kinh tế quốc gia như năng lượng, công nghiệp, y tế và cơ sở
hạ tầng. Siemens đang từng bước khẳng định vị trí là nhà cung cấp giải pháp toàn
diện hàng đầu thế giới, sẵn sàng cung cấp giải pháp cho mọi thách thức của Việt
Nam.
Năm 2002, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Siemens Việt Nam chính thức được
thành lập. Hoạt động trên 3 lĩnh vực chính là công nghiệp (tự động hóa công
nghiệp, công nghệ truyền động, giải pháp công nghiệp, công nghệ tòa nhà, giao
thông và vận chuyển, chiếu sáng OSRAM); năng lượng (năng lượng hóa thạch và
tái tạo, dầu khí, dịch vụ năng lượng, truyền tải điện, phân phối điện); y tế (chẩn
đoán hình ảnh và giải pháp công nghệ thông tin, quy trình thăm khám và giải pháp,
chẩn đoán xét nghiệm), Siemens Việt Nam luôn đi tiên phong trong cung cấp các
thiết bị, công nghệ hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, hiệu suất công nghiệp cao, giải


những công ty thương mại quốc tế lớn hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ có
trụ sở tại Dusseldorf CHLB Đức. Metro Cash & Carry hiện đang có mặt tại 29 quốc
gia với hơn 650 trung tâm bán sỉ. Với hơn 100.000 nhân viên trên toàn thế giới,
năm 2008 công ty đạt doanh số 33.1 tỷ Euro. Tiếp theo sự thành công của mô hình


7

Cash & Carry trên toàn thế giới, công ty Metro tiếp tục mang những lợi ích của mô
hình này đến Việt Nam. Metro Cash & Carry bắt đầu hoạt động phân phối tại Việt
Nam năm 2002. Bốn trung tâm phân phối được khánh thành đầu tiên, hai tại
TP.HCM vào ngày 28/03/2002 (Metro Bình Phú) và 05/12/2002 (Metro An Phú),
một tại thủ đô Hà Nội vào ngày 30/07/2003 (Metro Thăng Long) và một trung tâm
khác tại thành phố Cần Thơ vào ngày 23/12/2004(Metro Hưng Lợi). Tiếp theo đó sẽ
là sự ra đời hàng loạt các trung tâm Metro ở các thành phố lớn khác. Hiện nay công
ty có 17 trung tâm bán bán sỉ cash & carry tại TP. HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ, Biên Hoà - Đồng Nai, An Giang, Bình Định, Bình Dương, Quảng
Ninh, Vũng Tàu, Vinh, Nha Trang, Buôn Ma Thuột và hai trạm trung chuyển phân
phối tại Bình Dương và Lâm Đồng.
Công ty có mô hình kinh doanh đơn giản và hiệu quả. Phân phối sỉ cash &
carry được định nghĩa trên cơ sở đối tượng khách hàng: chỉ có khách hàng làm kinh
doanh mới được mua hàng tại Metro Cash & Carry, tất cả khách hàng cần được
đăng ký và được cấp thẻ khách hàng. Điều này có nghĩa Metro Cash & Carry không
phục vụ nhu cầu người tiêu dùng cá nhân. Trung tâm Metro Cash & Carry không
phải là một siêu thị hay chuỗi đại siêu thị dành cho tiêu dùng cá nhân mà là mô hình
bán sỉ hiện đại, được thiết kế theo nhu cầu của các công ty và doanh nghiệp. Khách
hàng trọng tâm là những nhà buôn lẻ, nhỏ và vừa như các khách sạn, nhà hàng và
nhà cung cấp suất ăn công nghiệp. Công ty cung cấp cho khách hàng kinh doanh
danh mục hàng hoá đa dạng, phong phú với việc cung cấp hơn 7,000 mặt hàng thực
phẩm và hơn 8,000 mặt hàng phi thực phẩm, được đóng gói theo những kích cỡ

Đây là Trung tâm công nghệ và phần mềm đầu tiên của Tập đoàn Bosch ở Khu vực
Đông Nam Á. RBVH là cơ sở mở rộng của Công ty Robert Bosch Engineering and
Business Solutions (RBEI) tại Ấn Độ, có vốn đầu tư ban đầu là 4,5 triệu USD.
RBVH chủ yếu cung cấp phần mềm kỹ thuật cao và các giải pháp kỹ thuật như phần
mềm nhúng, thiết kế cơ khí và nhiều dịch vụ khác trong lĩnh vực công nghệ thông
tin. Hoạt động của RBVH còn được biết đến với một số dự án phần mềm cho các hệ
thống kiểm soát điện tử dầu và xăng, hệ thống thắng và các dự án quản trị thông tin
trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp…
Theo Tổng Giám đốc RBVH - Ông Sudhakar Kunte, RBVH sẽ phát triển cơ sở
hạ tầng, tuyển dụng, đào tạo nhân sự tại địa phương, góp phần vào các chương
trình, dự án kế hoạch góp phần đưa Việt Nam ngày càng phát triển, như một trung
tâm phần mềm lớn trong khu vực Đông Nam Á. Với sự có mặt của RBVH đã minh
chứng Việt Nam không chỉ là điểm đến của gia công lắp ráp mà còn mở ra rất nhiều
hoạt động khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin.


9

Về đầu tư của Việt Nam tại CHLB Đức hiện nay còn thấp với một số dự án
trong lĩnh vực dịch vụ, tuy nhiên trong thời gian tới hứa hẹn sẽ có nhiều doanh
nghiệp Việt Nam quan tâm và đầu tư tại CHLB Đức nhờ những hợp tác chiến lược
giữa hai nước.
CHLB Đức cũng là một nhà viện trợ phát triển (ODA) lớn cho Việt Nam. Từ
năm 1990 CHLB Đức bắt đầu viện trợ phát triển cho Việt Nam với số vốn từ hàng
chục tới hàng trăm triệu Mác Đức (đơn vị tiền tệ của CHLB Đức) với trọng tâm là
hỗ trợ cải cách kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường; hỗ trợ ngành y tế; hỗ trợ phát
triển môi trường và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong bối cảnh
khó khăn chung của nền kinh tế thế giới hiện nay, Đức cam kết viện trợ phát triển
400 triệu USD cho Việt Nam.
Theo Tuyên bố chung Hà Nội (2011) mà thủ tướng chính phủ hai nước đã đặt

năm 1990 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Đức đã bị suy giảm, do ảnh hưởng
của sự suy thoái toàn cầu và do những chi phí rất lớn để sắp xếp lại dân cư và
những ngành công nghiệp không hiệu quả của Đông Đức cũ khi hai miền được hợp
nhất.
Hiện nay, CHLB Đức là nền kinh tế lớn nhất khối EU và thứ 4 thế giới, là
quốc gia luôn có những bước tiến vững chắc trong phát triển kinh tế với GDP tăng
trưởng bình quân 1% trong giai đoạn 2005-2010 trong đó năm 2009 tăng trưởng
-5% do suy thoái kinh tế và phục hồi mạnh mẽ vào năm 2010 với mức tăng trưởng
ấn tượng 3,3%.
Mộộ̣t số chỉ số cơ bản năm 2010
81.702 Xếp hạng
35.679 thế giới
Thu nhập bình quân người (USD)
3.309.669
4
GDP (triệu USD)
1.268.874
3
Xuất khẩu hàng hóa (triệu USD)
1.066.839
3
Nhập khẩu hàng hóa (triệu USD)
232.394
2
Xuất khẩu dịch vụ (triệu USD)
259.737
2
Nhập khẩu dịch vụ (triệu USD)
Nguồn: WTO – 10/2011
Dân số (nghìn người)

nước Đức là trong ngành sản xuất xe hơi chất lượng cao. Có lẽ các nhãn mác xe hơi


12

sang trọng nhất thế giới ngày nay hầu như đều có nguồn gốc từ Đức: Bayerische
Motoren Werke AG (BMW), DaimlerChrysler AG (Mercedes-Benz), Porsche,
Audi, Volkswagen, Bugatti, Lamborghini, Mini, Rolls-Royce, Bentley…
Các ngành công nghiệp quan trọng khác gồm chế tạo máy bay, máy xây dựng, máy
móc nông nghiệp, máy phát điện, điện tử, các thiết bị văn phòng. Mặc dù có những
ngành công nghiệp rất thành công, song một số ngành truyền thống, chẳng hạn như
luyện thép và đóng tàu, lại đang sa sút nghiêm trọng. Sự cạnh tranh từ Nhật và công
nghệ mới đã làm giảm lợi nhuận của nước Đức. Đức là trụ sở chính của nhiều công
ty đa quốc gia khổng lồ như BASF, Robert Bosch GmbH, Deutsche Telekom và
Siemens AG. Tuy có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng xuơng sống của kinh
tế Đức lại là các công ty loại trung với quy mô dưới 1000 nhân viên. Hiện nay Đức
là một trong số các nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa.
- Dịch vụ: Lĩnh vực dịch vụ đã tăng đều đặn trong những năm gần đây và hiện đóng
góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội gồm cả du lịch. Năm 2004, lượng
khách nước ngoài đến Đức du lịch nhiều nhất là từ Hà Lan, kế đó là Vương quốc
Anh và Mỹ. Frankfurt là trung tâm ngân hàng của nước Đức và là trung tâm tài
chính lớn trên thế giới. Thị trường chứng khoán Frankfurt cũng là một trong những
thị trường chứng khoán hàng đầu trên thế giới.
- Thương mại: Tổng mức bán buôn của Cộng hoà Liên bang Đức liên tục tăng lên.
Doanh số bán lẻ cũng ngày càng tăng và hình thức doanh nghiệp tự bán hàng đang
thay thế ngày càng nhiều cho các cơ sở trong ngành thương nghiệp bán lẻ truyền
thống. Ngoại thương là một trong những nhân tố chủ yếu trong sự thành công của
kinh tế Đức. Đức là một trong số các quốc gia xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế
giới , xuất khẩu đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế Đức chiếm 1/3 sản lượng
quốc gia. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Đức gồm máy móc, hàng điện tử, ô tô,

Đi cùng với đó thì sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự vươn ra tầm quốc
tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong sân chơi khu vực và toàn cầu đang diễn ra
nhanh chóng hơn bao giờ hết. Một nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu với giá trị
kim ngạch lên tới 69% GDP vào năm 2008 (64% năm 2009 và 61% năm 2005)
(theo VCCI) thì một thị trường như CHLB Đức là một trong số mục tiêu quan trọng
cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Là quốc gia có thế mạnh to lớn về
nông nghiệp thì các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đã thâm nhập và chiếm
lĩnh hầu hết các thị trường lớn trên thế giới. Trong đó thì liên minh châu Âu là một
trong số các đối tác lớn và quan trọng bậc nhất của Việt Nam. Và trong số các quốc
gia thành viên EU thì xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức chiếm tỷ trọng cao,


14

bằng nhiều nước châu Âu cộng lại, điều đó cho thấy vai trò và tiềm năng vô cùng to
lớn của nền kinh tế lớn nhất EU này với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Mặt
khác các doanh nghiệp Việt Nam đang dần có những bước tiến ra khu vực và thế
giới và Đức chắc chắn sẽ là một trong số các địa điểm đầu tư hấp dẫn với các doanh
nghiệp Việt Nam. Chuyến viếng thăm của Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel hồi
tháng 10/2011 là sự khẳng định và nâng tầm quan hệ đầy ý nghĩa trong sự phát triển
quan hệ thương mại, đầu tư song phương giữa hai nước.
Mặt khác trong những năm qua, CHLB Đức đặc biệt quan tâm tới phát triển
quan hệ đối tác với các nước châu Á, đặc biệt là các quốc gia tại khu vực châu Á
Thái Bình Dương và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một trong
những khu vực kinh tế năng động bậc nhất thế giới. Nằm trong số đó, lại có tốc độ
tăng trưởng kinh tế nhanh, Việt Nam là điểm đến vô cùng hấp dẫn cho các nhà đầu
tư đến từ CHLB Đức với mức độ ổn định về chính trị cao, được hưởng nhiêu ưu đãi
của chính phủ dành cho các nhà đầu tư nước ngoài, người dân cần cù, ham học hỏi
và chính sách luôn mở cửa đón đầu tư thì cơ hội cho các nhà đầu tư CHLB Đức là
rất lớn. Hơn nữa với trình độ phát triển cao, nằm trong số các quốc gia phát triển

- Hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế và tiến tới một
nền kinh tế thị trường.
- Bảo vệ môi trường.
Hiệp định khung là tiền đề thiết lập Ủy ban Hỗn hợp EC - Việt Nam, một diễn
đàn cho các hội đàm cao cấp về sự phát triển kinh tế và chính trị, bao gồm cả những
tiến bộ của các cải cách kinh tế, hành chính, luật pháp và pháp lý của Việt Nam và
việc thực hiện các chương trình hợp tác của Liên minh Châu Âu, là cơ sở cho quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực liên minh châu Âu.
1.3.1.2. Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam – Liên minh châu
Âu (EU).
Nếu Hiệp định khung quan hệ hợp tác Việt Nam - EC ký năm 1995 được xây
dựng dựa trên mối quan hệ giữa một bên là các nước cung cấp viện trợ phát triển và
một bên là nước nhận viện trợ thì Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) là


16

Hiệp định tổng thể được xây dựng giữa hai bên đối tác bình đẳng, có nhiều lợi ích
gắn bó với nhau. Hiệp định được ký tắt năm 2010 sau hơn 2 năm đàm phán.
Qua 9 vòng đàm phán và nhiều cuộc trao đổi kỹ thuật, hai bên đã thỏa thuận
và ký tắt PCA với 8 chương, 65 điều, trong đó khẳng định các nguyên tắc cơ bản
của quan hệ hai bên, xác định khuôn khổ hợp tác toàn diện trong tất cả các lĩnh vực,
từ hợp tác phát triển, thương mại, đầu tư, đến hợp tác tư pháp, bảo vệ hòa bình, an
ninh quốc tế, khoa học công nghệ, nghiên cứu, hợp tác chuyên ngành... PCA cho
thấy hai bên rất coi trọng lĩnh vực hợp tác phát triển và thương mại, đầu tư khi dành
2 chương riêng cho những lĩnh vực này. Về thương mại - đầu tư, hai bên đạt được
các thỏa thuận quan trọng cho phép Việt Nam có thể tiếp cận thuận lợi hơn thị
trường EU như: cam kết tăng cường tham vấn tăng hiệu quả sử dụng các ưu đãi của
chế độ GSP, dành cho Việt Nam sự đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D), hợp tác
hướng tới sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. PCA sẽ tạo điều kiện

cạnh tranh của các doanh nghiệp hai bên. Đồng thời việc ký kết này sẽ giúp cho vị
trí của Việt Nam được cải thiện nhiều trên kinh tế thế giới, tăng cường khả năng
xuất khẩu khi mà nhiều mặt hàng quan trọng của Việt Nam không còn được hưởng
ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) .
Nhận xét:
Những cơ sở quan trọng trong mối quan hệ hợp tác với EU này cũng đồng thời
là cơ sở không thể thiếu khi Việt Nam muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại
và đầu tư với bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, đặc biệt là CHLB Đức, nền kinh tế
lớn nhất EU. Đây là những tiền đề cho sự phát triển quan hệ hợp tác của Việt Nam
với CHLB Đức, đồng thời thúc đẩy hai nước tiến tới những quan hệ hợp tác sâu
rộng hơn.

1.3.2. Những cơ sở riêng của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – CHLB Đức.
Việt Nam và CHLB Đức chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày
23/09/1975. Trong những năm qua, quan hệ giữa hai nước phát triển tốt đẹp, không
ngừng được củng cố và mở rộng cùng với sự trao đổi nhiều đoàn cấp cao. Trong các
cuộc trao đổi, tiếp xúc, phía Đức luôn hoan nghênh và ủng hộ đường lối đổi mới
của Việt Nam, đánh giá cao vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên
trường quốc tế. Việt Nam là một đối tác quan trọng của CHLB Đức trên nhiều lĩnh
vực. Việt Nam coi trọng và đánh giá cao vai trò và vị trí của Đức - “trái tim châu
Âu” - trong EU và trên thế giới. Quan hệ ngoại giao, chính trị tốt đẹp giữa Việt
Nam và Đức là nền tảng vững chắc để hai nước thúc đẩy, tăng cường quan hệ kinh


18

tế, thương mại và đầu tư. Điều đó được khẳng định bằng một số những văn bản,
hiệp định:
1.3.2.1. Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau.
Được ký kết ngày 03/04/1993, đây là Hiệp định đầu tiên giữa Việt Nam và


của chuyến viếng thăm này là “Tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam - Đức - đối tác
chiến lược vì tương lai" hai nước ký ngày 11/10/2011 tại Hà Nội nhằm khẳng định
và nâng tầm quan hệ hai nước lên tầm cao mới.
Nhận xét:
Mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước được xây dựng
khá lâu dài, bền vững trên những cơ sở của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với EU
nói chung và CHLB Đức nói riêng. Từ những cơ sở đó, mối quan hệ hợp tác giữa
hai nước đang phát triển không ngừng và hứa hẹn sẽ có nhiều chuyển biến tích cực
và mở rộng nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu khi mà Hiệp định thương
mại tự do (FTA) Việt Nam – EU đang được thúc đẩy các vòng đàm phán. Hơn thế
nữa, tầm cao quan hệ “đối tác chiến lược vì tương lai” giữa Việt Nam và CHLB
Đức đã được khẳng định bằng chuyến viếng thăm của Thủ tướng Đức tới Việt Nam
vào tháng 10/2011. Tất cả điều này sẽ tạo đà thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại
và đầu tư song phương giữa hai nước.


20

Chương 2. Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư song
phương Việt Nam – CHLB Đức giai đoạn 2005 - nay.
2.1. Thực trạng quan hệ thương mại song phương Việt Nam –
CHLB Đức.
Kể từ khi thiết lập quan hê ngoại giao, quan hệ thương mại Việt Nam và Đức
ngày càng có xu hướng phát triển nhanh chóng, đặc biệt là từ khi Việt Nam chính
thức gia nhập WTO, quan hệ thương mại Việt Nam – CHLB Đức càng có cơ hội
phát triển mạnh mẽ hơn.

2.1.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều.
Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam – CHLB Đức gia tăng đều

3.366,9

914,5 1.308,4 1.480,0 1.589,2 1.742,4

2.198,5

1.749,2 2.359,8 3.163,5 3.553,4 3.474,7 4.115,1

5.565,4

Nguồn: Tổng cục thống kê và phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI –hồ
sơ thị trường Đức).
Trong khoảng thời gian từ 2005-2010, xuất khẩu của Việt Nam sang Đức tăng
trưởng hàng năm khoảng từ 200-500 triệu USD thì trong năm 2011, xuất khẩu tăng


21

khoảng 1 tỷ USD so với 2010, là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay, góp phần đưa
kim ngạch thương mại hai chiều tăng hơn 1,4 tỷ USD so với năm trước. Giải thích
cho điều này có thể xuất phát từ những vấn đề nội tại của liên minh châu Âu và
Eurozone(khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu), đó là tình hình nợ công tại
Hy Lạp và nhiều nước lớn tại châu Âu đang diễn ra phức tạp, nhiều nước buộc phải
áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng” dẫn tới nhu cầu tiêu dùng của người dân
trong nước giảm và giảm nhập khẩu hàng hóa. Do đó mà các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam phải tìm những thị trường thay thế mà Đức là một thị trường quan
trọng trong EU vẫn đứng vững trước cơn bão nợ công tại khu vực này, nhu cầu đối
với hàng hóa vẫn tăng.
Trong liên minh châu Âu EU, CHLB Đức là đối tác thương mại số một của
Việt Nam, chiếm hơn 20% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang EU và hơn 28%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status